Tôi đưa ra những suy tưởng mơ hồ và chưa ngã ngũ, giống như những người cho công bố các vấn đề còn bỏ ngỏ để rồi sau đó tranh biện tại các học đường, không phải để xác lập chân lý mà là để tìm kiếm nó; và tôi xin phó thác chúng trước phán quyết của những vị có chức trách không chỉ đối với bài viết và hành vi của tôi, mà hơn thế nữa, ngay cả những ý nghĩ sâu kín nhất. Dù những dòng tôi ghi lại nơi đây vấp phải sự quở trách hay lời tán dương, đối với tôi đều có giá trị và ích lợi ngang nhau, bởi tự thân tôi đã sớm lên án là ngô nghếch và bất kính nếu có điều gì, do vô tri hoặc sơ suất, lẩn khuất trong tập sách tạp văn này mà trái với những sắc lệnh và quy định thánh thiêng của Giáo hội Công giáo Rôma, nơi tôi đã sinh ra và sẽ từ trần.
Thế nhưng, vẫn luôn tuân phục thẩm quyền phán quyết của Giáo hội — quyền lực tuyệt đối chi phối tôi —, tôi cứ liều lĩnh dấn thân vào mọi vấn đề, chẳng hạn như khi bàn về chủ đề hiện tại này.
Tôi chẳng biết mình có lầm lỗi hay không, nhưng từ khi, nhờ đặc ân của lòng nhân từ thiêng liêng, một hình thức cầu nguyện nhất định đã được truyền dạy và phán bảo cho chúng ta, từng câu từng chữ, từ chính miệng Đức Chúa Trời, tôi vẫn luôn cho rằng chúng ta phải sử dụng nó thường xuyên hơn nữa; và nếu tôi đủ tư cách để khuyên bảo, thì khi ngồi vào bàn ăn cũng như lúc đứng dậy, khi thức dậy lẫn lúc đi ngủ, và trong mọi hành động cụ thể có dùng đến lời cầu nguyện, tôi ước chi các Kitô hữu luôn luôn dùng Kinh Lạy Cha, nếu không dùng riêng thì ít ra cũng luôn luôn kèm theo nó. Giáo hội có thể kéo dài và làm phong phú các lời cầu nguyện theo nhu cầu giáo huấn của chúng ta, bởi tôi thừa hiểu rằng về mặt bản chất, chúng vẫn luôn là một và cùng một nội dung: thế nhưng, cần phải dành cho lời cầu nguyện ấy một đặc ân sao cho muôn dân luôn ngậm ngứa nó trên môi miệng; vì chắc chắn rằng mọi lời khẩn cầu thiết yếu đều đã thâu tóm trong đó, và nó vô cùng thích hợp cho mọi hoàn cảnh. Đó là lời kinh duy nhất tôi sử dụng ở mọi nơi và trong mọi trạng thái, và tôi vẫn lặp đi lặp lại thay vì thay đổi; cũng chính vì thế mà tôi không thuộc nằm lòng bất cứ lời kinh nào khác trọn vẹn bằng kinh ấy.
Chợt lúc này đây, tôi tự hỏi từ đâu mà chúng ta lại vướng vào cái sai lầm là cầu cứu Thiên Chúa trong mọi mưu tính và công việc của mình, thỉnh cầu Ngài trợ giúp trong muôn vàn sự vụ, ở mọi nơi mà sự yếu đuối của chúng ta cần được nâng đỡ, bất luận hoàn cảnh đó là chính đáng hay không; và cất tiếng kêu danh cùng uy quyền của Ngài, dù chúng ta đang ở trong trạng thái nào, hay đang dấn thân vào hành động gì, dẫu có đồi bại đến đâu. Ngài quả thật là đấng bảo trợ duy nhất của chúng ta, và có thể làm mọi sự cho chúng ta: nhưng dẫu Ngài vui lòng tôn vinh chúng ta bằng mối liên kết làm cha ngọt ngào ấy, thì Ngài vẫn công minh dường nào cũng nhân từ và quyền năng dường ấy; và Ngài thường thực thi công lý nhiều hơn là quyền năng, ban ơn cho chúng ta theo công lý ấy chứ không theo những lời khẩn cầu của chúng ta.
Trong bộ Pháp luật (Laws), Plato nêu ra ba loại quan điểm gây tổn hại đến các vị thần: “rằng các thần không hề hiện hữu; rằng các thần chẳng màng đến công việc của chúng ta; rằng các thần không bao giờ từ chối bất cứ điều gì trước những lời khấn vầu, lễ vật và tế phẩm của chúng ta.” Lỗi lầm thứ nhất (theo quan điểm của ông, chưa từng bén rễ sâu trong bất kỳ ai từ thuở lọt lòng đến lúc tuổi già); còn hai lỗi lầm sau, ông thú nhận rằng con người có thể cố chấp bám lấy.
Công lý và quyền năng của Thiên Chúa là không thể tách rời; thật vô ích khi chúng ta viện đến quyền năng của Ngài trong một vụ việc bất chính. Tâm hồn chúng ta phải tinh tuyền và thanh sạch, ít là vào khoảnh khắc chúng ta cầu nguyện với Ngài, và được thanh tẩy khỏi mọi đam mê đồi bại; bằng không, chính chúng ta đang dâng roi vọt cho Ngài để trừng phạt mình; thay vì sửa chữa những lỗi lầm đã qua, chúng ta lại nhân đôi tội ác và sự xúc phạm khi dâng lên Ngài — Đấng mà ta phải van xin ơn tha thứ — một cõi lòng đầy dẫy sự bất kính và căm hận. Điều đó khiến tôi không dễ gì tán dương những kẻ mà tôi thấy thường xuyên quỳ gối, nếu như những hành động diễn ra ngay sau lời cầu nguyện ấy không cho tôi dấy lên chút bằng chứng về sự cải hóa và đổi mới:
Và hành vi của một kẻ dung dưỡng lòng sùng đạo giữa một cuộc đời đồi bại xem ra còn đáng lên án hơn cả kẻ sống thuận theo bản năng sa đọa và buông thả của mình; chính vì thế mà Giáo hội chúng ta từ chối tiếp nhận và hiệp thông với những kẻ ngoan cố, không thể uốn nắn trong bất kỳ thói hư tật xấu tai tiếng nào. Chúng ta cầu nguyện chỉ theo thói quen và hình thức; hay đúng hơn, chúng ta đọc hoặc xướng lên những lời cầu nguyện một cách lớn tiếng, chẳng khác nào một màn biểu diễn sùng đạo giả hình; và tôi lấy làm phẫn nộ khi thấy một người làm dấu thánh ba lần trước bữa ăn (Benedicite) và cũng ngần ấy lần tạ ơn (hơn thế nữa, bởi đó là một dấu thánh mà tôi vô cùng tôn sùng và hằng sử dụng, ngay cả khi tôi ngáp), rồi lại dành trọn những giờ khắc còn lại trong ngày cho những hành vi hiểm độc, tham lam và bất công. Một giờ cho Thiên Chúa, phần còn lại cho quỷ dữ, cứ như thể một cuộc giao kèo và đền bù. Thật lấy làm lạ khi thấy những hành động vốn vô cùng khác biệt ấy lại nối tiếp nhau theo một thứ phương thức đều đặn đến mức chúng không hề xung đột hay chịu bất kỳ sự biến đổi nào, ngay cả ở chính ranh giới và lối đi chuyển giao từ cái này sang cái kia. Thật là một thứ lương tâm quái đản làm sao khi có thể bình thản trong cõi lòng trong khi dung túng dưới cùng một mái nhà, với một cộng đồng hòa hợp và điềm tĩnh đến thế, cả tội ác lẫn vị thẩm phán!
Một kẻ mà tâm tư suy tưởng suốt ngày không ngớt xoay quanh sự ô uế — điều mà hắn thừa biết là vô cùng gớm ghiếc trước mặt Thiên Chúa Toàn Năng —, thì hắn có thể thưa gì khi đến trước Ngài? Hắn lùi bước nhưng rồi ngay lập tức tái phạm. Nếu đối tượng của công lý thiêng liêng và sự hiện diện của Đấng Tạo Hóa thực sự, như hắn vẫn biện bạch, đánh động và trừng phạt tâm hồn hắn, thì dẫu sự ăn năn có ngắn ngủi đến đâu, nỗi sợ hãi xúc phạm đến Đấng Tối Cao Vô Hạn ấy cũng sẽ hiện lên trong trí tưởng tượng của hắn thường xuyên đến mức hắn sẽ sớm thấy mình làm chủ được những thói hư tật xấu vốn tự nhiên và mãnh liệt nhất trong con người mình. Nhưng chúng ta sẽ nói gì về những kẻ sắp đặt toàn bộ lối sống của mình dựa trên lợi lộc và hoa lợi của những tội trọng mà chúng thừa biết? Có bao nhiêu ngành nghề và sứ mệnh mà chúng ta đã dung dưỡng và thừa nhận, trong khi bản chất của chúng lại là đồi bại? Và kẻ nọ, khi xưng tội với tôi, đã tự nguyện thổ lộ rằng suốt cuộc đời hắn đã tôn xưng và thực hành một tôn giáo mà theo hắn là đáng nguyền rủa và trái ngược với những gì hắn hằng ấp ủ trong tim, chỉ để giữ gìn uy tín và danh dự cho chức vị của mình, thì làm sao can đảm hắn có thể chịu đựng được một lời thú tội đáng hổ thẹn đến thế? Con người có thể nói gì với công lý thiêng liêng về vấn đề này?
Vì sự ăn năn của họ không đi kèm với một sự đền bù rõ ràng và hiển hiện, nên họ đánh mất cả cái cớ để biện bạch với Thiên Chúa lẫn con người. Lẽ nào họ lại trơ trẽn đến mức van xin ơn tha thứ mà không hề đền tội cũng chẳng chút sám hối? Tôi xem những kẻ này cũng một giuộc với nhóm đầu tiên; chỉ có điều sự ngoan cố của họ không dễ gì lay chuyển. Sự trái ngược và thói lật lọng, thay đổi chóng mặt đến thế, bạo liệt đến thế mà họ ngụy tạo, đối với tôi tựa như một thứ phép lạ: chúng phơi bày trước mắt chúng ta trạng thái giãy giụa không thể tiêu hóa nổi của tâm trí.
Đối với tôi, đó là một thứ tưởng tượng kỳ quặc của những kẻ, trong những năm gần đây, thường quở trách bất kỳ ai họ quen biết vốn có tài năng xuất chúng và tuyên xưng đạo Công giáo, rằng sự tuyên xưng ấy chỉ là vẻ bề ngoài; hơn thế nữa, họ còn quả quyết — với cái gọi là để tôn vinh người ấy — rằng dù đối phương có ngụy biện thế nào đi nữa thì tận đáy lòng, kẻ đó không thể tránh khỏi việc ngả theo giáo phái cải cách của họ. Thật là một căn bệnh oái oăm khi một người lại bị đóng đinh chặt chẽ vào đức tin của chính mình đến mức tưởng tượng rằng kẻ khác không thể tin khác đi ngoài điều bản thân họ tin; và còn tồi tệ hơn nữa khi họ nuôi dưỡng một cái nhìn đồi bại về những tài năng lớn lao đến độ cho rằng bất kỳ ai có phẩm chất ấy đều có thể đánh đổi phần thưởng sự sống đời đời và hình phạt đả hỏa ngục để lấy bất kỳ lợi lộc trần thế trước mắt nào. Họ có thể tin tôi đây: nếu có điều gì đủ sức cám dỗ tuổi trẻ của tôi, thì hoài bão về hiểm nguy và những khó khăn trong các cuộc nổi loạn vừa qua chắc chắn không phải là động cơ nhỏ nhất.
Theo quan điểm của tôi, không phải không có lý do chính đáng mà Giáo hội cấm đoán việc sử dụng bừa bãi, thiếu thận trọng và bất kính những Thánh vịnh linh thiêng và thần diệu mà Chúa Thánh Thần đã truyền cảm hứng cho Vua David. Chúng ta không được phép lôi Thiên Chúa vào những hành vi của mình nếu không có sự tôn kính và cẩn trọng tột độ; thơ ca ấy quá đỗi linh thiêng để không thể dùng vào mục đích nào khác ngoài việc luyện phổi và làm vui tai người nghe; nó phải xuất phát từ cõi lòng, chứ không phải từ cửa miệng. Thật không phải phép khi một tên tiểu thương trong cửa hiệu của mình, giữa những suy nghĩ tầm phu vẩn vơ, lại được phép dùng những điều thánh thiện ấy để tiêu khiển và giải trí. Cũng chẳng đoan trang gì khi chứng kiến Sách Thánh về những mầu nhiệm cao cả trong đức tin của chúng ta bị chuyền tay ngược xuôi trong một sảnh đường hay góc bếp: thuở trước đó là những mầu nhiệm, nhưng nay đã trở thành trò tiêu khiển và giải trí. Đó là một cuốn sách quá ư nghiêm cẩn và đáng kính để có thể lật qua một cách vội vã hay hời hợt; việc đọc Kinh Thánh phải là một hành động điềm đạm và có chuẩn bị trước, nơi con người luôn phải đi kèm với lời tựa sùng kính này: ‘sursum corda’ (hướng lòng lên cao), thậm chí chuẩn bị cho cả thân xác một dáng điệu và nét mặt thật khiêm tốn, điềm tĩnh ngỏ hầu biểu lộ sự tôn kính và tập trung đặc biệt. Nó cũng không phải là cuốn sách để bất cứ ai cũng có thể thò tay bóp méo, mà là đối tượng nghiên cứu của những con người ưu tú được tuyển chọn riêng cho mục đích ấy, và những người mà Thiên Chúa Toàn Năng đã vui lòng kêu gọi vào sứ vụ và chức thánh thiêng liêng ấy: kẻ gian ác và vô tri chỉ càng trở nên tồi tệ hơn nhờ nó. Đó không phải là một câu chuyện để kể, mà là một sử liệu để tôn kính, kính sợ và sùng bái. Thế thì há chẳng phải rất nực cười khi có những kẻ nghĩ rằng họ đã làm cho Kinh Thánh trở nên thích hợp với quần chúng bằng cách dịch nó ra ngôn ngữ bình dân hay sao? Lẽ nào sự thấu hiểu tất cả những gì hàm chứa trong đó chỉ nằm ở con chữ? Liệu tôi có dám liều lĩnh nói thêm rằng, khi đến gần để hiểu một chút ít, họ lại càng đi lệch xa hơn bao giờ hết khỏi toàn bộ ý nghĩa cốt lõi? Một sự ngu dốt tinh tuyền, đơn sơ và hoàn toàn phó thác vào sự cắt nghĩa của những bậc có chuyên môn, còn uyên bác và đem lại ơn cứu độ biết bao so với thứ kiến thức phù phiếm dựa trên mặt chữ này — thứ vốn chỉ mang lại sự liều lĩnh và kiêu căng.
Và tôi lại càng tin rằng sự tự do mà mỗi cá nhân tự cho phép mình trong việc phổ biến Kinh Thánh ra quá nhiều thứ tiếng mang theo vô vàn hiểm họa nhiều hơn là ích lợi. Người Do Thái, người Hồi giáo, và hầu như tất cả các dân tộc khác, đều thành kính gắn bó với ngôn ngữ nơi các mầu nhiệm của họ lần đầu được cưu mang, và đã minh bạch cấm, không phải là không có lý do, việc thay đổi chúng sang bất kỳ ngôn ngữ nào khác. Liệu chúng ta có dám chắc rằng ở xứ Biscay và Brittany có đủ những vị thẩm phán có năng lực về vấn đề này để thiết lập bản dịch sang ngôn ngữ của chính họ hay không? Giáo hội toàn cầu không hề có một phán quyết nào khó khăn và long trọng hơn thế. Trong việc giảng thuyết và diễn ngôn, cách giải thích mang tính mơ hồ, tự do, dễ thay đổi và có tính đơn lẻ của nó; thế nên đó không phải là một chuyện.
Một trong những sử gia Hy Lạp của chúng ta đã công chính quở trách thời đại mà ông đang sống, bởi vì những bí mật của tôn giáo Kitô giáo đã bị phân phát vào tay mọi thợ thuyền để họ tự do cắt nghĩa và tranh biện theo trí tưởng tượng của riêng mình, và rằng chúng ta phải vô cùng hổ thẹn — chúng ta, những kẻ nhờ ơn đặc biệt của Thiên Chúa được thụ hưởng những mầu nhiệm thanh tuyền của lòng đạo đức — lại đi dung túng cho đám đông vô tri phỉ báng chúng; xét rằng những người ngoại giáo đã minh bạch cấm Socrates, Plato và các bậc hiền triết khác không được dò la hay thậm chí nhắc đến những điều đã phó thác cho các tư tế ở Delphi; hơn thế nữa, ông còn nói rằng các phe phái của các vương tôn công tử xoay quanh những đề tài thần học thường vũ trang không phải bằng sự nhiệt thành mà bằng sự cuồng nộ; nhiệt thành vốn xuất phát từ sự khôn ngoan và công lý thiêng liêng, tự điều tiết bằng sự thận trọng và ôn hòa, nhưng sẽ thoái hóa thành lòng căm thù và ganh tị, sinh ra cỏ lùng và tầm ma thay vì lúa mì và nho khi bị dẫn dắt bởi những đam mê nhân thế. Và một người khác đã nói rất đúng khi khuyên can Hoàng đế Theodosius rằng các cuộc tranh luận không làm cho những vết rạn nứt ly giáo của Giáo hội chìm vào giấc ngủ, mà trái lại, chỉ đánh thức và kích động các lạc giáo; vì thế, mọi sự tranh chấp và tranh biện biện chứng đều phải tránh né, và con người phải hoàn toàn quy phục những quy định cùng công thức đức tin do các bậc tiền nhân thiết lập. Và Hoàng đế Andronicus, sau khi tình cờ nghe được một vài vị đại thần lớn tiếng cãi vã trong cung điện với Lapodius về một điểm vô cùng quan trọng trong giáo lý của chúng ta, đã quở trách họ nặng nề đến mức đe dọa sẽ ném họ xuống sông nếu họ không chịu dừng lại. Ngày nay, ngay cả đàn bà trẻ con cũng dám đứng lên giáo huấn những bậc cao niên và từng trải nhất về các luật lệ giáo hội; trong khi điều đầu tiên trong số các bộ luật của Plato lại cấm họ không được phép dò la dù chỉ là luật dân sự — vốn phải đóng vai trò thay thế cho các sắc lệnh thiêng liêng; và dù cho phép các bậc cao niên bàn bạc với nhau hoặc với quan tòa về những điều đó, ông vẫn nói thêm rằng miễn là không có sự hiện diện của giới trẻ hoặc những kẻ phàm tục.
Một vị giám mục đã để lại bút tích rằng ở tận cùng bên kia thế giới có một hòn đảo, được người xưa gọi là Dioscorides, vô cùng màu mỡ với đủ loại cây trái, và có bầu không khí cực kỳ trong lành; cư dân ở đó là những Kitô hữu, có nhà thờ và bàn thờ, chỉ trang hoàng bằng thánh giá mà không có bất kỳ tượng ảnh nào khác, rất hay tuân giữ việc ăn chay và các ngày lễ, nộp thuế thập phân cho các tu sĩ một cách chuẩn xác, và vô cùng trinh bạch đến mức không ai trong số họ được phép có quan hệ với quá một người phụ nữ trong suốt cuộc đời mình —[Những gì Osorius nói là những người này mỗi thời chỉ có một vợ.]— về phần các mặt khác, họ quá mãn nguyện với hoàn cảnh của mình đến nỗi bị biển cả bao bọc mà chẳng biết gì về hàng hải, và quá ngây thơ đến mức chẳng hiểu lấy một âm tiết về tôn giáo mà họ đang tuyên xưng và sùng mộ hết mực: một điều thật khó tin đối với những ai không biết rằng dân ngoại giáo, dẫu vô cùng cuồng nhiệt thờ thần tượng, cũng chẳng biết gì hơn về các vị thần của họ ngoài trân trân cái tên và bức tượng của các vị ấy. Phần mở đầu cổ xưa của vở bi kịch ‘Menalippus’ do Euripides sáng tác đã viết thế này:
Tôi cũng từng biết trong thời đại của mình, một số bài viết của vài tác giả bị chê trách vì mang tính thuần túy nhân thế và triết học, hoàn toàn không pha trộn chút thần học nào; thế nhưng, với một chút lý lẽ bề ngoài, người ta hoàn toàn có thể lập luận ngược lại rằng học thuyết thiêng liêng, với tư cách là nữ vương và nhiếp chính của các môn khác, giữ vững vị thế cao quý của mình một cách tốt hơn khi đứng tách biệt, rằng nàng phải nắm giữ quyền tối thượng chứ không phải là kẻ phụ thuộc hay tòng sự, và rằng rất có thể những ví dụ về ngữ pháp, tu từ, logic — cũng như chất liệu cho sân khấu, trò chơi và các chương trình giải trí công cộng — nên được chọn lựa từ những nguồn khác thích hợp hơn là từ một đề tài quá ư linh thiêng; rằng những lẽ phải thiêng liêng sẽ được chiêm ngắm với sự tôn kính và tập trung lớn hơn khi đứng một mình và trong phong cách riêng biệt của chúng, thay vì bị pha trộn và điều chỉnh cho phù hợp với diễn ngôn nhân thế; rằng một lỗi lầm thường bị bắt gặp hơn nhiều là các nhà thần học viết lách mang đậm chất con người, chứ không phải là việc các nhà nhân văn học viết lách chưa đủ tầm thần học. Triết học, như Thánh Chrysostom đã nói, từ lâu đã bị trục xuất khỏi các học đường thánh thiện, như một nữ tỳ hoàn toàn vô dụng và bị xem là không xứng đáng dù chỉ để liếc mắt qua khe cửa vào nơi thánh điện chứa đựng những kho báu của học thuyết thiên quốc; rằng cách diễn đạt của con người vốn ở một tầng bậc thấp hơn rất nhiều và không được phép tự ý vơ lấy sự tôn nghiêm và uy quyền của ngôn từ hùng biện thiêng liêng. Mặc ai muốn dùng những từ ngữ hỗn tạp ‘verbis indisciplinatis’ để bàn về vận mệnh, định mệnh, tai nạn, may rủi và những cụm từ tương tự theo tâm trạng của hắn; phần tôi, tôi đề xuất những suy tưởng thuần túy mang tính nhân thế và hoàn toàn là của riêng tôi, và nhìn nhận chúng đơn thuần như những suy tưởng của con người, được xem xét một cách độc lập, chứ không phải do bất kỳ sắc lệnh nào từ thiên đình ấn định, thứ vốn không cho phép hoài nghi hay tranh biện; đó là vấn đề của quan điểm, chứ không phải vấn đề của đức tin; những điều tôi bàn luận dựa trên nhận thức của chính mình, chứ không phải là điều tôi tin tưởng theo Thiên Chúa; theo tư cách của một giáo dân chứ không phải giáo sĩ, và dẫu vậy vẫn luôn theo một cung cách hết sức đạo đức, giống như những đứa trẻ chuẩn bị bài tập của chúng, không phải để dạy đời mà để được dạy dỗ.
Và há chẳng thể nói rằng một sắc lệnh buộc tất cả mọi người, trừ những giáo sư thần học công khai, phải hết sức dè dặt khi viết về tôn giáo, sẽ mang theo một vẻ bề ngoài rất chính đáng về mặt ích lợi và công lý hay sao — và biết đâu, trong số đó có cả việc bắt tôi phải ngậm miệng lại? Tôi từng được nghe kể rằng ngay cả những kẻ không thuộc Giáo hội của chúng ta, giữa vòng họ với nhau, vẫn minh bạch cấm sử dụng danh thánh Thiên Chúa trong các cuộc trò chuyện thông thường, thậm chí không được dùng làm thán từ, câu cảm thán, lời khẳng định một sự thật hay câu so sánh; và tôi cho rằng họ có lý: bất kể trong hoàn cảnh nào khi chúng ta kêu cầu Thiên Chúa đồng hành và trợ giúp, điều đó luôn phải được thực hiện với sự tôn kính và lòng sùng kính lớn lao nhất.
Tôi nhớ là có một đoạn trong tác phẩm của Xenophon, nơi ông bảo rằng chúng ta càng ít kêu cầu Thiên Chúa bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu, bởi vì thật khó để luyện cho tâm hồn đạt đến mức độ bình tâm, nhẫn nại và sùng kính như đáng lẽ phải có vào lúc đó; bằng không, những lời cầu nguyện của chúng ta không chỉ vô ích và luống công, mà còn mang tính tội lỗi: “xin tha nợ cho chúng ta, như chúng ta cũng tha kẻ có nợ chúng ta”; ý nghĩa của lời thỉnh cầu này là gì nếu không phải là chúng ta đang dâng lên Thiên Chúa một tâm hồn hoàn toàn trống rỗng khỏi mọi hận thù và báo oán? Thế nhưng chúng ta lại chẳng ngần ngại kêu xin sự trợ giúp của Thiên Chúa trong những thói hư tật xấu của mình, và mời gọi Ngài vào những mưu toan bất chính:
kẻ tham lam cầu nguyện cho sự bảo toàn của những tài sản hão huyền và dư thừa của mình; kẻ đầy tham vọng cầu nguyện cho chiến thắng và sự hanh thông của vận mệnh hắn; tên trộm kêu gọi Ngài trợ giúp để thoát khỏi những hiểm nguy và trở ngại cản trở các mưu đồ tội ác của hắn, hoặc dâng lời tạ ơn Ngài vì sự suôn sẻ mà hắn gặp phải khi cắt cổ một con người; ngay trước cửa ngôi nhà mà họ sắp tấn công hoặc phá sập bằng bộc phá, họ cất tiếng cầu nguyện xin được thành công, giữa lúc tâm can và hy vọng đầy rẫy sự tàn độc, tham lam và dục vọng.
Marguerite, Nữ hoàng xứ Navarre,—[Trong tác phẩm Heptameron.]—có kể về một vị hoàng tử trẻ tuổi — dẫu bà không nêu danh tính, nhưng qua những phẩm chất cao quý của ông, người ta hoàn toàn có thể nhận ra —, khi đi đến một cuộc hẹn hò tình ái để ngủ với vợ của một biện lý xứ Paris, trên đường đi phải đi ngang qua một nhà thờ, ông chưa từng bao giờ bước qua chốn linh thiêng ấy — dù là lúc đi đến hay khi trở về từ cuộc hành sự đạo đức của mình — mà lại không quỳ xuống cầu nguyện. Ông sẽ vận dụng ân huệ thiêng liêng vào việc gì, khi mà tâm hồn đang ngập tràn những suy tưởng đầy đức hạnh ấy, tôi xin để mặc người khác phán xét; thế nhưng, bà vẫn đưa trường hợp này ra như một minh chứng cho lòng sùng đạo đặc biệt. Nhưng đây không phải là bằng chứng duy nhất cho thấy phụ nữ không thực sự phù hợp để bàn luận về những vấn đề thần học.
Một lời cầu nguyện chân chính và sự hòa giải tôn giáo với Thiên Chúa Toàn Năng không thể bước vào một tâm hồn ô uế, đang ngự trị dưới ách thống trị của Satan vào chính khoảnh khắc đó. Kẻ nào kêu cầu Thiên Chúa trợ giúp khi vẫn đang chìm đắm trong tội lỗi, chẳng khác nào một tên móc túi đi kêu gọi quan tòa đến cứu giúp mình, hay giống như những kẻ viện đến danh Thiên Chúa để làm chứng cho một lời dối trá.
Rất ít người dám công khai trước thế gian những lời cầu nguyện mà họ dâng lên Thiên Chúa Toàn Năng:
và đó là lý do tại sao phái Pythagorean muốn những lời cầu nguyện ấy phải luôn được công khai và ai cũng nghe thấy, nhằm mục đích ngăn họ không thốt ra những lời khẩn cầu bất chính hoặc trái đạo lý như kẻ này:
Các vị thần đã trừng phạt nghiêm khắc những lời cầu nguyện tồi tệ của Oedipus bằng cách ban phước cho chúng: ông ta từng cầu nguyện cho các con mình tự phân định quyền kế vị ngai vàng bằng binh đao, và thật khốn khổ cho ông khi thấy điều ước của mình trở thành hiện thực. Chúng ta không được cầu nguyện cho mọi sự diễn ra theo ý muốn của mình, mà phải theo hướng phù hợp nhất với sự khôn ngoan.
Quả thực, chúng ta dường như sử dụng những lời cầu nguyện của mình như một thứ ngôn ngữ lóng, và giống như cách những kẻ dùng lời kinh thánh để làm bùa phép hay thực hiện các ma thuật; cứ như thể chúng ta tính toán rằng lợi ích gặt hái từ những lời kinh ấy phụ thuộc vào cấu trúc, âm hưởng và vần điệu của câu chữ, hay vào nét mặt được trang nghiêm tạo dáng. Bởi vì khi tâm hồn bị ô nhiễm bởi dục vọng, không hề bị tác động bởi sự ăn năn, hay được an ủi bởi bất kỳ cuộc hòa giải muộn màng nào với Thiên Chúa, chúng ta vẫn đến trước Ngài để dâng lên những lời mà trí nhớ gợi ý cho cửa miệng, và nuôi hy vọng từ đó mà nhận được ơn tha thứ tội lỗi. Chẳng có gì dễ dàng, ngọt ngào và khoan dung cho bằng luật pháp thiêng liêng: luật ấy gọi và mời gọi chúng ta đến với mình, dẫu chúng ta có tội lỗi và ghê tởm đến đâu; mở rộng vòng tay đón nhận chúng ta vào lòng, dẫu ta đang nhơ nhớp ô uế và sẽ còn tiếp tục ô uế trong tương lai. Nhưng bù lại, chúng ta phải nhìn ngài bằng một ánh mắt cung kính; chúng ta phải đón nhận ơn tha thứ ấy với tất cả lòng biết ơn và sự phục tùng, và ít ra là trong khoảnh khắc hướng lòng về ngài ấy, ta phải nhận thức được những lầm lỗi đã phạm, và câm thù những đam mê từng xúi giục ta xúc phạm đến ngài; Plato từng nói rằng cả thần linh lẫn người hiền đức đều không chấp nhận lễ vật của một kẻ gian ác: