Tôi chắc chắn rằng mình thường hay bàn luận về những vấn đề được xử lý hay hơn và đúng đắn hơn rất nhiều bởi những người am hiểu tường tận nghề ấy. Những trang viết này thuần túy là sự thể hiện khả năng tự nhiên của tôi, chứ không phải những kiến thức học đòi; và bất cứ ai bắt gặp tôi lầm lỗi trong sự vô tri, người đó sẽ chẳng thể nào chiếm được ưu thế trước tôi, bởi tôi vốn chẳng muốn chịu trách nhiệm về trước bất cứ ai cho các trước tác của mình, khi mà chính bản thân tôi còn chẳng thể tự làm chủ hay hài lòng với chúng.
Ai đi tìm kiếm tri thức, hãy cứ săn lùng nó ở nơi nào có thể tìm thấy; đó là điều tôi ít bận tâm nhất. Đây chỉ là những ngẫu hứng của riêng tôi, qua đó tôi không mưu cầu khám phá vạn vật mà chỉ để phơi bày chính con người mình; có lẽ, một ngày nào đó chúng sẽ được tôi thấu hiểu, hoặc đã từng như thế, tùy thuộc vào việc vận may đưa tôi đến nơi mà chúng được giải thích; nhưng tôi đã hoàn toàn quên mất rồi; và nếu tôi là một kẻ có đọc nhiều, thì tôi lại là kẻ chẳng giữ lại được bao nhiêu; thế nên tôi chẳng thể hứa hẹn sự chắc chắn nào, ngoài việc cho thấy tầm mức hiểu biết hiện tại của mình đã vươn đến đâu.
Do đó, xin đừng ai đặt nặng vấn đề tôi viết, mà hãy chú tâm vào phương pháp tôi dùng để viết. Hãy quan sát xem, trong những điều tôi mượn từ kẻ khác, liệu tôi có biết cách chọn lựa những gì thích hợp để nâng đỡ hoặc hỗ trợ cho sức sáng tạo vốn luôn là của riêng tôi hay không. Bởi tôi dùng lời người khác để họ nói hộ mình, không phải trước mà là sau tôi, về những điều mà vì hạn chế về ngôn ngữ hay sự hiểu biết, bản thân tôi không thể diễn đạt sao cho trọn vẹn. Tôi không đếm số lượng những thứ mượn mọc, tôi cân nhắc chúng; và giả sử tôi có ý định khuếch trương giá trị của chúng bằng số lượng, tôi đã có thể nhân đôi số ấy lên; tất cả bọn họ, hoặc gần như toàn bộ, đều là những tác giả lừng danh và cổ xưa đến mức thiết nghĩ, tự thân họ đã đủ sức để người ta nhận ra họ là ai mà chẳng cần làm phiền đến tôi.
Trong các lý lẽ, phép so sánh và tranh luận, nếu tôi cấy bất kỳ ý nào vào mảnh đất của riêng mình và trộn lẫn chúng vào giữa những suy ngẫm của bản thân, tôi sẽ cố tình giấu tên tác giả để trấn áp sự liều lĩnh của những kẻ kiểm duyệt vội vàng, những kẻ hay săm soi đủ mọi loại văn bản, đặc biệt là những tác phẩm cận đại của những người vẫn còn đang sống; và viết bằng ngôn ngữ thông tục — thứ tiếng khiến bất kỳ ai cũng tưởng mình có quyền chê bai, và khiến người ta lầm tưởng cả ý đồ lẫn khái niệm sáng tác cũng tầm thường theo. Tôi muốn họ cứ việc búng tai Phutarch trên mũi tôi, và nguyền rủa Seneca khi họ tưởng rằng mình đang mốc méo tôi. Tôi buộc phải nương bóng những danh tiếng lớn lao ấy để che chở cho sự yếu kém của mình. Tôi sẽ quý mến bất cứ ai có thể lột trần tôi, nghĩa là bằng sự minh triết và phán đoán sáng suốt, bằng khả năng nhận diện duy nhất về sức mạnh và vẻ đẹp của bài văn. Bởi tôi — một kẻ vì kém trí nhớ nên luôn chật vật trong việc nhận ra lớp áo truyền thống của họ — vẫn đủ khôn ngoan để nhận thức được qua thước đo năng lực của chính mình rằng, mảnh đất của tôi chẳng tài nào sinh sôi nổi những đóa hoa rực rỡ mà tôi tìm thấy ở đó; và mọi thứ quả ngọt do tự tay tôi vun trồng đều chẳng đáng xơ múi gì khi đặt lên bàn cân so sánh với bất kỳ đóa hoa nào trong số ấy.
Vì điều này, quả thực tôi xin tự chịu trách nhiệm: nếu tôi tự chuốc lấy rắc rối cho chính mình; nếu trong các trang viết của tôi có sự kiêu căng hay khiếm khuyết nào mà bản thân tôi không tài nào nhận thức nổi, hoặc không thể nhìn ra ngay cả khi được người khác chỉ điểm; bởi có vô số lỗi lầm lọt qua mắt chúng ta, nhưng sự bất cập của năng lực phán đoán nằm chính ở chỗ ta không thể nhận ra chúng khi chúng được người khác bày ra trước mắt. Tri thức và chân lý có thể tồn tại trong ta dẫu thiếu đi năng lực phán đoán, và ngược lại; nhưng sự thừa nhận dốt nát lại là một trong những minh chứng cao đẹp và chắc chắn nhất cho năng lực phán đoán mà tôi từng biết. Tôi chẳng có viên quản giáp nào khác để sắp xếp các trước tác của mình vào hàng ngũ, ngoại trừ vận may. Khi nào ý tưởng xuất hiện trong đầu, tôi chất chồng chúng lên nhau; có lúc chúng tiến bước cả một khối đại quân, có lúc lại đi thành một hàng ngũ đơn độc. Tôi muốn mọi người nhìn thấy nhịp điệu tự nhiên và bình dị của tôi, dẫu cho nó có phần bất thường; tôi cứ để bản thân thong thả lê bước theo nhịp độ riêng của mình. Hơn nữa, đây chẳng phải là những chủ đề mà con người ta buộc phải am tường, hay có thể tùy tiện bàn luận một cách may rủi.
Tôi ước gì mình có được sự hiểu biết trọn vẹn hơn về vạn vật, nhưng tôi không dại dột mua lấy nó với cái giá quá đắt. Mục đích của tôi là trải qua phần đời còn lại một cách nhẹ nhàng chứ không phải nhọc nhằn; chẳng có thứ gì khiến tôi phải vắt óc suy tính cả; vâng, kể cả tri thức, dù nó có giá trị đến đâu đi nữa.
Khi đọc sách, tôi chỉ tìm kiếm niềm vui cho bản thân bằng một sự tiêu khiển tao nhã; hoặc nếu tôi có nghiên cứu, thì cũng chẳng vì khoa học nào khác ngoài thứ khoa học bàn về sự thấu hiểu chính mình, chỉ dẫn cho tôi cách chết và cách sống sao cho trọn vẹn.
Tôi chẳng đến mức phải cắn móng tay bứt rứt trước những khó khăn gặp phải trong lúc đọc; sau một vài lần xung trận, tôi sẽ buông xuôi ngay. Nếu cứ khăng khăng bám lấy chúng, tôi sẽ vừa đánh mất chính mình vừa phí phạm thời gian; bởi tôi vốn có một tâm trí thiếu kiên nhẫn, đòi hỏi phải được thỏa mãn ngay từ cái nhìn đầu tiên: điều gì tôi không thể thấu suốt ngay lập tức thì càng ngẫm nghĩ lại càng trở nên mù mịt. Tôi chẳng làm gì mà thiếu đi sự hứng khởi; việc đeo bám dai dẳng và quá mức ngoan cố chỉ làm lu mờ, đần độn và kiệt quệ năng lực phán đoán của tôi. Tầm mắt tôi trở nên lú lẫn và tan rã vì mải miết dán chặt vào trang sách; tôi buộc phải rút lui và dời việc khám phá sang những nỗ lực mới; cũng giống như khi muốn đánh giá chính xác độ rạng rỡ của sắc đỏ thắm, người ta dạy ta nên lướt nhanh mắt qua nó, rồi lại đảo nhìn qua nhiều lần chớp nhoáng và lặp đi lặp lại.
Nếu cuốn sách này không làm tôi vừa ý, tôi sẽ nhặt lấy cuốn khác; và tôi chỉ đụng đến sách khi đã chán ngấy sự rảnh rỗi. Tôi không quá mặn mà với sách mới, bởi sách cũ có vẻ đầy đặn và vững chãi hơn; tôi cũng chẳng hay trò chuyện với các tác giả Hy Lạp, bởi năng lực phán đoán của tôi không thể vận hành trơn tru khi sự hiểu biết về chất liệu còn non kém.
Trong số những quyển sách mang tính giải trí thuần túy của thời cận đại, tác phẩm Decameron của Boccaccio, Rabelais, và tập Basia của Johannes Secundus (nếu những tác phẩm này có thể được xếp vào chung một thể loại) rất đáng đọc để tiêu khiển. Còn về các tiểu thuyết hiệp sĩ Amadis và những thứ nhảm nhí tương tự, chúng chẳng hề có nổi vinh dự thu hút lấy một thoáng tuổi thơ tôi. Hơn thế nữa, dẫu có vẻ bạo mạn hay liều lĩnh, tôi vẫn phải thốt lên rằng tâm hồn già nua, nặng nề này của tôi giờ đây chẳng còn mảy may rung động trước Ariosto, vâng, và cả nhà thơ Ovid khả kính nữa; sự uyển chuyển và những phát kiến từng khiến tôi mê mẩn thuở nào giờ đây chẳng còn chút hương vị gì, và tôi khó lòng đủ kiên nhẫn để đọc chúng.
Tôi cởi mở bày tỏ quan điểm của mình về mọi thứ, kể cả những vấn đề có lẽ vượt quá sức mình và tôi vốn chẳng mảy miết nằm trong phạm vi phán xét. Theo đó, những nhận định tôi đưa ra cốt để thể hiện tầm vóc của tầm nhìn bản thân, chứ không phải của những đối tượng mà tôi cả gan phê phán. Khi tôi cảm thấy khó chịu trước tác phẩm 'Axiochus' của Plato — xin được nói điều này với sự kính trọng dành cho một bậc thầy như ngài — một cách hoàn toàn tự nhiên chứ không hề gượng ép, năng lực phán đoán của tôi không tự huyễn hoặc chính mình: nó chẳng đến nỗi kiêu ngạo dám chống lại uy tín của vô số bậc hiền triết cổ đại khác, những người mà nó xem như thầy dạy và bậc tôn sư, và nó thà chấp nhận sai lầm cùng họ; trong trường hợp ấy, nó tự phạt mình bằng cách hoặc chỉ dừng lại ở lớp vỏ bên ngoài mà chẳng tài nào thấu suốt được phần cốt lõi, hoặc nhìn nhận nó qua thứ ánh sáng sai lệch nào đó. Nó tự mãn nguyện với việc giữ cho bản thân khỏi vướng vào rắc rối và hỗn loạn; còn về phần sự yếu kém của chính mình, nó thẳng thắn thừa nhận và thú nhận điều đó.
Nó cho rằng mình đã đưa ra một sự giải thích hợp lý cho những bề ngoài do các khái niệm bày biện trước mắt; nhưng chúng vẫn thật mong manh và thiếu sót. Hầu hết các ngụ ngôn của Aesop đều mang nhiều ý nghĩa và tầng lớp khác nhau, trong đó các nhà giải mã thần thoại đã chọn ra một ý ăn khớp nhất với câu chuyện; nhưng phần lớn đó chỉ là lớp bề mặt đập vào mắt và mang tính phù phiếm; vẫn còn đó những tầng sâu kín, bản chất và sống động hơn mà họ chưa từng chạm tới; và tình trạng của tôi cũng y như vậy.
Nhưng để tiếp tục mạch văn của bài tiểu luận này, tôi luôn cho rằng trong lĩnh vực thơ ca, Virgil, Lucretius, Catullus và Horace vượt trội hơn hẳn những người khác qua nhiều bậc; và đặc biệt là Virgil trong tác phẩm Georgics, mà tôi xem là kiệt tác hoàn mỹ nhất của thi ca; và khi đặt lên bàn cân so sánh, người ta dễ dàng nhận thấy có những đoạn trong bộ AEneid mà giá như có thêm chút thời gian, tác giả hẳn đã mài giũa thêm đôi chút: và quyển thứ năm trong bộ AEneid của ông dường như là phần hoàn hảo nhất.
Tôi cũng yêu mến Lucan và sẵn lòng đọc ông, không hẳn vì văn phong mà vì chính nhân cách của ông, cùng sự chân thực và vững chãi trong các quan điểm lẫn phán đoán của ông. Còn về Terence khả kính, hiện thân cho sự tao nhã và uyển chuyển tinh tế của ngôn ngữ Latinh, tôi thấy ông thật đáng ngưỡng mộ qua cách tái hiện vô cùng sống động những phong tục mực thước của chúng ta cùng các chuyển động của tâm hồn; những hành động của chúng ta ở mọi ngã rẽ luôn đẩy tôi hướng về phía ông; và tôi đọc đi đọc lại ông bao nhiêu lần đi nữa thì vẫn luôn khám phá ra những nét duyên dáng và vẻ đẹp mới mẻ bấy nhiêu.
Những người sống gần thời với Virgil từng phàn nàn khi có ai đó đem Lucretius ra so sánh với ông. Riêng tôi cho rằng sự so sánh ấy quả thực rất khập khiễng: dẫu vậy, niềm tin ấy đôi khi vẫn khiến tôi phải bối rối tự vấn mỗi khi tình cờ bắt gặp một đoạn văn xuất sắc nào đó trong tác phẩm của Lucretius. Nhưng nếu họ đã tỏ ra bất bình trước sự so sánh đó đến thế, thì họ sẽ nói gì trước sự ngu muội thô lỗ và dã man của những kẻ thời nay khi dám đem ông ra so sánh với Ariosto? Chẳng phải chính Ariosto cũng sẽ phải thốt lên rằng...
Tôi nghĩ người xưa có lý do chính đáng hơn khi phẫn nộ với những kẻ đem Plautus ra so sánh với Terence — dẫu sự so sánh ấy còn có điểm tương đồng hơn nhiều — chứ không phải Lucretius với Virgil. Một minh chứng lớn cho sự đánh giá cao và ưu ái dành cho Terence là việc bậc thầy hùng biện võ đài La Mã thường xuyên nhắc đến ông, và là người duy nhất thuộc đẳng cấp ấy được ông nhắc tên; cùng với nhận định mà nhà phê bình xuất sắc nhất về các thi sĩ La Mã từng dành cho người bạn đồng hành của mình. Tôi từng nhiều lần quan sát thấy những kẻ thời nay khi bước chân vào nghiệp viết kịch (bắt chước người Ý, những người vốn rất thành công với lối viết ấy), thường nhặt nhạnh ba bốn cốt truyện từ Plautus hoặc Terence để nhào nặn thành của riêng mình, và nhồi nhét tới năm sáu câu chuyện trong tập Decameron của Boccaccio vào chung một vở kịch đơn lẻ.
Điều khiến họ phải nhọc công nhồi nhét đống chất liệu ấy chính là sự tự ti về khả năng tự đứng vững bằng đôi chân của mình. Họ buộc phải tìm thứ gì đó để bám víu; và vì không có sẵn chất liệu của riêng mình để cống hiến cho chúng ta, họ đành dùng cốt truyện để bù đắp cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ. Mọi chuyện hoàn toàn ngược lại với tác giả của tôi; sự tao nhã và hoàn mỹ trong cách dùng từ của ông khiến chúng ta quên đi cơn thèm khát cốt truyện; sự duyên dáng và thanh tao trong văn phong của ông chiếm ngự lấy ta ở khắp mọi nơi: ông vô cùng duyên dáng xuyên suốt tác phẩm,
và chiếm hữu tâm hồn ta bằng những nét kiều diễm đến mức ta quên bẵng đi cả những tình tiết trong câu chuyện của ông. Chính quan niệm này đã dẫn dắt tôi đi xa hơn: tôi nhận thấy những nhà thơ xuất sắc nhất thời cổ đại đã tránh xa sự gượng gạo và thói săn lùng những từ ngữ hoa mỹ quá đà mang phong cách Tây Ban Nha hay trường phái Petrarch, thậm chí cả những nét chạm trổ mềm mại, dịu dàng vốn là vật trang hoàng cho toàn bộ nền thơ ca hậu thế.
Dẫu vậy, chẳng có nhà phê bình sáng suốt nào lại đi lên án điều này ở người xưa, và không ai là không vô cùng thán phục sự mài giũa đồng đều, vẻ đẹp ngọt ngào và rực rỡ vĩnh cửu trong các bài thơ châm biếm của Catullus, hơn là tất cả những ngạnh độc mà Martial dùng để vũ trang cho phần đuôi các tác phẩm của mình. Điều này xuất phát từ cùng một lý do mà tôi đã viện dẫn trước đó, và đúng như những gì Martial từng tự nhận xét về bản thân:
Nhóm tác giả đầu tiên, chẳng cần phải động lòng hay nổi giận, vẫn đủ sức khiến người ta cảm nhận sâu sắc; tác phẩm của họ tràn ngập tiếng cười tự nhiên, họ chẳng cần phải tự cù mình; trong khi những người khác lại phải nhờ cậy đến sự trợ giúp từ bên ngoài; trí tuệ càng nghèo nàn thì thân xác lại càng phải lực lưỡng; họ phải leo lên lưng ngựa chỉ vì đôi chân bản thân chẳng thể tự đứng vững.
Cũng giống như trong các vũ hội của chúng ta, những gã vũ công hạng xoàng vì không thể thể hiện được phong thái và sự uy nghi của bậc quý tộc, đành phải phô diễn bằng những cú nhảy nguy hiểm cùng những động tác kỳ quái và trò nhào lộn của gánh xiếc; và các quý cô khi khiêu vũ cũng ít phải nhọc sức hơn — nơi có đủ các bước nhảy coupee, đổi chân và những chuyển động cơ thể nhanh gọn — so với những điệu nhảy trầm tĩnh đòi hỏi họ chỉ phải di chuyển theo nhịp điệu tự nhiên, thể hiện phong thái và dáng vẻ thanh nhã thường ngày.
Và tôi từng chứng kiến những tay diễn hài cừ khôi, khi diện trên mình bộ thường phục hàng ngày và với chính gương mặt quen thuộc ấy, vẫn mang lại cho chúng ta trọn vẹn niềm vui từ nghệ thuật của họ, trong khi những tên học việc chưa đạt đến độ chín muồi lại buộc phải trát bột trắng mặt, ngụy trang thành những hình thù lố bịch và làm hàng trăm điếu bộ kệch cỡm chỉ để cốt sao chọc cười chúng ta.
Quan niệm này của tôi không ở đâu được minh chứng rõ ràng hơn khi đem bộ AEneid so sánh với Orlando Furioso; trong đó chúng ta thấy tác phẩm thứ nhất sải cánh bay lượn ở một không gian hào hùng, cao cả và luôn kiên định với mục tiêu của mình: trong khi tác phẩm thứ hai lại phất phơ bay nhảy từ câu chuyện này sang câu chuyện khác, tựa như chuyền từ cành này sang cành khác, chẳng dám đặt niềm tin vào đôi cánh ngoài những cú bay ngắn ngủi và đậu lại ở mọi ngã rẽ, sợ rằng hơi thở và sức lực sẽ cạn kiệt.
Đó là những tác giả, xét về mặt thể loại này, đã làm tôi hài lòng nhất.
Còn về những trang sách khác mang lại cho tôi chút bài học bổ ích hòa lẫn cùng niềm vui, nơi tôi học được cách sắp xếp các quan điểm và phẩm giá của mình, những tác phẩm phục vụ cho mục đích này chính là các trước tác của Plutarch, kể từ khi được dịch sang tiếng Pháp, và của Seneca. Cả hai tác giả này đều có một điểm vô cùng thuận lợi phù hợp với tính khí của tôi, đó là tri thức mà tôi tìm kiếm ở họ được trình bày qua những mảnh tản mạn, không đòi hỏi tôi phải kiên nhẫn đọc những bài văn dài — điều mà tôi vốn không tài nào kham nổi. Đó là những tác phẩm nhỏ của vị tác giả đi trước và những bức thư của vị tác giả sau, vốn là những áng văn xuất sắc và mang lại nhiều ích lợi nhất trong toàn bộ trước tác của họ.
Chẳng có gì là quá sức khi cầm một tác phẩm ấy trên tay, và tôi có thể tùy ý buông xuống bất cứ lúc nào; bởi chúng chẳng có sự liên tục hay phụ thuộc lẫn nhau. Đa số các tác giả này đều gặp nhau ở những quan điểm hữu ích và chân thực; và giữa họ có một điểm tương đồng kỳ lạ là vận may đã đưa họ đến với cuộc đời cùng khoảng thế kỷ: cả hai đều là gia sư cho hai vị hoàng đế La Mã; cả hai đều được mời gọi từ những xứ sở xa xôi; cả hai đều giàu có và đều là những vĩ nhân.
Những lời dạy của họ chính là tinh hoa của triết học, được truyền tải theo một phương thức giản dị và thiết thực. Plutarch đồng nhất và kiên định hơn; Seneca đa dạng và uyển chuyển hơn; người sau đã nỗ lực và dốc toàn lực để tôi luyện đức hạnh chống lại sự yếu đuối, sợ hãi và những ham muốn đồi bại; trong khi người trước có vẻ xem nhẹ quyền năng của chúng, khinh bỉ việc phải thay đổi nhịp điệu hay phải lên gân phòng thủ.
Quan điểm của Plutarch mang màu sắc trường phái Plato, dịu dàng và thích ứng với đời sống dân sự; trong khi quan điểm của người kia mang tính khắc kỷ và hưởng lạc, có phần xa rời thông lệ chung, nhưng theo tôi thì cá nhân lại tiện dụng và vững chãi hơn. Seneca có vẻ hơi ngả nghiêng về phía sự chuyên chế của các vị hoàng đế đương thời, nhưng điều đó chỉ là vẻ bề ngoài; bởi tôi đinh ninh rằng ông đang nói ngược lại với chính lương tâm khi lên án hành động của những kẻ ám sát César đầy cao thượng.
Plutarch thẳng thắn trong mọi trang viết: Seneca dạt dào những nét chấm phá và bộc phát sắc bén; Plutarch mang lại những điều sưởi ấm và lay động tâm can bạn nhiều hơn; người kia mang lại sự thỏa mãn và đền đáp xứng đáng hơn: ông dẫn dắt chúng ta, còn người kia thúc giục ta tiến bước.
Về phần Cicero, những tác phẩm hữu ích nhất cho mục đích của tôi là những trước tác bàn về phong cách sống và các quy tắc ứng xử. Nhưng để gan góc thú nhận sự thật (bởi một khi đã vượt qua ranh giới của sự vô liêm sỉ, ta chẳng còn cần gì kìm cương nữa), lối hành văn của ông tỏ ra cẩu thả và thiếu sức hút đối với tôi: những lời nói đầu, định nghĩa, phân chia và từ nguyên học đã chiếm phần lớn tác phẩm của ông; bất kỳ phần sinh khí hay cốt tủy nào còn lại đều bị bóp nghẹt và chôn vùi trong công tác chuẩn bị dài dòng ấy.
Khi tôi dành ra một khoảng thời gian để đọc ông — mà thế đối với tôi đã là rất nhiều — rồi cố gắng hồi tưởng xem mình đã rút tỉa được chút tinh chất hay thực chất nào từ đó, phần lớn tôi chẳng thu lại được gì ngoài những cơn gió thoảng; bởi ông vẫn chưa đi vào những luận điểm phục vụ cho mục đích của mình, cũng như những lý lẽ thực sự giúp định hình nên nút thắt mà tôi đang tìm kiếm. Đối với tôi — kẻ chỉ mong muốn trở nên khôn ngoan hơn chứ không phải uyên bác hay hùng biện hơn — những sự sắp đặt mang tính logic và theo lối Aristotle ấy chẳng mang lại ích lợi gì.
Tôi muốn một người đi thẳng vào vấn đề cốt lõi. Tôi thừa hiểu cái chết và khoái lạc là gì; chẳng ai phải nhọc công mổ xẻ chúng ra cho tôi xem. Tôi tìm kiếm những lý lẽ hay và vững chắc ngay từ phút đầu tiên để dạy mình cách đương đầu với những cú sốc ấy, và vì mục đích đó, những sự tinh tế về ngữ pháp hay cấu trúc uyển chuyển của từ ngữ cùng các luận điểm đều trở nên hoàn toàn vô tích sự.
Tôi ưa chuộng những bài diễn văn đánh thẳng trực diện vào trái tim của pháo đài; những bài văn của ông cứ lẩn quẩn quanh chủ đề; chúng chỉ thích hợp cho nhà trường, pháp đình và bục giảng, nơi người ta có đủ thời gian để gật gà gật gù, rồi có thể tỉnh giấc sau đó một phần tư giờ mà vẫn đủ thời gian để bắt lại mạch bài giảng. Ta buộc phải dùng giọng điệu ấy khi nói chuyện với những vị thẩm phán mà ta có ý định mua chuộc — dẫu đúng hay sai — hay với trẻ em và dân chúng, những đối tượng mà ta phải tuôn ra tất cả mọi điều rồi chờ xem kết quả ra sao.
Tôi không muốn một nhà văn phải nhọc công cốt để ép tôi phải chú ý; hay việc ông ta phải gào lên năm mươi lần tiếng Oyez! hệt như các vị sứ giả. Người La Mã trong các nghi lễ tôn giáo của họ thường bắt đầu bằng câu 'Hoc age', cũng như chúng ta trong các nghi lễ thường bắt đầu bằng 'Sursum corda'; đó chỉ là những từ ngữ vô nghĩa đối với tôi: tôi vốn đã bước vào phòng với tâm thế chuẩn bị sẵn sàng từ trước. Tôi chẳng cần bất kỳ sự lôi kéo, mời mọc hay thứ nước sốt nào; tôi nuốt trọn miếng thịt sống, thế nên thay vì làm mài giũa sự thèm ăn bằng những bước chuẩn bị ấy, chúng chỉ khiến tôi thêm mệt mỏi và chán chường.
Liệu sự tự do của thời đại có tha thứ cho sự bạo gan mang tính báng bổ của tôi khi tôi chê bai chính lối viết đối thoại của Plato là tẻ nhạt, nặng nề, làm bóp nghẹt chủ đề, và thương tiếc cho khoảng thời gian quá lớn bị hoài phí bởi một con người có biết bao điều hay ho để nói, lại đi lãng phí trong vô số màn đối thoại mở đầu dài dòng và vô tích sự? Sự dốt nát có lẽ sẽ là lời bào chữa tốt nhất cho tôi, bởi tôi vốn chẳng am hiểu tiếng Hy Lạp đến mức nhận ra vẻ đẹp trong ngôn ngữ của ông.
Tôi thường chọn những quyển sách vận dụng tri thức chứ không phải những cuốn chỉ dẫn đi đến tri thức ấy. Hai tác giả đầu tiên, cùng với Pliny và những người tương tự, chẳng hề có chút phong cách Hoc age nào; họ đối thoại với những con người đã được trang bị kiến thức từ trước; hoặc nếu có, thì đó cũng là một thứ Hoc age có trọng lượng; và bản thân nó mang một vóc dáng riêng biệt.
Tôi cũng rất thích đọc tập Thư gửi Atticus, không chỉ bởi chúng chứa đựng vô số tư liệu lịch sử và sự kiện thời bấy giờ, mà còn vì qua đó tôi khám phá được rất nhiều nét tính cách riêng tư của chính ông; bởi tôi có một sự tò mò kỳ lạ, như tôi từng đề cập ở nơi khác, là thích soi mói vào tâm hồn cùng những quan điểm tự nhiên, chân thực của các tác giả mà tôi trò chuyện cùng. Người ta thực ra có thể đánh giá tài năng của họ, nhưng không thể nhìn thấu phong cách sống hay bản chất con người họ qua những tác phẩm mà họ trưng bày trên sân khấu thế giới.
Tôi đã hàng ngàn lần tiếc nuối cho sự thất lạc của chuyên luận bàn về Đức hạnh do Brutus chấp bút, bởi thật tốt biết bao khi được học lý thuyết từ những kẻ am tường thực tiễn nhất.
Nhưng xét thấy giữa lời thuyết giảng và người giảng đạo là hai chuyện khác nhau, tôi thà nhìn thấy hình ảnh Brutus qua ngòi bút của Plutarch còn hơn là trong chính tác phẩm của ông. Tôi thà muốn được thông tin một cách chắc chắn về cuộc trò chuyện giữa ông với một vài người bạn thân trong lều trướng vào đêm trước trận chiến, còn hơn là nghe bài diễn văn ông đọc trước quân đội vào ngày hôm sau; và thà biết những gì ông làm trong phòng kín và buồng riêng còn hơn là những gì ông thể hiện ở quảng trường công cộng hay trước viện nguyên lão.
Về phần Cicero, tôi chia sẻ chung quan điểm với số đông rằng, ngoại trừ vốn học thức, ông chẳng có mấy xuất sắc về mặt bẩm sinh. Ông là một công dân tốt, có bản tính cởi mở — hệt như hầu hết những kẻ mập mạp, nặng nề như ông thường thế; nhưng lại ưa chuộng sự nhàn hạ, và quả thực mang trong mình một sự tự cao lẫn tham vọng vô cùng lớn.
Tôi cũng chẳng biết phải bào chữa ra sao cho việc ông nghĩ những vần thơ của mình xứng đáng được ấn bản; việc sáng tác những câu thơ tồi chưa phải là một khiếm khuyết quá lớn, nhưng không đủ khả năng để phán đoán xem những vần thơ ấy kém cỏi đến mức nào so với hào quang tên tuổi của mình mới chính là một thiếu sót chí mạng.
Còn về tài hùng biện của ông, đó là một thứ vượt hoàn toàn ngoài mọi khuôn khổ so sánh, và tôi tin rằng sẽ chẳng bao giờ có ai sánh kịp. Cậu thiếu niên Cicero — kẻ chẳng có điểm nào giống cha mình ngoại trừ cái tên — trong một lần nhậm chức tư lệnh tại châu Á, từng có vài vị khách lạ mặt dùng bữa chung bàn, trong đó có Cestius ngồi ở chiếc ghế tận cuối bàn, vốn là thói quen hay tá túc tại các bữa tiệc mở cửa của giới quý tộc. Cicero hỏi một người tùy tùng của mình xem người đàn ông đó là ai, và người này lập tức đáp tên; nhưng ông, với tâm trí đang bận suy tính chuyện khác và đã quên béng câu trả lời vừa nhận, cứ lặp đi lặp lại câu hỏi ấy ba bốn lần.
Gã tùy tùng nọ, để giải thoát mình khỏi việc phải trả lời liên tục và muốn cho ông nhận ra vị khách qua một đặc điểm cụ thể, bèn thưa rằng: “Thưa ngài, đó chính là Cestius, kẻ mà người ta từng bẩm báo với ngài rằng chẳng thèm coi trọng tài hùng biện của thân phụ ngài là bao so với của hắn.” Nghe vậy, Cicero bỗng nổi đóa lên, lập tức ra lệnh bắt giữ tội nghiệp Cestius và nát roi quất cho một trận ngay trước mặt mình; thật là một kẻ tiếp khách thiếu nhã nhặn làm sao!
Thế nhưng, ngay cả giữa những người, xét trên mọi khía cạnh, từng ca tụng tài hùng biện của ông là vô song, vẫn có không ít kẻ không ngần ngại chỉ ra những điểm khuyết trong đó: chẳng hạn như người bạn lớn Brutus của ông, kẻ từng nhận xét rằng đó là một thứ tài hùng biện ngắt quãng và kiệt quệ, ‘fractam et elumbem’. Các nhà hùng biện sống gần thời với ông cũng quở trách việc ông quá chú trọng đến một nhịp điệu ngắt quãng kéo dài nhất định trong các câu văn, và đặc biệt để mắt đến cụm từ ‘esse videatur’, thứ mà ông sử dụng đến nhàm chán.
Phần tôi, tôi đánh giá cao một văn phong ngắn gọn và dứt khoát hơn. Dù sao đi nữa, thỉnh thoảng ông cũng có cách đan xen các bộ phận văn bản một cách sống động hơn, nhưng điều đó rất hiếm khi xảy ra. Bản thân tôi từng ghi nhận đoạn văn này:
Các nhà sử học chính là cánh tay đắc lực của tôi, bởi họ vừa thú vị lại vừa dễ đọc, và là nơi con người nói chung — đối tượng mà tôi hằng săn lùng tri thức — xuất hiện một cách sống động và trọn vẹn hơn bất kỳ đâu:
sự đa dạng và chân thực trong những phẩm chất nội tâm của con người, dù xét theo tổng thể hay từng mảnh vụn, sự đa dạng của những phương tiện giúp con người kết nối và gắn kết, cùng những hiểm họa rình rập họ.
Giờ đây, những ai viết tiểu sử, vì họ chú trọng vào các mưu lược nhiều hơn là sự kiện, vào những bộc phát từ nội tâm hơn là những biến động bên ngoài, mới chính là những người phù hợp nhất với việc đọc của tôi; và vì thế, hơn bất kỳ ai khác, Plutarch chính là nhân vật dành cho tôi.
Tôi vô cùng tiếc nuối vì chúng ta không có nổi một tá tác phẩm kiểu như của Laertius —[Diogenes Laertius, người viết bộ Tiểu sử các triết gia]— hoặc giả như tác phẩm của ông được viết dài hơn; bởi tôi vốn tò mò muốn biết về cuộc đời và vận mệnh của những bậc thầy khai sáng thế giới ấy chẳng kém gì việc tìm hiểu sự đa dạng trong học thuyết và quan điểm của họ.
Trong loại hình nghiên cứu lịch sử này, người ta buộc phải lật giở không phân biệt mọi thể loại tác giả, từ cổ chí kim, người Pháp hay ngoại quốc, cốt để thấu hiểu những sự việc mà họ bàn luận dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhưng theo tôi, César đặc biệt xứng đáng được nghiên cứu, không chỉ vì tri thức lịch sử mà còn vì chính con người ông — một bậc vĩ nhân sở hữu sự xuất chúng và hoàn mỹ vượt trội hơn hẳn những người còn lại, dẫu Sallust cũng là một cái tên đáng kể.
Thành thật mà nói, tôi đọc tác giả này với sự tôn kính và nể trọng vượt mức thường thấy dành cho các trước tác nhân văn; có lúc tôi ngắm nhìn ông qua con người bằng xương bằng thịt, qua các chiến tích và sự vĩ đại kỳ diệu, có lúc lại qua sự tinh tuyết và nét mài giệu không thể bắt chước trong ngôn ngữ của ông — nơi ông không chỉ vượt qua mọi nhà sử học khác, như chính Cicero từng thừa nhận, mà có lẽ còn vượt qua cả Cicero; khi ông viết về kẻ thù của mình với một sự chân thành đến mức, ngoại trừ những sắc thái giả tạo mà ông cố dùng để ngụy trang cho nguyên nhân sai quái của mình cùng thứ bùn nhơ của tham vọng độc hại, tôi nghĩ chẳng có lỗi lầm nào khác đáng để trách cứ ông, ngoại trừ việc ông quá kiệm lời khi nhắc đến chính mình, trong khi rõ ràng vô số chiến công vĩ đại không thể thành hình nếu thiếu đi sự chỉ huy của ông, và hành động cá nhân của ông tất yếu phải chiếm tỷ trọng lớn hơn những gì ông đã tự khiêm tốn ghi nhận.
Tôi yêu các nhà sử học, dù là loại bình dân hay bậc cao. Những người bình dân, những kẻ chẳng có chút tư tưởng cá nhân nào để nhồi nhét vào sách, và chỉ xem nhiệm vụ của mình là thu lượm mọi thứ lọt vào tai rồi ghi chép lại một cách trung thực mà không hề chọn lọc hay phân biệt, đã để lại cho chúng ta quyền phán đoán toàn diện trong việc nhìn nhận chân lý. Chẳng hạn, trong số những người như thế, có vị sử gia chân chất Froissart, người đã tiến hành công việc của mình với một sự chân thành mộc mạc đến mức khi phạm lỗi, ông chẳng hề xấu hổ mà dám dũng cảm thừa nhận và sửa chữa ngay tại chỗ bị người ta chỉ điểm, thậm chí còn tái hiện lại cho chúng ta cả những lời đồn thổi đa chiều lan truyền thời bấy giờ cùng những dị bản khác nhau mà người ta thuật lại cho ông; đó chính là thứ chất liệu lịch sử trần trụi và nguyên sơ, nơi bất kỳ ai cũng có thể rút ra bài học cho riêng mình tùy thuộc vào sự hiểu biết của họ.
Những nhà sử học xuất sắc hơn lại sở hữu năng lực phán đoán để chắt lọc những điều đáng biết nhất; và giữa hai luồng thông tin, họ biết cách thẩm định xem đâu là bên có khả năng xảy ra cao nhất: từ vị thế và tính khí của các vị quân vương, họ suy luận ra các mưu sách, và gán cho họ những lời thoại phù hợp với hoàn cảnh; những người này có quyền đòi hỏi ta phải quy phục niềm tin của mình vào những gì họ tin tưởng; nhưng quả thực, đặc quyền ấy chỉ thuộc về rất ít người.
Còn với tầng lớp sử học tầm trung, chiếm đa số hiện nay, họ đã phá hỏng tất cả; họ muốn nhai sẵn thức ăn cho chúng ta; họ tự cho mình quyền phán xét và do đó bẻ cong lịch sử theo sở thích cá nhân; bởi một khi năng lực phán đoán đã nghiêng về một phía, kẻ viết không tài nào tránh khỏi việc uốn éo và bóp méo câu chuyện theo hướng đó; họ ôm đồm việc chọn lựa những điều đáng biết, nhưng thường lại che giấu đi những lời nói hay hành động riêng tư vốn có thể giúp ta thấu hiểu vấn đề tốt hơn; họ bỏ qua những chuyện mà họ cho là khó tin vì không tài nào hiểu nổi, và có lẽ có những thứ bị bỏ sót đơn giản vì họ không đủ khả năng viết bằng thứ tiếng Pháp hay tiếng Latinh lưu loát.
Cứ để họ thỏa sức phô trương tài hùng biện cùng trí tuệ và phán đoán theo sở thích cá nhân đi; nhưng đồng thời, hãy chừa lại cho chúng ta chút không gian để tự phán đoán sau đó, chớ nên thay đổi hay ngụy trang bất cứ điều gì thuộc về bản chất sự việc thông qua những bản tóm lược hay sự lựa chọn chủ quan của họ, mà hãy trao tận tay chúng ta nguyên liệu thuần khiết và trọn vẹn trong mọi chiều kích.
Phần lớn, và đặc biệt trong những thời kỳ gần đây, người ta thường tuyển mộ những kẻ cho công việc này từ tầng lớp bình dân chỉ dựa trên tiêu chí duy nhất là ăn nói lưu loát, hệt như thể ta đang tìm kiếm một giáo viên dạy văn; và những kẻ được chọn như thế, vì được thuê mướn chẳng vì mục đích nào khác ngoài việc huyên hoang và chẳng mưu cầu điều gì ngoài khoác lác, nên chẳng mảy may bận tâm đến bất kỳ điều gì ngoài cái mã bên ngoài; thế là với một mớ từ ngữ leng keng hoa mỹ, họ dọn ra một mớ hỗn độn những tin đồn nhặt nhạnh ngoài đường phố.
Những tác phẩm lịch sử thực sự giá trị chỉ là những cuốn được viết bởi chính những người từng nắm giữ quyền chỉ huy trong các sự kiện mà họ viết, hoặc những người trực tiếp tham gia điều hành, hay ít nhất từng chỉ huy những lực lượng có tính chất tương tự. Hầu hết các tài liệu lịch sử Hy Lạp và La Mã đều thuộc diện này: bởi khi ấy có nhiều nhân chứng sống cùng viết về một chủ đề trong thời đại mà sự vĩ đại và uyên bác thường hội tụ ở cùng một con người, thì dẫu có sai sót xảy ra, đó chắc chắn cũng chỉ là những lỗi vô cùng nhỏ nhặt và xuất phát từ một sự cố vô cùng mơ hồ.
Ta có thể kỳ vọng điều gì từ một vị y sĩ viết về chiến tranh, hay từ một kẻ chỉ biết mài đũng quần trên ghế nhà trường lại đi bàn về mưu đồ của các bậc đế vương? Nếu để ý xem người La Mã khắt khe đến mức nào trong chuyện này, ta chỉ cần nhìn vào ví dụ sau: Asinius Pollio từng phát hiện trong các trang sử của chính César có những điểm bị ghi chép sai lệch, một sự nhầm lẫn bắt nguồn từ việc ông không thể bao quát bằng mắt mọi ngóc ngách trong quân ngũ và đã cả tin đặt niềm tin vào một vài cá nhân không mang lại cho ông một bản tường trình hoàn toàn chính xác; hoặc giả vì các tướng dưới quyền đã không thông báo một cách hoàn hảo nhất về những gì họ đã làm trong lúc ông vắng mặt —[Suetonius, Cuộc đời César, chương 56.]— Qua đó ta có thể thấy việc truy tìm chân lý mong manh nhường nào, khi người ta không thể tin nổi lời kể về một trận chiến ngay cả từ miệng vị tướng cầm quân lẫn những binh sĩ trực tiếp tham gia, trừ phi theo phương thức của một cuộc điều tra tư pháp, các nhân chứng được đối chất và các phản biện được cân nhắc trên nền tảng chứng cứ của từng chi tiết nhỏ nhất trong mọi sự cố.
Thành thật mà nói, tri thức của chúng ta về các vấn đề của chính mình vốn mơ hồ hơn rất nhiều; nhưng điều đó đã được Bodin bàn luận thỏa đáng, và đúng theo quan điểm của tôi —[Trong tác phẩm của Jean Bodin, nhan đề “Methodus ad facilem historiarum cognitionem.” 1566.]— Để phần nào khỏa lấp sự yếu kém của trí nhớ — thứ vốn tồi tệ đến mức đã không ít lần tôi cầm lại đọc như một cuốn sách hoàn toàn mới mẻ, chưa từng thấy qua dẫu bản thân từng cặm cụi đọc kỹ lưỡng vài năm trước và còn chi chít ghi chú bên lề — gần đây tôi đã áp dụng một thói quen là ghi chú lại ở phần cuối mỗi cuốn sách (cụ thể là những cuốn tôi không bao giờ có ý định đọc lại) thời điểm tôi đọc xong và những đánh giá mà tôi đã đúc kết được về nó, cốt để những dòng này ít ra có thể gợi lại cho tôi tính cách và ý niệm chung mà tôi từng hình dung về tác giả khi đọc cuốn sách đó; và tôi xin chép lại đây một vài ghi chú trong số ấy.
Tôi từng viết những dòng này, cách đây chừng mười năm, trong cuốn sách của Guicciardini (dù sách của tôi viết bằng bất kỳ thứ tiếng nào đi nữa, tôi vẫn luôn trò chuyện với chúng bằng ngôn ngữ của chính mình): “Ông là một nhà biên sử cần mẫn, theo quan điểm của tôi, người ta có thể học hỏi sự thật về các biến cố thời đại ông một cách chính xác chẳng kém gì từ bất kỳ nguồn nào khác; trong phần lớn các sự kiện ấy, chính bản thân ông cũng là một nhân vật trực tiếp tham gia và nắm giữ những chức vụ trọng yếu. Chẳng có dấu hiệu nào cho thấy ông đã ngụy trang sự việc vì lòng thù hận, sự thiên vị hay tính kiêu căng; minh chứng rõ ràng nhất cho điều này chính là những lời chỉ trích thẳng thắn mà ông dành cho giới quyền quý, đặc biệt là những kẻ từng đề bạt và giao phó cho ông những trọng trách lớn lao cùng danh vị hiển hách, chẳng hạn như Giáo hoàng Clement VII.
Còn về phần mà ông tự hào nhất, tức là những đoạn đào sâu và nghị luận, quả thực ông có những ý rất hay và được làm phong phú bởi những nét đặc sắc; nhưng ông lại quá lạm dụng chúng: để không bỏ sót bất kỳ điều gì, khi sở hữu một đề tài quá đỗi phong phú, mênh mông, gần như vô tận, ông lại thoái hóa thành thứ văn phong bác học rườm rà và phảng phất chút giọng điệu ba hoa của nhà trường.
Tôi cũng nhận thấy điều này ở ông: giữa vô số tâm hồn, vô số hiệu ứng, vô số động cơ và mưu lược mà ông mang ra phán xét, ông chưa bao giờ quy gán bất kỳ điều gì cho đức hạnh, tôn giáo hay lương tâm, hệt như thể tất cả những thứ ấy đã tuyệt tích khỏi thế gian này; và đối với mọi hành động, dẫu bề ngoài có hiển hách hay cao cả đến đâu đi nữa, ông luôn quy nguyên nhân và động cơ về một nguyên cớ đồi bại hay một mưu đồ vụ lợi nào đó.
Thật không thể tưởng tượng nổi dẫu giữa vô vàn hành động mà ông nhắc đến, lại không có lấy nổi một hành động xuất phát từ lý trí lương thiện. Chẳng có sự suy đồi nào có thể lây lan toàn diện đến mức không một ai thoát khỏi căn bệnh truyền nhiễm ấy — điều này khiến tôi nghi ngờ rằng chính thị hiếu của bản thân ông ta đã vẩn đục, từ đó dẫn đến việc ông ta dùng lăng kính của chính mình để phán xét những kẻ khác.”
Trong cuốn sách của Philip de Commines thuộc tủ sách của tôi có ghi chép những dòng này: “Bạn sẽ tìm thấy ở đây thứ ngôn ngữ ngọt ngào và cuốn hút, mang sự mộc mạc tự nhiên, lối trần thuật trong trẻo, cùng sự chân thành rạng ngời của tác giả; hoàn toàn không vương vấn sự kiêu căng khi nói về bản thân, cũng chẳng hề có lòng ganh ghét hay đố kỵ khi nhắc đến người khác: những bài luận và lời khuyên nhủ của ông tràn ngập nhiệt huyết và chân lý hơn là thứ văn chương hoa mỹ sáo rỗng; và xuyên suốt tác phẩm là một uy quyền cùng sự trang trọng, minh chứng cho việc ông là một người có dòng dõi cao quý và được tôi luyện trong những biến cố lớn của triều đình.”
Bên lề bộ Hồi ký của Monsieur du Bellay, tôi tìm thấy dòng này: “Thật luôn thú vị khi đọc những trước tác được viết bởi những người từng trải nghiệm cách thức thực thi mọi chuyện; nhưng đồng thời, không thể phủ nhận rằng có một sự suy thoái rõ rệt ở hai vị lãnh chúa này —[Martin du Bellay và Guillaume de Langey, hai anh em, đồng tác giả của bộ Hồi ký.]— so với sự tự do và phóng khoáng trong ngòi bút của các sử gia tiền bối, chẳng hạn như Sire de Joinville, người bạn tâm giao của St. Louis; Eginhard, tể tướng của Charlemagne; và gần thời hơn là Philip de Commines.
Những gì chúng ta có ở đây giống một lời biện minh cho Vua Francis nhằm chống lại Hoàng đế Charles V hơn là một cuốn lịch sử thực thụ. Tôi không cho rằng họ đã bóp méo bất kỳ sự thật nào về mặt sự kiện; nhưng họ thường xuyên có thói quen uốn nắn phán đoán về các kết cục, phần lớn đi ngược lại với lý lẽ thông thường nhằm mang lại lợi thế cho chúng ta, đồng thời bỏ sót bất cứ thứ gì nhạy cảm khó nuốt trong cuộc đời của vị chủ nhân họ; minh chứng rõ ràng là những tiến trình liên quan đến các ngài de Montmorency và de Biron đều bị bỏ quên ở đây: thậm chí, ngay cả cái tên của Madame d’Estampes cũng chẳng tài nào tìm thấy.
Những hành động bí mật thì một sử gia có thể che giấu; nhưng việc cố tình phớt lờ những điều cả thiên hạ đều tường tận và những sự kiện từng kéo theo những hệ lụy công khai vô cùng to lớn lại là một khiếm khuyết không thể tha thứ. Suy cho cùng, bất kỳ ai muốn có được sự hiểu biết thấu đáo về Vua Francis cùng các sự kiện dưới triều đại của ông, nếu nghe theo lời khuyên của tôi, hãy tìm kiếm ở những nguồn khác.
Lợi ích duy nhất mà người ta có thể gặt hái từ những trang hồi ký này nằm ở phần tường thuật chi tiết về các trận chiến và những chiến tích quân sự mà các vị quý tộc này trực tiếp tham gia; trong một số lời thoại và hành động riêng tư của các bậc vương tôn công chúa thời bấy giờ; cũng như trong các hiệp ước và cuộc đàm phán do Seigneur de Langey thực hiện, nơi ngập tràn những điều đáng giá và các bài diễn văn vượt trội hơn hẳn chuẩn mực thông thường.”