Tuyển Tập Tiểu Luận Michel De Montaigne

Lượt đọc: 1560 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
— Một Phong Tục Của Đảo Cea

❊ ❊ ❊

Nếu triết lý suy cho cùng chính là sự hoài nghi, như người ta vẫn định nghĩa, thì việc viết lách ngẫu hứng và pha trò ngớ ngẩn như tôi lại càng phải được coi là một hình thức hoài nghi. Bởi lẽ, việc dò hỏi và tranh biện vốn dành cho những kẻ mới học đòi và tay mơ, còn việc dung hòa và phán quyết mới là nhiệm vụ của bậc bề trên.

Bậc phán quyết của tôi chính là uy quyền của thánh ý; đấng cai trị chúng ta mà không gặp phải bất kỳ sự kháng cự nào, và ngự trị trên cả những cuộc tranh cãi phàm tục và hão huyền này.

Khi Philip tiến đánh Peloponnesus bằng vũ lực, có người nói với Damidas rằng người Lacedaemon sớm muộn gì cũng sẽ gặp đại họa nếu không chịu thần phục và hòa hoãn với ông ta đúng lúc. “Hỡi kẻ đáng thương kia,” Damidas đáp, “những kẻ không sợ cái chết thì còn có thể sợ nỗi họa nào nữa?” Khi được hỏi cách để một người có thể sống được tự do, Agis đã trả lời: “Đó là hãy coi thường cái chết.”

Những lời này, cùng hàng ngàn câu nói khác mang cùng ý nghĩa, rõ ràng vang lên một âm hưởng vượt xa việc chỉ đơn thuần nhẫn nại chờ đợi nhát dao tử thần sà xuống. Bởi trong cuộc đời có vô vàn tai ương còn đáng sợ hơn cả cái chết. Hãy làm chứng bằng câu chuyện về cậu thiếu niên người Lacedaemon bị Antigonus bắt làm nô lệ và bị chủ sai làm những việc hạ tiện. Cậu liền nói: “Ngươi sẽ sớm biết rõ kẻ mà ngươi đã mua là ai; sẽ thật hổ thẹn cho ta nếu phải làm tôi tớ khi tự do đã nằm trong tầm tay,” và nói rồi, cậu gieo mình từ trên mái nhà xuống. Khi Antipater đưa ra những lời đe dọa nghiêm khắc đối với người Lacedaemon nhằm ép họ phải khuất phục trước một yêu sách của hắn, họ đáp rằng: “Nếu ngươi dọa chúng ta những điều còn tệ hơn cái chết, thì chúng ta lại càng sẵn lòng chết hơn.” Và khi Philip viết thư thông báo rằng ông ta sẽ phá hỏng mọi mưu đồ của họ, họ liền đáp: “Cái gì, ngươi định ngăn cản cả việc chúng ta chết nữa sao?” Đó chính là ý nghĩa của câu nói: “Rằng người khôn ngoan sống chừng nào họ cần, chứ không sống chừng nào họ có thể; và món quà ân huệ nhất mà Tự nhiên ban cho chúng ta, thứ tước đi mọi lý do để phàn nàn về hoàn cảnh của mình, chính là việc ngài đã trao tận tay chúng ta chìa khóa của sự sống.” Tự nhiên chỉ định sẵn một cánh cửa để bước vào đời, nhưng lại mở ra hàng vạn ngả đường để bước ra. Chúng ta có thể thiếu đất để sống, nhưng đất để chết thì chẳng bao giờ thiếu, như lời Boiocalus từng trả lời người La Mã. Cớ sao ngươi phải phàn nàn về cõi đời này? Nó có giam cầm ngươi đâu; chính sự hèn nhát của ngươi mới là nguyên nhân khiến ngươi phải sống trong cay đắng. Để chết, chẳng cần gì hơn ngoài mong muốn được chết.

Cái đó không phải là phương thuốc chữa riêng một căn bệnh nào; cái chết là liç̂u thuốc chữa bách bệnh không bao giờ sai sót. Đó là bến bờ yên ả nhất, thứ chẳng có gì phải sợ hãi mà rất thường xuyên nên tìm kiếm. Kết quả đều như nhau, dù một kẻ tự kết liễu đời mình hay chờ đón nó bằng một con đường khác; dù hắn trả nợ trước thời hạn hay đợi đến ngày đến hạn phải trả. Dù nó xuất phát từ đâu thì cuối cùng đó vẫn là của hắn; sợi chỉ có đứt ở đoạn nào thì cuộn chỉ cũng chấm dứt ở đó. Cái chết tự nguyện bao giờ cũng là cái chết đẹp đẽ nhất. Cuộc sống phụ thuộc vào ý muốn của kẻ khác, nhưng cái chết lại nằm trong tay chính chúng ta. Không có việc gì mà chúng ta nên chiều theo ý mình cho bằng việc này. Danh dự không hề liên quan đến một hành động như thế; thật ngớ ngẩn khi bận tâm về những nỗi sợ hãi kiểu đó. Cuộc sống chẳng khác nào nô lệ nếu thiếu đi sự tự do được chết. Phương pháp chữa bệnh thông thường được tiến hành bằng cái giá của sinh mạng; họ tra tấn chúng ta bằng thuốc ăn da, dao kéo và việc cắt cụt chân tay; họ cấm đoán thức ăn và rút kiệt máu của chúng ta; tiến thêm một bước nữa là chúng ta được chữa khỏi một cách dứt khoát và thực sự. Tại sao tĩnh mạch cổ lại không thể do chúng ta tự định đoạt giống như tĩnh mạch tay? Bệnh nan y thì phải dùng thuốc mạnh. Servius vị học giả, khi bị chứng gout hành hạ, đã không nghĩ ra phương thuốc nào tốt hơn là bôi thuốc độc vào chân để làm chúng mất đi cảm giác; cứ để chúng bị gout tùy thích, miễn là chúng không còn cảm nhận được đau đớn. Chúa thừa rộng lượng để cho phép chúng ta ra đi khi ngài đẩy chúng ta vào hoàn cảnh mà việc sống còn tồi tệ hơn cái chết rất nhiều. Đầu hàng trước bệnh tật là sự yếu đuối, nhưng nuôi dưỡng chúng lại là sự điên rồ. Các triết gia phái Khắc kỷ cho rằng, đối với một người khôn ngoan, việc từ bỏ cuộc sống ngay cả ở đỉnh cao thịnh vượng là sống thuận theo tự nhiên, miễn là thời điểm thích hợp; còn với một kẻ ngốc, việc kéo dài sự sống dù khốn khổ lại là sai trái, miễn là kẻ đó không túng quẫn đến mức thiếu thốn những thứ mà họ cho là thuận theo tự nhiên. Cũng như tôi không phạm luật chống trộm khi tự tay biển thủ tiền của chính mình và cắt túi tiền của mình; cũng chẳng phạm luật chống kẻ phóng hỏa khi tự tay đốt khu rừng của chính mình; thì tôi cũng không nằm dưới đòn roi của luật pháp chống kẻ sát nhân khi tự đoạt bỏ mạng sống của chính mình. Hegesias từng nói rằng, điều kiện của cái chết cũng nên phụ thuộc vào sự lựa chọn của chúng ta giống như điều kiện của sự sống vậy. Và khi Diogenes gặp nhà triết học Speusippus — người đang sưng phồng vì chứng phù thũng lâu năm đến mức phải có người khiêng trên cáng — và được người này chào hỏi bằng câu: “Chúc anh sức khỏe,” Diogenes liền đáp: “Chẳng có sức khỏe nào dành cho anh đâu, kẻ đang thỏa mãn sống trong một hoàn cảnh thế kia.”

Và quả thực, không lâu sau đó, Speusippus vì đã quá mệt mỏi với tình trạng sống mòn mỏi ấy nên đã tìm cách để chết.

Tuy nhiên, điều này vẫn vấp phải những cuộc tranh luận; bởi nhiều người cho rằng chúng ta không thể tự ý rời khỏi pháo đài thế gian này nếu không có lệnh rõ ràng từ Đấng đã đặt chúng ta vào đó. Họ cho rằng việc quyết định khi nào chúng ta ra đi thuộc về Thiên Chúa — Đấng đặt chúng ta ở đây không chỉ cho riêng mình mà còn vì vinh quang của Ngài và lợi ích của kẻ khác — chứ không phải quyền của chúng ta tự ý rời đi mà không có sự cho phép của Ngài. Rằng chúng ta sinh ra không chỉ cho riêng mình mà còn cho tổ quốc, nơi có luật pháp đòi hỏi chúng ta phải chịu trách nhiệm vì lợi ích của chính họ, và có quyền kiện chúng ta tội ngộ sát; và nếu những luật pháp này bỏ sót hành vi đó, chúng ta sẽ bị trừng phạt ở thế giới bên kia như những kẻ đào ngũ khỏi nhiệm vụ của mình:

Sự kiên định thể hiện rõ hơn trong việc chịu đựng xiềng xích trói buộc chúng ta thay vì phá bỏ nó, và bằng chứng mạnh mẽ về lòng quả cảm nằm ở Regulus chứ không phải ở Cato. Chính sự thiếu suy nghĩ và thiếu kiên nhẫn đã đẩy chúng ta tới những vực thẳm này; không tai họa nào có thể khiến chân đức hạnh phải quay lưng; nàng tìm kiếm và đòi hỏi những điều tồi tệ, đớn đau và phiền muộn, coi đó là dưỡng chất nuôi dưỡng và nâng đỡ mình. Những lời đe dọa của bạo chúa, giàn tra tấn và cực hình chỉ cốt để kích thích và đánh thức nàng dậy:

Và như một người khác đã nói:

Hoặc như câu này:

Đó là sự hèn nhát chứ không phải đức hạnh khi nép mình dưới một luống cày hay nấm mồ để tránh những đòn giáng của số phận. Đức hạnh không bao giờ dừng lại hay bước chệch khỏi con đường của mình dẫu cho cuồng phong dữ dội nhất có thổi tới:

Phần lớn thời gian, việc trốn chạy khỏi những điều bất tiện này lại đưa chúng ta đến chính nó; thậm chí, khi cố gắng né tránh cái chết, chúng ta thường lao thẳng vào miệng nó:

giống như những kẻ vì sợ vực thẳm mà lao đầu xuống vực;

Plato, trong bộ Luật của mình, đã quy định một hình thức mai táng nhục nhã dành cho kẻ nào tước đoạt mạng sống và hành trình được định sẵn của người thân cận nhất và tốt đẹp nhất đối với mình, chính là bản thân hắn, khi không bị ép buộc bởi phán quyết công lý, không bởi bất kỳ tai ương bất ngờ và bất khả kháng nào của số phận, cũng không bởi nỗi nhục nhã khôn cùng nào, mà hoàn toàn chỉ bị đẩy đưa bởi sự hèn nhát và sự yếu đuối của một tâm hồn nhát gan. Và quan điểm coi nhẹ sự sống đó thật nực cười; bởi sự sống chính là bản thể của chúng ta, là tất cả những gì chúng ta có. Những thực thể cao quý và siêu việt hơn có thể chê bai bản thể chúng ta, nhưng việc chúng ta tự khinh miễn và coi nhẹ chính mình lại là điều đi ngược lại tự nhiên. Đó là một căn bệnh đặc trưng của loài người mà không loài sinh vật nào khác mắc phải: sự tự căm ghét và khinh bỉ chính mình. Và việc khao khát trở thành một kẻ khác không phải là chính mình cũng là một sự ve vuốt hư vinh cùng một ruộc; hệ quả của một ham muốn như vậy hoàn toàn chẳng ảnh hưởng gì đến chúng ta, bởi lẽ nó tự mâu thuẫn và tự triệt tiêu lẫn nhau. Kẻ nào mong muốn từ một con người biến thành một thiên thần thì chẳng làm được gì cho chính mình cả; hắn sẽ chẳng tốt đẹp hơn chút nào, bởi khi không còn là con người nữa, thì ai sẽ là kẻ vui mừng hay cảm nhận được ân huệ ấy thay cho hắn?

Sự an ninh, sự thảnh thơi, sự vô cảm, việc thoát khỏi những khổ ân của cuộc đời này mà chúng ta tưởng chừng có thể mua được bằng cái giá của cái chết, hóa ra lại chẳng đem lại cho chúng ta chút lợi ích nào cả. Kẻ trốn tránh chiến tranh sẽ chẳng ích gì khi không thể tận hưởng hòa bình; và kẻ tránh né phiền muộn cũng chẳng giải quyết được gì nếu không thể hưởng thụ sự bình yên.

Giữa những người thuộc hai luồng quan điểm đầu tiên ấy, đã có những cuộc tranh luận lớn về việc những nguyên nhân nào là đủ để biện minh cho sự suy tính về cái chết do tự tay mình định đoạt, thứ mà họ gọi là “Lối thoát hợp lý.” Bởi mặc dù họ cho rằng con người ta đôi khi phải chết vì những nguyên nhân tầm thường, xét thấy những thứ đang giam giữ chúng ta trong sự sống vốn cũng chẳng có trọng lượng gì cho cam, thì vẫn phải có một giới hạn nào đó. Có những tâm lý kỳ quái và vô lý không chỉ xúi giục từng cá nhân mà cả một dân tộc tự vẫn, những điều mà tôi đã từng dẫn chứng ở nơi khác; và chúng ta còn đọc được câu chuyện về những trinh nữ xứ Miletus, những người vì một hiệp ước điên rồ đã lần lượt treo cổ tự vẫn cho đến khi quan chức phải ra tay can thiệp, ban hành sắc lệnh rằng thi thể của những ai được tìm thấy trong tình trạng treo cổ như thế sẽ phải khỏa thân hoàn toàn và bị lôi đi khắp thành phố bằng chính sợi thừng đó. Khi Therykion cố gắng thuyết phục Cleomenes tự kết liễu đời mình vì tình thế ngặt nghèo của thời cuộc, và khuyên ông hãy chấp nhận cái chết kém vinh quang thứ hai này thay vì bỏ lỡ một cái chết vinh quang hơn trong trận chiến vừa thua, đồng thời không để cho kẻ thắng trận có cơ hội bắt mình phải chịu đựng một cái chết nhục nhã hay một cuộc đời ô nhục; Cleomenes, với một khí phách đích thực của người Khắc kỷ và Lacedaemon, đã bác bỏ lời khuyên đó như một hành động hèn nhát và thấp hèn. “Đó,” ông nói, “là phương thuốc chẳng bao giờ thiếu, nhưng là thứ mà một người không bao giờ được phép sử dụng chừng nào vẫn còn lại một inch hy vọng.” Ông bảo với hắn rằng: “Đôi khi việc sống mới đòi hỏi sự kiên định và lòng dũng cảm; ta muốn ngay cả cái chết của mình cũng phải mang lại ích lợi cho đất nước, và ta sẽ biến nó thành một hành động của danh dự và đức hạnh.” Mặc dù vậy, Therykion vẫn cho rằng mình đúng và tự lo liệu lấy số phận của hắn; và sau đó Cleomenes cũng làm điều tương tự, nhưng chỉ sau khi ông đã thử thách đến tận cùng ác ý của số phận. Mọi nỗi bất hạnh trên đời này đều chưa đủ trọng lượng để một con người phải tìm đến cái chết nhằm trốn tránh chúng; hơn nữa, vì trong nhân thế có quá nhiều biến cố đột ngột và khó lường, thật khó để phán quyết chính xác khi nào chúng ta đã cạn kiệt hy vọng:

Mọi thứ, theo một câu tục ngữ cổ, đều đáng để hy vọng chừng nào một người còn sống; ừ thì đúng thế, Seneca đáp lại, nhưng cớ sao người ta cứ mãi đinh ninh rằng số phận có thể quyết định mọi thứ đối với người đang sống, thay vì nghĩ rằng số phận chẳng có quyền hành gì đối với kẻ biết cách chết? Josephus, khi rơi vào tình thế hiểm nghèo và rõ mồn một trước mắt, khi toàn thể dân chúng nổi giận căm thù đến mức chẳng còn chút hy vọng thoát thân nào, thế nhưng, như chính ông kể lại, dù bị một người bạn khuyên nên tự kết liễu trong tình cảnh ngặt nghèo ấy, ông vẫn thật khôn ngoan khi giữ vững hy vọng cho mình. Và số phận đã bẻ lái tình thế vượt ngoài mọi mong đợi của con người, khiến ông thấy mình được cứu thoát mà chẳng gặp phải bất kỳ tổn hại nào. Trái lại, Brutus và Cassius đã vứt bỏ phần còn lại của tự do La Mã — thứ mà họ là những người bảo vệ duy nhất — bởi sự hấp tấp và liều lĩnh khi tự sát trước thời điểm thích hợp và trước một nguyên nhân chính đáng. Monsieur d’Anguien, trong trận chiến Serisolles, đã hai lần định tựâm vào ngực vì tuyệt vọng trước cục diện chiến trận vốn đang diễn ra vô cùng bất lợi ở phía chiến tuyến của ông; và chính sự hấp tấp đó suýt chút nữa đã tước đi cơ hội được tận hưởng một chiến thắng huy hoàng. Tôi từng thấy hàng trăm con thỏ trốn thoát ngay trong kẽ răng của bầy chó săn:

Pliny nói rằng chỉ có ba loại bệnh tật mà để trốn tránh chúng, con người ta có toàn quyền tự kết liễu đời mình; tệ nhất trong số đó là bệnh sỏi bàng quang khi chứng tiểu tiện bị tắc nghẽn.

Seneca cho rằng đó chỉ là những căn bệnh làm rối loạn chức năng của tâm trí trong một thời gian dài. Và từng có những người, để tránh một cái chết tồi tệ hơn, đã chọn tự tay định đoạt cái chết theo ý mình. Democritus, tướng quân của người Aetolian, khi bị bắt làm tù binh ở Rome, đã tìm cách trốn thoát vào ban đêm; nhưng vì bị lính canh sát nút truy đuổi, thà chịu chết dưới thanh gươm của chính mình chứ nhất định không chịu để bị bắt lại, ông đã tự đâm vào kiếm mà chết. Antinous và Theodotus, khi thành phố Epirus của họ bị người La Mã dồn vào chân tường, đã khuyên toàn thể dân chúng tự sát; nhưng vì người dân thà đầu hàng kẻ thù còn hơn, hai vị thủ lĩnh liền đi tìm cái chết mà họ hằng mong ước, lao thật dữ dội vào hàng ngũ quân địch với ý định tung đòn chí mạng nhưng hoàn toàn không thèm đỡ đòn. Đảo Gozzo cách đây vài năm bị người Thổ Nhĩ Kỳ chiếm đóng, một người Sicily có hai cô con gái xinh đẹp đang độ tuổi cập kê đã tự tay giết chết cả hai; người mẹ hòn hụt lao vào cứu con cũng bị ông sát hại nốt. Làm xong việc đó, ông xách nỏ và súng hỏa mai bước ra khỏi nhà, chỉ với hai phát đạn đã hạ gục hai tên lính Thổ đứng gần cửa nhất, rồi rút kiếm lao thẳng vào giữa đám đông. Ông bất ngờ bị vây kín và băm vắn thành từng mảnh, nhờ đó mà cứu gia đình và bản thân thoát khỏi cảnh nô lệ và nhục nhã. Những phụ nữ Do Thái, sau khi làm lễ cắt bì cho con, đã quăng cả con lẫn mình xuống vực thẳm để tránh sự tàn ác của Antigonus. Tôi từng nghe kể về một nhân vật quyền quý bị giam trong một nhà tù của chúng ta; khi hay tin bạn bè báo chắc chắn ông sẽ bị kết án, để tránh nỗi nhục nhã của một cái chết như thế, họ đã mua chuộc một vị linh mục đến khuyên ông rằng cách duy nhất để được giải thoát là hãy phó thác bản thân cho một vị thánh nào đó với những lời thề nguyện nhất định, đồng thời nhịn ăn suốt tám ngày liền mà không nạp bất kỳ chút thức ăn nào, mặc cho cơ thể có mệt mỏi hay kiệt sức đến đâu trong khoảng thời gian đó. Ông đã nghe theo lời khuyên ấy, và cứ thế tự sát mà chẳng hề hay biết, chẳng mảy may ngờ rằng mình đang đối mặt với cái chết hay nguy hiểm trong cuộc thử nghiệm ấy. Scribonia khi khuyên người cháu là Libo nên tự sát thay vì chờ đợi nhát dao công lý, đã bảo rằng việc giữ lại mạng sống để rồi dâng nó vào tay những kẻ chỉ ba bốn ngày nữa là lôi đi hành quyết hóa ra là đang làm việc thay cho kẻ khác, và việc giữ lại giọt máu của mình để làm thỏa mãn ác ý của kẻ thù chẳng khác nào tiếp tay cho chúng.

Chúng ta đọc thấy trong Kinh thánh rằng Nicanor, kẻ bách hại luật pháp của Chúa, đã phái binh lính đến bắt giữ cụ già đạo đức Razis — người được vinh danh vì đức hạnh là cha đẻ của người Do Thái. Cụ già thấy không còn đường cứu rỗi, khi cổng nhà đã bị đốt cháy và quân thù sắp sửa ập vào bắt giữ, đã chọn cách chết một cách vinh quang thay vì lọt vào tay lũ ác nhân để rồi bị chúng phanh thây tàn nhẫn, làm tổn hại đến phẩm giá và danh vọng của mình. Cụ dùng gươm tự đâm vào ngực, nhưng vì vội vàng nên nhát kiếm chưa chí mạng; cụ liền chạy ra và lao đầu từ trên đỉnh tường xuống giữa đám giặc. Chúng liền tản ra nhường chỗ, khiến cụ cắm thẳng đầu xuống đất. Mặc dù vậy, vẫn cảm thấy trong người còn chút hơi thở, cụ xốc lại tinh thần, đứng bật dậy với cơ thể đẫm máu và đầy thương tích, lách qua đám đông để đến một mỏm đá cheo leo. Ở đó, qua một vết thương, cụ tự moi ruột mình ra, dùng cả hai tay xé nát và giật đứt chúng rồi ném vào mặt những kẻ đang truy đuổi, miệng không ngừng kêu van và cầu xin sự trừng phạt của Thiên Chúa giáng xuống đầu chúng vì tội ác và sự bất công mà chúng gây ra.

Trong số những hành vi bạo lực nhắm vào lương tâm, hành vi xâm phạm trinh tiết của phụ nữ theo quan điểm của tôi là điều đáng phải tránh né nhất. Bởi lẽ có một khoái cảm nào đó vốn tự nhiên hòa quyện vào trong đó, và chính vì thế nên sự cự tuyệt trong ấy không thể hoàn toàn trọn vẹn, khiến cho hành vi bạo lực dường như bị pha lẫn với một chút sự thuận tình từ phía người bị ép buộc. Lịch sử giáo hội có rất nhiều ví dụ về những người sùng đạo đã đón nhận cái chết để bảo vệ bản thân khỏi những nhục hình mà bạo chúa chuẩn bị sẵn nhằm chống lại tôn giáo và danh dự của họ. Pelagia và Sophronia, cả hai đều được phong thánh; người thứ nhất cùng mẹ và các chị em gái đã gieo mình xuống sông để tránh bị lũ lính cưỡng bức, còn người thứ hai cũng tự sát để tránh bị hoàng đế Maxentius lăng nhục.

Lịch sử đâu đâu cũng tràn ngập những con người bằng hàng ngàn cách khác nhau đã đổi chác một cuộc đời đau đớn và chán ngắt để lấy cái chết. Lucius Aruntius tự sát để trốn chạy, theo lời ông nói, cả tương lai lẫn quá khứ. Granius Silvanus và Statius Proximus, sau khi được Nero ân xá, đã tự vẫn; hoặc vì khinh bỉ việc phải sống nhờ ân huệ của một kẻ đồi bại như thế, hoặc để không phải bận tâm lo lắng vào một dịp khác trong việc xin một lệnh ân xá lần thứ hai, xét đến bản tính hay nghi kỵ và dễ tin vào những lời buộc tội chống lại người quân tử của y. Spargapises, con trai của nữ hoàng Tomyris, khi làm tù binh chiến tranh dưới tay Cyrus, đã lợi dụng ân huệ đầu tiên mà Cyrus ban cho là lệnh cởi trói để tự sát, bởi hắn chẳng màng đến bất kỳ lợi ích nào của sự tự do ngoài việc tự trả thù cho nỗi nhục bị bắt làm tù binh. Boges, tổng đốc thành Eion dưới triều vua Xerxes, khi bị quân đội Athens dưới sự chỉ huy của Cimon vây hãm, đã từ chối những điều kiện được đưa ra để có thể bình an trở lại châu Á cùng toàn bộ tài sản. Hắn không tài nào chịu đựng nổi việc sống sót sau khi để mất vùng đất mà chủ nhân đã giao phó cho mình canh giữ. Vì vậy, sau khi bảo vệ thành phố đến cùng trời cuối đất, khi chẳng còn gì để ăn, hắn trước tiên ném toàn bộ vàng bạc và mọi thứ có thể trở thành chiến lợi phẩm của kẻ thù xuống sông Strymon. Sau đó, hắn cho chất một giàn hỏa táng lớn, ra lệnh cắt cổ toàn bộ phụ nữ, trẻ em, thê thiếp và tôi tớ rồi quém thi thể họ vào đống lửa, và cuối cùng tự mình nhảy vào ngọn lửa ấy.

Ninachetuen, một lãnh chúa người Ấn Độ, ngay khi vừa nghe chút gió thoảng về quyết định của Phó vương Bồ Đào Nha muốn tước đoạt quyền chỉ huy của ông ở Malacca mà không có lý do rõ ràng để chuyển giao nó cho vua Campar, ông đã đưa ra quyết định này cho riêng mình: Ông cho dựng một cái giàn giáo dài hơn rộng, được chống đỡ bởi những cây cột trang hoàng vương giả bằng thảm thêu và rải đầy hoa cùng vô số hương liệu. Mọi thứ đã chuẩn bị xong xuôi, trong bộ áo bằng vải dệt kim tuyến nạm đầy những viên ngọc quý có giá trị lớn, ông bước ra đường và leo lên các bậc thang dẫn đến giàn giáo, nơi ở một góc đã được thắp sẵn một giàn củi thơm. Mọi người đổ xô đến để xem những sự chuẩn bị bất thường này nhằm mục đích gì; lúc ấy, Ninachetuen với vẻ mặt nam tính nhưng đầy phẫn uộ, đã trình bày về việc ông đã cưu mang quốc gia Bồ Đào Nha nhiều thế nào và ông đã giữ gìn phẩm chất trung thực ra sao trong nhiệm vụ của mình. Rằng việc ông đã nhiều lần tay gươm giáo trong tay thể hiện trước mặt người khác rằng danh dự quý giá hơn sinh mạng biết bao, thì nay ông không thể vứt bỏ mối quan tâm đến nó cho chính bản thân mình được. Rằng khi số phận tước đi mọi phương tiện để chống lại sự sỉ nhục giáng lên đầu, thì ít nhất lòng dũng cảm cũng buộc ông phải giải thoát bản thân khỏi cảm giác cay đắng ấy, không để mình trở thành trò cười cho dân chúng hay trở thành khúc khải hoàn cho những kẻ kém cỏi hơn ông. Nói xong, ông lao mình vào ngọn lửa.

Sextilia, vợ của Scaurus, và Paxaea, vợ của Labeo, để khích lệ chồng mình tránh khỏi những hiểm họa đang chực chờ — nơi họ chẳng dính líu gì ngoài tình nghĩa phu thê — đã tự nguyện hy sinh mạng sống để sát cánh cùng chồng trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy như một sự đồng hành và làm gương. Những gì họ làm cho chồng mình thì Cocceius Nerva đã làm cho tổ quốc, với ít ích lợi hơn nhưng tình cảm thì tương đương. Vị luật sư vĩ đại này đang sống trong thời kỳ thịnh vượng về sức khỏe, tài sản, danh tiếng và sự sủng ái của Hoàng đế, nhưng lại chẳng có lý do gì để tự sát ngoài nỗi xót xa thuần túy trước tình cảnh khốn cùng của nền Cộng hòa La Mã. Không gì có thể tô điểm thêm cho vẻ đẹp trong cái chết của người vợ thuộc hạ thân cận của Augustus: Khi Augustus phát hiện ra chồng cô đã buột miệng tiết lộ một bí mật quan trọng mà nhà vua đã tin tưởng giao phó cho anh ta, thì vào một buổi sáng nọ khi anh ta đến triều cất, nhà vua đã tiếp đón rất lạnh nhạt và lườm nguýt anh ta. Anh ta thất thểu trở về nhà đầy tuyệt vọng, rồi đau khổ kể cho vợ nghe rằng vì gặp phải tai họa này, anh ta đã quyết định tự vẫn. Ngay lập tức, cô đáp gọn lỏn: “Anh làm vậy là phải lắm, bởi vì đã bao nhiêu lần chứng kiến cái tật không giữ được mồm miệng của em mà anh vẫn không biết đường rút kinh nghiệm; nhưng hãy để em chết trước đã,” và chẳng nói thêm lời nào, cô tự đâm một nhát kiếm xuyên qua ngực mình. Vibius Virrius, khi tuyệt vọng trước sự an nguy của thành phố đang bị người La Mã vây hãm và mất hết hy vọng về lòng thương xót của chúng, trong phiên họp cuối cùng của viện nguyên lão thành phố, sau nhiều lời lẽ biện minh cho hướng đi đó, đã kết luận rằng phương cách cao cả nhất để trốn chạy số phận chính là tự tay mình định đoạt. Ông bảo với họ rằng kẻ thù sẽ phải nể trọng họ, và Hannibal sẽ nhận ra mình đã bỏ rơi biết bao nhiêu người bạn trung thành; đồng thời ông mời gọi những ai đồng tình với lời khuyên của mình hãy đến dự bữa tối thị soạn mà ông đã chuẩn bị sẵn ở nhà. Sau khi ăn uống no say, họ sẽ cùng nhau uống một thứ nước mà ông đã pha chế sẵn. Đó là một thức uống, ông nói, sẽ giải thoát thân xác chúng ta khỏi những cực hình, tâm hồn khỏi sự lăng nhục, và mắt tai khỏi cảm giác chứng kiến quá nhiều thảm cảnh căm hờn mà kẻ chiến bại phải gánh chịu từ những kẻ chinh phạt tàn độc và bất dung. Ông nói mình đã bố trí người ném thi thể họ lên giàn hỏa táng trước cửa nhà ngay sau khi họ qua đời. Rất nhiều người đã tán thành quyết định táo bạo này nhưng số người làm theo thì rất ít; có hai mươi bảy nghị sĩ đã đi theo ông. Sau khi cố gắng vùi lấp ý nghĩ định mệnh đó trong men rượu, họ kết thúc bữa tiệc bằng chén thuốc tử biệt; rồi ôm lấy nhau, sau khi cùng nhau than khóc cho vận mệnh của tổ quốc, người thì trở về nhà riêng, kẻ thì ở lại để chịu chung ngọn lửa thiêu cùng Vibius. Và họ đã chết lâu đến nỗi, hơi men đã ngấm sâu vào các mạch máu và do đó làm chậm lại tác dụng của chất độc, khiến một số người suýt chút nữa đã tận mắt chứng kiến kẻ thù tràn vào bên trong tường thành Capua — nơi thất thủ vào sáng hôm sau — và phải gánh chịu những bi kịch mà họ đã cố dùng mọi giá để né tránh. Jubellius Taurea, một công dân khác cùng xứ sở, khi thấy viên Tổng tư lệnh Fulvius đang quay về sau cuộc thảm sát nhục nhã mà hắn gây ra cho hai trăm hai mươi lăm vị nguyên lão, đã cất tiếng gọi giật giọng đầy phẫn nộ và chặn hắn lại: “Hãy ra lệnh đi,” ông nói, “để ai đó kết liễu ta sau cuộc tàn sát bao nhiêu con người kia, để ngươi có thể khoác lác rằng mình đã giết được một kẻ dũng cảm hơn ngươi bội phần.” Fulvius tỏ ý khinh miễn ông như một kẻ tâm thần, vả lại hắn cũng vừa nhận được những bức thư từ Rome quở trách sự vô nhân tính trong các vụ hành quyết của mình khiến tay chân bị ràng buộc. Jubellius liền tiếp lời: “Vì tổ quốc đã bị chiếm đoạt, bạn bè đã chết, và ta đã tự tay giết vợ con để giải cứu họ khỏi cảnh hoang tàn đổ nát này, mà ta lại bị từ chối cái chết của những người đồng hương, thì thôi, hãy cho ta mượn đức hạnh để trả thù cái cuộc đời đáng ghét này.” Vừa nói dứt lời, ông rút ra thanh đoản kiếm vẫn giấu sẵn trong người, tự đâm phập vào ngực, ngã ngửa ra phía sau và trút hơi thở cuối cùng ngay dưới chân viên tổng tư lệnh.

Khi Alexander bao vây một thành phố ở Ấn Độ, những người bên trong vì bị dồn vào chân tường đã hạ quyết tâm mạnh mẽ tước đi niềm vui chiến thắng của hắn. Họ đồng loạt tự thiêu cùng với thành phố để thách thức lòng nhân từ của hắn — một kiểu chiến tranh kỳ lạ khi kẻ thù thì tìm cách cứu họ còn họ lại tìm cách tự hủy diệt, làm mọi thứ để chắc chắn chết hệt như cách con người ta làm để giành lấy sự sống.

Astapa, một thành phố ở Tây Ban Nha, khi thấy tường thành và hệ thống phòng thủ quá yếu ớt không thể chống lại người La Mã, cư dân nơi đây đã chất toàn bộ tài sản và đồ đạc thành một đống lớn giữa quảng trường công cộng. Họ đặt tất cả phụ nữ và trẻ em lên đống tài sản đó, chất chung quanh bằng củi và vật liệu dễ cháy để có thể bốc cháy nhanh chóng, rồi cử năm mươi thanh niên ở lại để thực thi kế hoạch đã định. Sau đó, họ thực hiện một cuộc đột kích tử chiến; nơi vì sức lực không đủ để chiến đấu thắng lợi, họ đã để cho từng người bị giết sạch. Năm mươi thanh niên kia, sau khi tàn sát mọi sinh linh trong toàn thành phố và phóng hỏa đốt đống lửa lớn ấy, cuối cùng đã tự mình nhảy vào ngọn lửa. Họ khép lại sự tự do cao quý của mình bằng một cái chết lặng lẽ thay vì chìm trong đau thương và nhục nhã, cho kẻ thù hiểu rằng nếu số phận mỉm cười, họ hoàn toàn có đủ dũng khí để cướp lấy chiến thắng từ tay chúng, cũng như họ đủ sức làm cho chiến thắng ấy trở nên vô nghĩa, đáng sợ và thậm chí là tử vong đối với những kẻ bị sức hút của vàng chảy ra trong ngọn lửa dụ dỗ mà tiến lại gần. Rất nhiều kẻ đã bị ngạt thở và chết cháy ở đó vì không thể lùi lại do dòng người phía sau cứ chen chúc đẩy tới.

Người Abydean, khi bị vua Philip dồn ép, cũng ôm ấp quyết định tương lai hệt như vậy; nhưng vì không có thời gian, họ đã không thể thực hiện được. Nhà vua, người vô cùng kinh hãi trước sự hành động bốc đồng và liều lĩnh này (sau khi số kho báu và tài sản mà họ định đem thiêu đã bị tịch thu), quyết định rút quân và ban cho họ thời hạn ba ngày để tự sát, cốt để họ có thể thực hiện điều đó một cách ngăn nắp và dễ dàng hơn. Khoảng thời gian đó đã bị lấp đầy bởi máu và những vụ tàn sát vượt xa mọi mức độ tàn độc của chiến tranh, đến nỗi chẳng còn sót lại dù chỉ một linh hồn nào có khả năng tự kết liễu đời mình. Có vô số ví dụ về những quyết định tập thể tương tự, thoạt nhìn có vẻ hung hãn và tàn khốc hơn khi hiệu ứng mang tính cộng đồng rộng lớn, nhưng thực chất lại ít đau đớn hơn so với việc tự sát đơn lẻ. Những gì mà lý lẽ và sự thuyết phục không thể lay chuyển ở từng cá nhân, thì chúng lại làm được ở tất cả mọi người, khi ngọn lửa của tập thể cuốn phăng đi phán đoán của từng người.

Những kẻ tử tù ở thời Tiberius nếu muốn sống để chờ ngày bị hành quyết thì sẽ bị tịch thu tài sản và bị tước quyền mai táng; còn những ai tự sát để đi trước pháp luật thì được chôn cất và có quyền định đoạt tài sản của mình bằng di chúc.

Nhưng đôi khi con người ta thèm khát cái chết vì hy vọng về một điều tốt đẹp lớn lao hơn. “Tôi khao khát,” thánh Phaolô nói, “được ở bên Chúa,” và “ai sẽ giải thoát tôi khỏi những xiềng xích này?” Cleombrotus xứ Ambracia, sau khi đọc cuốn Phaedo của Plato, đã dâng trào niềm khao khát cuộc sống mai hậu mãnh liệt đến mức chẳng vì lý do gì khác, ông đã gieo mình xuống biển. Qua đó ta thấy việc chúng ta gọi sự tự giải thoát này là sự tuyệt vọng thật là sai lầm biết bao, trong khi thực chất nó thường bị thúc đẩy bởi sự khao khát hy vọng, và thường là một ước muốn bình thản, điềm tĩnh xuất phát từ một phán đoán chín chắn và thấu đáo. Jacques du Chastel, giám mục xứ Soissons, trong chiến dịch viễn chinh nước ngoài của thánh Louis, khi thấy nhà vua và toàn quân đang đứng trước bờ vực phải rút về Pháp mà bỏ dở những công việc liên quan đến tôn giáo, đã quyết định thà đi thẳng lên thiên đàng còn hơn. Do đó, sau khi từ biệt bạn bè một cách trang nghiêm, ông một mình một ngựa lao thẳng vào hàng ngũ quân địch trước sự chứng kiến của tất cả mọi người, và ngay lập tức bị chém ra thành trăm mảnh. Ở một vương quốc nọ thuộc thế giới mới được phát hiện, vào một ngày rước lễ trang trọng, khi bức tượng vị thần mà họ tôn sùng được kéo đi diễu hành công cộng trên một cỗ xe lớn kỳ lạ; bên cạnh cảnh tượng nhiều người tự cắt da thịt mình để dâng hiến cho thần, còn có rất nhiều người khác nằm rạp xuống đường để cho những bánh xe nặng trịch nghiền nát và xé nát thân thể mình. Mục đích của họ là để đạt được sự tôn sùng như một bậc thánh sau khi chết, và họ thực sự nhận được sự tôn sùng đó. Cái chết của vị giám mục tay gươm giáo trong tay mang nhiều nét hào hùng hơn và ít cảm tính hơn, bởi sự cuồng nhiệt của trận chiến đã tước đi một phần cảm giác sau này.

Có những chính quyền từng đứng ra quản lý sự công bằng và thời điểm thích hợp cho cái chết tự nguyện. Thuở xưa, tại thành phố Marseille của chúng tôi, người ta luôn chuẩn bị sẵn một loại thuốc độc chiết xuất từ cây độc cần bằng ngân sách công quỹ dành cho những ai muốn đẩy nhanh ngày tàn của mình. Trước khi uống, họ phải trình bày trước hội đồng sáu trăm người là viện nguyên lão của thành phố về những lý do và động cơ của dự định đó; và nếu không có sự cho phép của quan chức cùng với những lý do chính đáng thì việc tự bạo hành bản thân là hoàn toàn phi pháp. Đạo luật tương tự cũng từng được áp dụng ở những nơi khác.

Sextus Pompeius, trong chuyến viễn chinh đến châu Á, đã ghé qua đảo Cea ở Negropont. Khi ông ở đó, theo lời kể của một người đi cùng ông, một phụ nữ quý tộc lớn tuổi sau khi trình bày trước các bồi thẩm đoàn lý do vì sao bà quyết định chấm dứt cuộc đời mình, đã mời Pompeius đến chứng kiến cái chết của bà để tăng thêm phần vinh dự. Ông đã chấp nhận lời mời đó; và sau khi đã dùng tài hùng biện vốn rất uyên bác của mình cùng những lời khuyên nhủ để cố gắng khuyên can bà từ bỏ ý định nhưng đều vô ích, cuối cùng ông đành thuận theo ý muốn của bà. Bà đã bước qua tuổi chín mươi với một trạng thái tinh thần và thể chất vô cùng minh mẫn, hạnh phúc. Khi nằm trên giường, được trang điểm kỹ càng hơn ngày thường và chống tay lên khuỷu tay, bà nói: “Hỡi Sextus Pompeius, cầu xin các vị thần — và đúng hơn là những vị thần mà ta sắp rời bỏ chứ không phải những vị thần ta sắp tìm đến — ban thưởng cho anh, vì anh đã không chê bai việc vừa làm cố vấn cho cuộc đời ta lại vừa làm chứng nhân cho cái chết của ta. Phần ta, vì luôn trải qua những nụ cười của số phận, nên để đề phòng ham muốn sống quá lâu khiến ta phải chứng kiến gương mặt trái ngược của nó, ta đang chuẩn bị ra đi bằng một cái chết hạnh phúc để giải thoát phần linh hồn còn lại, để lại phía sau hai người con gái ruột thịt và một đạo quân cháu chắt.” Nói xong, sau khi đưa ra vài lời khuyên nhủ gia đình hãy sống hòa thuận, bà chia tài sản cho họ, phó thác những vị thần hộ mệnh trong nhà cho cô con gái lớn, rồi kiên quyết nâng chén thuốc độc. Sau khi cầu nguyện và khấn vái Thần Hermes dẫn đường đến một chốn bình yên ở thế giới bên kia, bà dứt khoát ngửa cổ uống cạn chén thuốc tử biệt. Làm xong việc đó, bà thản điều trò chuyện với những người có mặt về tiến triển của chất độc trong cơ thể, và cảm giác cái lạnh ngấm dần qua từng bộ phận từ dưới lên trên, cho đến khi cuối cùng bà thông báo rằng nó bắt đầu lan đến tim và ruột. Lúc đó, bà gọi các con gái đến để thực hiện nghĩa vụ cuối cùng là nhắm mắt cho mình.

Pliny kể cho chúng ta nghe về một bộ tộc Hyperborean nọ, nơi nhờ bầu không khí ôn hòa dễ chịu, cuộc đời của cư dân hiếm khi kết thúc bằng cách nào khác ngoài sự tự nguyện từ bỏ cuộc sống. Những con người đã mệt mỏi và chán ngấy với việc tồn tại này có tục lệ là khi đã ở tuổi rất cao, sau khi đã cùng nhau ăn uống vui vẻ, họ sẽ tự gieo mình xuống biển từ đỉnh của một vách đá được quy định riêng cho mục đích đó. Nỗi đau đớn và nỗi sợ hãi về một cái chết tồi tệ hơn đối với tôi chính là những động lực dễ được tha thứ nhất.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.