Tuyển Tập Tiểu Luận Michel De Montaigne

Lượt đọc: 1601 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
— Lời Biện Hộ Cho Raimond Sebond.

❊ ❊ ❊

Học thức quả thực là một thành tựu vô cùng lớn lao và thiết thực; và những kẻ khinh miệt nó đã phơi bày trọn vẹn sự kém cỏi của bản thân. Dẫu vậy, tôi không đề cao học thức đến mức thái quá như một số người khác — chẳng hạn như nhà triết học Herillus, người coi học thức là nguồn gốc của điều thiện tối cao và từng cả quyết rằng “chỉ có học thức mới có thể làm chúng ta trở nên khôn ngoan và mãn nguyện”. Tôi không tin điều đó, cũng chẳng tin những gì người ta từng nói rằng học thức là cội nguồn của mọi đức hạnh, và rằng mọi thói hư tật xấu đều xuất phát từ sự ngu dốt. Nếu điều này là sự thật, nó sẽ đòi hỏi một sự giải thích dài dòng vô tận. Nhà tôi từ xưa đã rộng cửa đón tiếp những bậc thức giả, và họ vốn rất quen thuộc với chốn này; bởi thân phụ tôi, người đã quản gia từ năm mươi năm trở lên, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi ngọn lửa nhiệt thành mới mẻ mà vua Francis đệ Nhất dành cho văn chương và công cuộc chấn hưng tri thức, đã không quản công sức và tiền bạc để tìm kiếm mối thâm giao với các bậc hiền triết. Người coi họ như những bậc thánh nhân, những người mang trong mình nguồn linh cảm đặc biệt từ sự khôn ngoan của Thần linh; ghi chép lại những lời vàng ý ngọc của họ như những lời sấm truyền, và dành cho họ sự kính trọng cùng lòng tôn sô tín thành kính lớn lao biết bao nhiêu khi mà ngài càng ít có khả năng phán đoán về những điều ấy — bởi thân phụ tôi, cũng như các bậc tiền bối, vốn không hề biết chữ. Phần tôi, tôi quý trọng họ, nhưng không tôn sủng họ.

Giữa những người đó có Peter Bunel, một nhân vật nổi danh về sự uyên bác vào thời của ông, sau khi lưu lại Montaigne vài ngày cùng với một số người cùng chí hướng trong thân tộc của thân phụ tôi, lúc ra về đã biếu ngài một cuốn sách nhan đề Theologia naturalis; sive Liber Creaturarum, magistri Raimondi de Sebonde. Vì tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha rất quen thuộc với thân phụ tôi, và cuốn sách này lại được viết bằng một thứ tiếng lai tạp giữa tiếng Tây Ban Nha với các vĩ ngữ tiếng Latinh, ngài hy vọng rằng với một chút giúp đỡ, mình có thể hiểu được nó. Do đó, ông đã giới thiệu nó cho ngài như một tác phẩm vô cùng hữu ích, rất phù hợp với hoàn cảnh thời bấy giờ — thời điểm mà những giáo lý mới mẻ của Luther bắt đầu thịnh hành và làm lung lay đức tin cổ truyền của chúng ta ở nhiều nơi. Trong việc này, thân phụ tôi đã có một quyết định vô cùng sáng suốt, khi ngài bằng sự minh mẫn của mình đã sớm tiên liệu rằng mầm mống của sự nhiễu nhương này sẽ dễ dàng trượt dài thành một chủ nghĩa vô thần đáng kinh tởm. Bởi vì quần chúng, vốn không có khả năng phán đoán sự việc, thường để bản thân bị cuốn theo tình cờ và bề ngoài — một khi họ đã cả gan khinh miệt và phán xét những tín điều mà trước đó họ từng vô cùng tôn kính, chẳng hạn như những tín điều liên quan đến ơn cứu rỗi của họ, và khi một số điều khoản trong tôn giáo bị đưa ra hoài nghi và tranh cãi, thì chẳng bao lâu sau, họ cũng sẽ quăng mọi phần khác của đức tin vào sự bấp bênh tương tự, vì trong tay họ chẳng còn lại bất kỳ uy quyền hay nền tảng nào khác ngoài những thứ họ vừa mới đập đổ — sẽ hất vủi mọi ấn tượng từng tiếp nhận từ uy quyền của luật pháp hay sự tôn nghiêm của phong tục cổ truyền như thể một thứ ách thống trị bạo tàn:

Và họ quyết định từ nay về sau sẽ không chấp nhận bất cứ điều gì nếu chưa tự mình phán xét và ban phát sự ưng thuận riêng.

Chuyện xảy ra là, một thời gian ngắn trước khi qua đời, thân phụ tôi tình cờ tìm thấy cuốn sách này nằm dưới một chồng giấy tờ bị bỏ quên, liền ra lệnh cho tôi dịch nó sang tiếng Pháp. Dịch những tác giả dạng này, nơi chẳng có gì nhiều ngoài nội dung cần truyền đạt, thì thật là hay; nhưng mưu cầu dịch những tác giả chú trọng đến vẻ đẹp ngôn từ và sự thanh nhã trong văn phong lại là một việc đầy hiểm nguy, nhất là khi phải chuyển ngữ chúng sang một thứ tiếng nghèo nàn hơn. Đó là một công việc lạ lùng và chưa từng có đối với tôi; nhưng vì lúc ấy tình cờ chẳng có việc gì khác để làm, lại không thể chối từ mệnh lệnh của người cha tuyệt vời nhất trên đời, tôi đã cố gắng làm hết sức mình. Và ngài hài lòng đến mức ra lệnh đem in nó, việc này đã được thực hiện sau khi ngài qua đời.

Tôi thấy các tư tưởng của tác giả này vô cùng xuất sắc, cấu trúc tác phẩm mạch lạc, và dụng ý thì tràn đầy lòng đạo đức. Và bởi vì nhiều người rất thích đọc nó, đặc biệt là các quý bà — những người mà chúng ta phải phục vụ nhiều nhất —, tôi vẫn thường nghĩ đến việc giúp họ gỡ bỏ hai phản đối chính mà người ta hay chắp nối vào tác phẩm này. Dụng ý của ông rất táo bạo và quả cảm, khi ông dùng các lý lẽ nhân sinh và tự nhiên để thiết lập và minh chứng, nhằm chống lại bọn vô thần, tất cả các điều khoản của đạo Thiên Chúa. Phải thừa nhận rằng, trong việc này ông tỏ ra kiên định và thành công đến mức tôi không nghĩ ai có thể làm tốt hơn trên chủ đề ấy; thậm chí, tôi tin rằng chẳng có lấy một ai sánh kịp ông. Tác phẩm này đối với tôi có vẻ quá ư tuyệt mĩ và giàu có đối với một tác giả ít tên tuổi đến vậy — người mà tất cả những gì chúng ta biết về ông chỉ là một y sĩ người Tây Ban Nha hành nghề tại Toulouse cách đây khoảng hai trăm năm. Tôi bèn hỏi Adrian Turnebus, bậc thông kim bác cổ, rằng ngài nghĩ sao về cuốn sách đó. Ngài đáp: “Tôi cho rằng nó là một bản tóm lược được rút ra từ Thánh Thomas dũng mãnh; bởi vì quả thực, tâm trí của ngài, vốn tràn ngập uy quyền vô tận và sự tinh tế đáng ngưỡng mộ, mới là kẻ duy nhất có khả năng sản sinh ra những tư tưởng như thế.” Dù thế nào đi nữa, bất kể tác giả thực sự là ai (và thật không hợp lý nếu tước đoạt danh xưng đó của Sebond khi chưa có gì chắc chắn hơn), ông vẫn là một con người có phán đoán vĩ đại và tài năng đáng khâm phục nhất.

Điều đầu tiên người ta quở trách trong tác phẩm của ông là: “Người theo đạo Thiên Chúa thật sai lầm khi đặt niềm tin của mình vào lý trí con người, thứ vốn chỉ có thể được thấu triệt bằng đức tin và ơn huệ mặc khải riêng biệt từ Thiên Chúa.” Phản đối này thoạt trông có vẻ xuất phát từ lòng nhiệt thành với đạo giáo, thế nên chúng ta cần cố gắng thuyết phục những ai đưa ra ý kiến ấy bằng sự ôn hòa và tôn kính lớn lao hơn. Đây là một nhiệm vụ thích hợp hơn với một nhà thần học uyên bác thay vì một kẻ chẳng biết gì về thần học như tôi; dẫu vậy, tôi cho rằng đối với một sự việc thiêng liêng, cao cả và vượt xa mọi trí tuệ con người — chính là chân lý mà lòng nhân hậu của Thiên Chúa đã đoái thương soi sáng cho chúng ta —, Ngài thiết yếu phải ban thêm sự trợ giúp như một ân huệ và đặc ân vô cùng phi thường, để chúng ta có thể nhận thức và khắc ghi chân lý ấy vào tâm trí. Và tôi không tin rằng những phương thế thuần túy mang tính con người có đủ khả năng làm được điều đó: bởi nếu chúng có thể, thì biết bao tâm hồn cao quý và hiếm có, vốn được phú bẩm dồi dào sức mạnh tự nhiên trong các thời đại trước, đã chẳng thể nào thất bại trong việc dùng lý trí của mình để vươn tới sự hiểu biết này. Chỉ có đức tin mới là thứ làm cho tâm trí thực sự thấu triệt những mầu nhiệm thâm sâu của tôn giáo chúng ta. Tuy nhiên, đồng thời, tôi không nói rằng việc vận dụng những công cụ tự nhiên và nhân thế mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta để phụng sự đức tin lại là một mưu cầu không đáng trân trọng hay không đáng ca ngợi. Không thể nghi ngờ gì rằng đây chính là công dụng cao quý nhất mà chúng ta có thể trao cho chúng; và không có hoài bão nào của một người Kitô hữu cao cả hơn việc biến nó thành mục đích và cứu cánh của mọi nỗ lực học hành nhằm mở rộng và làm lớn mạnh chân lý của niềm tin mình. Chúng ta không chỉ thỏa mãn với việc phụng sự Thiên Chúa bằng linh hồn và trí tuệ, mà hơn thế nữa, chúng ta còn nợ Ngài sự tôn kính về mặt thể xác, đem các chi thể, cử động cùng những sự vật bên ngoài ra để tôn vinh Ngài. Ở đây chúng ta cũng phải làm như vậy, phải đồng hành đức tin với tất cả lý trí mà mình có, nhưng luôn luôn với sự dè dặt này: không được ảo tưởng rằng đức tin phụ thuộc vào chúng ta, cũng không được nghĩ rằng các lập luận và nỗ lực của chúng ta có thể vươn tới một tầm vóc hiểu biết siêu nhiên và thiêng liêng đến thế. Nếu đức tin không ngự trị trong chúng ta bằng một thứ ánh sáng truyền ban phi thường; nếu nó không bước vào qua những con đường nhân thế, thì nó không hiện diện trong chúng ta với đúng phẩm giá và sự rực rỡ đích thực của nó. Thế nhưng, tôi e rằng chúng ta chỉ đang sở hữu nó theo cái cách thứ hai này mà thôi.

Nếu chúng ta bám lấy Thiên Chúa nhờ sự trung gian của một đức tin sống động; nếu chúng ta bám lấy Ngài qua chính Ngài chứ không phải qua bản thân chúng ta; nếu chúng ta có một nền tảng và chỗ dựa mang tính thần thánh, thì những biến cố trần thế sẽ không có sức mạnh làm chúng ta rung chuyển như chúng vẫn thường làm. Pháo đài của chúng ta sẽ không đầu hàng trước một cuộc pháo kích yếu ớt nhường ấy. Niềm ái mộ sự mới lạ, sự áp bức của các bậc quân vương, sự thắng thế của một phe phái, hay sự thay đổi liều lĩnh và ngẫu nhiên của các quan niệm — tất cả sẽ chẳng có đủ quyền năng làm lung lay và biến chất đức tin của chúng ta. Khi ấy, chúng ta sẽ không phó mặc nó cho sự xót thương của bất kỳ lý luận mới mẻ nào, cũng chẳng bỏ mặc nó trước mọi thứ hùng biện trên đời này. Chúng ta sẽ hiên ngang chống lại cơn thịnh nộ của những con sóng ấy bằng một sự kiên định vững như bàn thạch và chẳng chút khuất phục:

Nếu chúng ta dù chỉ được chạm đến bởi tia sáng thần thánh ấy, nó sẽ tỏa rọi khắp mọi nơi; không chỉ lời nói mà cả hành động của chúng ta cũng sẽ mang theo ánh hào quang và vẻ rực rỡ của nó; bất cứ điều gì xuất phát từ chúng ta đều sẽ ánh lên thứ ánh sáng cao cả này. Chúng ta phải cảm thấy hổ thẹn khi thấy rằng trong mọi giáo phái nhân gian, chưa từng có phe phái nào mà các tín đồ lại không ít thì nhiều điều chỉnh lối sống và hành vi của mình cho phù hợp với giáo lý đó; thế mà một tôn giáo thiêng liêng và từ trời cao rơi xuống này lại chỉ phân biệt những người theo đạo Thiên Chúa bằng cái tên gọi! Quý vị có muốn thấy bằng chứng không? Hãy so sánh phong cách sống của chúng ta với những kẻ theo đạo Hồi hay ngoại giáo, quý vị sẽ thấy chúng ta còn thua xa lắc xa lơ — trong khi lẽ ra, vì uy tín và lợi ích của tôn giáo mình, chúng ta phải tỏa sáng rực rỡ với sự xuất chúng vượt trội cách xa họ vạn dặm; và người ta phải thốt lên về chúng ta rằng: “Họ thật công chính, đầy lòng bác ái, thật tốt lành ư? Thế thì họ chính là những người theo đạo Thiên Chúa.” Mọi dấu hiệu khác đều chung cho tất cả các tôn giáo: niềm hy vọng, sự tín thác, các biến cố, nghi lễ, việc đền tội, các vị tử đạo. Dấu ấn đặc thù của chân lý chúng ta phải là đức hạnh của chính chúng ta, bởi đó cũng là bông hoa thiên phú nhất, khó khăn nhất và là kết quả đáng giá nhất của chân lý. Chính vì điều này mà thánh Louis đáng kính của chúng ta đã hoàn toàn đúng đắn. Khi vị vua người Tartar, người vừa cải đạo sang Kitô giáo, định đến Lyons để hôn chân Giáo hoàng và tận mắt chứng kiến sự thánh thiện mà ông hằng mong chờ tìm thấy trong phong cách sống của chúng ta, nhà vua đã lập tức khuyên can ông từ bỏ ý định đó; vì sợ rằng lối sống bừa bãi của chúng ta trái lại sẽ khiến ông vỡ mộng đối với một niềm tin thánh thiện nhường ấy! Thế nhưng, sự việc lại diễn ra hoàn toàn ngược lại đối với một kẻ khác — người cũng đến Rome với cùng mục đích ấy, và khi chứng kiến sự sa đọa của các giáo sỹ và dân chúng thời đó, lại càng trở nên kiên định hơn gấp bội trong đạo của chúng ta, khi hắn ngẫm nghĩ xem sức mạnh và tính thần thánh của tôn giáo ấy lớn lao đến nhường nào mà vẫn có thể duy trì được phẩm giá và hào quang của mình giữa chốn vẩn đục xiết bao và trong những đôi bàn tay tội lỗi nhường ấy. Lời thánh đã phán rằng, nếu chúng ta chỉ có lấy một hạt cải đức tin thôi, chúng ta cũng có thể dời non lấp bể. Những hành động của chúng ta khi ấy, được hướng dẫn và đồng hành bởi ơn thiêng, sẽ không chỉ thuần túy là của con người; chúng sẽ mang trong mình chút gì đó màu nhiệm, hệt như đức tin của chúng ta vậy: Brevis est institutio vitæ honestæque, si credas. “Hãy tin đi, và con đường dẫn đến hạnh phúc cùng đức hạnh sẽ thật ngắn ngủi.” Một số kẻ đánh lừa thế gian bằng cách làm ra vẻ chúng tin điều mà thực ra chúng không tin; số khác, đông đảo hơn, tự lừa dối chính mình rằng họ đang tin, trong khi bản thân họ còn chẳng tài nào thấu hiểu nổi tin là gì. Chúng ta cảm thấy thật lạ lùng khi giữa cuộc nội chiến đang làm rối ren đất nước lúc này, chúng ta thấy các biến cố cứ nổi trôi và biến đổi theo một cách thức vô cùng tầm thường và phổ biến; ấy là vì chúng ta chẳng mang lại điều gì cho nó ngoài chính bản thân mình. Công lý, thứ vốn hiện diện ở một phe phái nào đó, kỳ thực chỉ có mặt ở đó để làm cảnh và che đậy; nó chỉ được hô hào ngoài miệng chứ không hề được đón nhận, định cư hay tôn thờ trong đó. Nó ở đó giống như trong miệng của một kẻ biện hộ, chứ không nằm trong trái tim và tình cảm của phe phái ấy. Thiên Chúa chỉ ban sự trợ giúp phi thường của Ngài cho đức tin và tôn giáo, chứ không phải cho những đam mê của chúng ta. Con người mới là kẻ điều khiển ở đó, và họ lợi dụng tôn giáo để mưu cầu cho riêng mình, trong khi lẽ ra mọi chuyện phải hoàn toàn ngược lại. Hãy quan sát xem có phải chính đôi bàn tay chúng ta đang dẫn dắt, uốn nắn nó, và kéo nó quằn quèo như sáp thành bao hình thù trái ngược nhau, từ một khuôn phép vốn dĩ rất đỗi ngay thẳng và vững chãi ban đầu. Có khi nào và ở đâu điều này lại hiển hiện rõ rệt hơn nước Pháp trong thời đại của chúng ta không? Những kẻ đi theo đường rẽ trái, những kẻ chọn lối rẽ phải, những kẻ gọi nó là màu đen, những kẻ gọi nó là màu trắng — tất cả đều sử dụng nó một cách bất chấp cho những mưu đồ bạo lực và đầy tham vọng của mình, dẫn dắt nó với một nhịp độ ngập chìm trong sự loạn luân và bất công đến mức chúng làm cho sự khác biệt mà chúng ngụy tạo trong các quan niệm về một vấn đề chi phối quy tắc và đường lối sống của chúng ta trở nên đáng ngờ và khó mà tin nổi. Đã bao giờ người ta chứng kiến cùng một mái trường và kỷ luật lại sinh ra những phong cách sống đồng nhất và giống nhau đến thế hay không? Hãy nhìn xem với sự trơ trẽn tột cùng biết bao, chúng ta tung hứng các lập luận thần thánh qua lại thế nào, và chúng ta đã bất kính biết bao khi vừa rẫy bỏ rồi lại nhặt nhãn chúng lên, tùy theo việc thời vận đã xoay vần vị trí của chúng ta ra sao giữa những cơn giông bão nội chiến này.

Mệnh đề trọng đại và long trọng này: “Liệu một thần dân có hợp pháp hay không khi nổi dậy cầm vũ khí chống lại quân vương của mình để bảo vệ tôn giáo?”, quý vị có còn nhớ trong miệng ai vào năm ngoái, câu khẳng định cho nó từng là trụ cột của phe này, còn câu phủ định lại là cái nọc của phe kia hay không? Và giờ đây, hãy thử lắng nghe xem tiếng nói và giáo huấn của cả hai phe phát ra từ xó xỉnh nào, và liệu tiếng gầm thét hay lách cách của vũ khí vì lý do này có kém hơn lý do kia chút nào không. Chúng ta kết án hỏa thiêu những ai dám nói rằng chân lý phải chịu khuất phục trước cái ách của những nhu cầu trần thế chúng ta; thế nhưng nước Pháp còn làm một việc tồi tệ hơn thế gấp bội là vừa làm vừa chối bay chối biến điều đó hay sao? Hãy thành thật thú nhận đi: bất cứ ai muốn tách khỏi quân đội — ngay cả đạo quân do nhà vua gây dựng — những kẻ cầm vũ khí thuần túy vì lòng nhiệt thành với tôn giáo, cũng như những kẻ chỉ làm thế để bảo vệ luật pháp đất nước hay phụng sự quân vương, thì e rằng dẫu gom cả hai lại, người ta cũng khó lòng dựng nổi một đại đội kỵ binh hoàn chỉnh. Nguyên nhân từ đâu mà ra thế này, khi mà người ta hiếm hoi lắm mới tìm thấy những kẻ duy trì được một ý chí nhất quán và một đường lối tiến bước trước những cuộc nổi loạn dân sự của chúng ta, và khi mà chúng ta thấy họ lúc thì lê bước rùa bò, lúc lại chạy thình thịch hết tốc lực; rồi chính những con người ấy, có khi thì tàn phá đại cục bằng sự cuồng nhiệt bạo tàn, có khi lại phá hoại bằng sự lạnh lùng, yếm thế và chậm chạp của họ — nếu không phải vì họ đang bị thúc đẩy bởi những cân nhắc cá nhân và ngẫu nhiên, tùy theo những biến động thiên hình vạn trạng mà họ dấn thân vào?

Tôi nhận ra một cách rõ mồn một rằng chúng ta chẳng bao giờ tình nguyện dâng hiến cho lòng sùng kính bất kỳ nghĩa vụ nào khác ngoài những thứ ít phù hợp nhất với các đam mê của chính mình.

Chẳng có sự thù địch nào kỳ diệu cho bằng sự thù địch mang màu sắc Kitô giáo. Lòng nhiệt thành của chúng ta làm nên những điều kỳ diệu khi nó tiếp tay cho các khuynh hướng căm hờn, tàn độc, tham vọng, hà tiện, bôi nhọ và phản loạn; nhưng khi nó hướng ngược chiều dòng chảy, tiến về phía lòng nhân hậu, sự từ bi và tính tiết chế — trừ phi có phép mầu hay một khuynh hướng đức hạnh hiếm hoi nào đó thúc đẩy chúng ta —, thì chúng ta đến một ngón tay cũng chẳng buồn nhúc nhích. Tôn giáo của chúng ta vốn được sinh ra để triệt tiêu các thói hư tật xấu, thế mà nó lại đang che chở, nuôi dưỡng và kích thích chúng. Chúng ta không được phép bỡn cợt với Thiên Chúa. Nếu chúng ta tin tưởng Ngài, tôi không nói là tin bằng đức tin đích thực, mà chỉ là tin bằng một niềm tin đơn thuần, nghĩa là (và tôi nói điều này với nỗi hổ thẹn lớn lao cho tất cả chúng ta) nếu chúng ta tin Ngài và công nhận Ngài hệt như đối với bất kỳ bộ lịch sử nào khác, hoặc như cách chúng ta đối xử với một người bạn đồng hành, thì chúng ta đã yêu mến Ngài hơn bất cứ thứ gì khác vì lòng nhân từ và vẻ đẹp vô biên ngời sáng trong Ngài — ít ra, Ngài cũng phải được đặt ngang hàng trong tình cảm của chúng ta với sự giàu sang, khoái lạc, danh vọng và những người bạn. Kẻ khá giả nhất trong số chúng ta cũng chẳng hề sợ hãi việc xúc phạm Ngài nhiều bằng nỗi sợ làm tổn thương người láng giềng, họ hàng hay chủ nhân của mình. Có cái trí tuệ yếu ớt nào mà khi đặt một bên là đối tượng của một thứ khoái lạc tội lỗi, còn bên kia (với sự nhận thức và xác tín hoàn toàn tương đương) là trạng thái vinh quang bất diệt, lại đi đánh đổi cái thứ nhất lấy cái thứ hai hay không? Thế nhưng chúng ta vẫn thường xuyên từ bỏ điều sau chỉ vì sự khinh miệt thuần túy: bởi có ham muốn nhục dục nào lại xúi giục chúng ta lộng ngôn lăng mạ, nếu không phải tự bản thân khát vọng xúc phạm ấy?

Nhà triết học Antisthenes, khi đang được điểm đạo vào các bí tích của Orpheus, nghe vị tư tế nói rằng: “Những ai tuyên xưng tôn giáo ấy chắc chắn sẽ nhận được phúc lạc hoàn hảo và vĩnh cửu sau cái chết,” bèn đáp rằng: “Nếu ngươi tin điều đó, tại sao chính ngươi lại không đi chết đi?” Diogenes, bằng giọng điệu thô lỗ hơn theo phong cách của ông, và có phần lạc đề so với mục đích của chúng ta, đã đáp lại vị tư tế cũng đang rao giảng với ông điều tương tự rằng hãy gia nhập đạo của ngài để đạt được hạnh phúc ở thế giới bên kia: “Cái gì!” — ông nói — “Ngươi muốn ta tin rằng Agesilaus và Epaminondas, những vĩ nhân nhường ấy, lại phải chịu cảnh khốn cùng, còn ngươi, một kẻ ngu ngốc chẳng làm nên tích sự gì, lại được hưởng hạnh phúc chỉ vì ngươi là một tư tế hay sao?” Nếu chúng ta đón nhận những lời hứa hẹn vĩ đại về phúc lạc vĩnh cửu ấy bằng sự kính trọng và tôn nghiêm hệt như cách chúng ta tiếp nhận một bài diễn thuyết triết học, thì chúng ta đã chẳng phải khiếp sợ cái chết đến thế:

“Tôi khao khát được giải thoát,” chúng ta hẳn sẽ phải nói thế, “và được ở cùng Chúa Giê-su Kitô.” Sức mạnh từ những lập luận của Plato về sự bất tử của linh hồn từng thôi thúc một số môn đệ của ông tự tìm đến cái chết sớm để có thể sớm tận hưởng những điều mà ông đã gieo hy vọng cho họ.

Tất cả những điều này là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy chúng ta chỉ tiếp nhận tôn giáo của mình theo một cách thức rất riêng, qua chính đôi bàn tay của mình, chứ không khác gì cách mà các tôn giáo khác được đón nhận. Hoặc là chúng ta vô tình sinh ra tại một vùng đất nơi tôn giáo ấy đang được thực hành, hoặc là chúng ta tôn kính tính cổ xưa của nó, hoặc vì uy quyền của những kẻ đã gìn giữ nó, hoặc vì sợ hãi những lời nguyền rủa mà nó giáng xuống những kẻ sai lạc niềm tin, hoặc bị quyến rũ bởi những lời hứa hẹn của nó. Những cân nhắc này, quả thực, cần phải được áp dụng vào đức tin của chúng ta, nhưng chỉ với tư cách là những yếu tố phụ trợ mà thôi, bởi chúng vốn là những ràng buộc thuộc về con người. Một tôn giáo khác, những nhân chứng khác, những lời hứa và mối đe dọa tương tự cũng có thể, bằng con đường ấy, khắc sâu một niềm tin hoàn toàn trái ngược. Chúng ta là những Kitô hữu cũng với cái danh nghĩa hệt như khi chúng ta là người Perigord hay người Đức. Và điều mà Plato đã nói — rằng “có rất ít người ngoan cố đến mức chủ nghĩa vô thần của họ không bị khuất phục để thừa nhận uy quyền thần thánh trước một hiểm họa kề cận” — hoàn toàn không liên quan gì đến một Kitô hữu chân chính: việc các tôn giáo phàm trần và nhân thế được đón nhận qua sự giới thiệu của con người là chuyện đương nhiên. Đó có thể là thứ đức tin gì cơ chứ, khi mà sự hèn nhát và thiếu can đảm lại dựng nên nó trong chúng ta? Thật là một thứ đức tin nực cười, tin vào những gì mình tin chẳng qua vì thiếu dũng khí để không tin điều đó! Liệu một đam mê tội lỗi như sự bất định và kinh hoàng có thể sinh ra bất kỳ kết quả chính đáng nào trong tâm hồn chúng ta chăng? “Chúng hoàn toàn tự tin vào phán đoán của mình,” ông nói, “rằng những gì người ta đồn đại về địa ngục và những cực hình mai sau đều chỉ là trò bịp bợma; nhưng khi cơ hội chứng thực hiện ra trước mắt, lúc tuổi già hay bệnh tật đẩy họ đến bờ vực cái chết, nỗi kinh hoàng trước cái chết và sự hãi hùng của cõi đời sau ấy lại tiêm nhiễm vào họ một niềm tin mới mẻ!” Và chính vì những ấn tượng như thế làm cho con người trở nên nhút nhát, ông đã cấm tiệt trong các tác phẩm Luật pháp của mình mọi học thuyết mang tính đe dọa như vậy, cùng mọi lời thuyết phục rằng con người có thể phải chịu bất kỳ điều tai họa nào từ các vị thần — ngoại trừ trường hợp chúng xảy đến như một phước lành lớn lao và mang tác dụng chữa lành cho họ. Người ta đồn rằng Bion, sau khi bị nhiễm chủ nghĩa vô thần của Theodorus, từng có một thời gian dài khinh bỉ và miệt thị những người có đạo; thế nhưng khi cái chết bất ngờ ập đến, ông lại rơi vào sự mê tín cuồng dã tột độ — cứ như thể các vị thần muốn rút lui hay quay trở lại tùy theo nhu cầu khốn đốn của Bion vậy. Plato và những ví dụ này muốn đi đến kết luận rằng chúng ta bị đẩy đến chỗ tin vào Thiên Chúa hoặc bằng lý trí hoặc bằng vũ lực. Vì chủ nghĩa vô thần vốn là một quan niệm quái đản và phi tự nhiên đến nhường ấy, lại vô cùng khó khăn để thiết lập trong nhận thức con người — dẫu cho kẻ mang nó có ngạo mạn đến đâu —, người ta vẫn thấy có đủ những kẻ vì sự phù phiếm và kiêu ngạo mà tự nhận là tác giả của những quan niệm cải cách kỳ quái, ra điều ta đây theo đuổi chúng bề ngoài; dẫu vậy, nếu họ thực sự là những kẻ ngốc nghếch đến thế, thì sâu thẳm trong lương tâm, họ lại chẳng có lấy nổi một mảy may sức mạnh để cắm rễ những điều đó. Thế nhưng họ vẫn sẽ chẳng ngớt giơ cao đôi tay hướng lên thiên đàng nếu quý vị tặng cho họ một nhát kiếm thọc thật mạnh vào lồng ngực; và một khi sự sợ hãi hoặc bệnh tật đã làm dịu đi và mài mòn cái cơn cuồng nộ phóng túng của tâm trạng dở hơi ấy, họ sẽ dễ dàng hòa giải trở lại, và vô cùng khôn ngoan chấp nhận quy phục đức tin cũng như gương mẫu của cộng đồng. Một học thuyết được chiêm nghiệm một cách nghiêm túc là một chuyện, còn những ấn tượng hời hợt lại là chuyện khác; những ấn tượng ấy nảy sinh từ sự rối loạn của một tâm trí mất phương hướng, cứ thế trôi dạt vô định và đầy bấp bênh trong trí tưởng tượng. Thật là những kẻ khốn nạn và vô cảm, luôn cố gắng để trở nên tồi tệ hơn cả những gì chúng có thể!

Sự lầm lạc của ngoại giáo và sự ngu muội trước chân lý thánh thiêng của chúng ta cũng đã khiến tâm hồn vĩ đại của Plato — vĩ đại nhưng chỉ giới hạn trong tầm vóc con người — sa vào một lầm tưởng khác: rằng “trẻ em và người già là những đối tượng dễ tiếp thu tôn giáo nhất”, cứ như thể tôn giáo sinh ra và tạo dựng uy tín từ chính sự yếu đuối của chúng ta vậy. Nút thắt lẽ ra phải trói buộc phán đoán và ý chí, thứ lẽ ra phải kiềm chế linh hồn và kết nối nó với đấng Tạo Hóa, phải là một thứ nút thắt mà các nếp gấp và sức mạnh của nó không bắt nguồn từ những toan tính, lý trí hay đam mê của chúng ta, mà phải đến từ một sự kìm kẹp thần thánh và siêu nhiên, chỉ mang một hình thái, một diện mạo và một ánh hào quang duy nhất — đó là uy quyền của Thiên Chúa và ơn thánh của Ngài. Giờ đây, khi trái tim và tâm hồn đã được điều khiển và cai quản bởi đức tin, việc chúng huy động tất cả các năng lực khác của chúng ta tùy theo khả năng nhằm phụng sự và hỗ trợ cho mục đích của mình là điều hoàn toàn hợp lý. Cũng không thể tưởng tượng được rằng toàn bộ cỗ máy này lại không mang trên mình những dấu ấn do chính bàn tay vị Kiến trúc sư vĩ đại khắc họa, và rằng trong các tạo vật của thế gian này lại không tồn tại một hình ảnh nào đó phản chiếu phần nào đấng Tạo Hóa đã dựng nên và nhào nặn chúng. Ngài đã để lại dấu ấn thần tính của mình trong những tác phẩm kỳ vĩ của Ngài, và chính sự yếu đuối của chúng ta là thứ duy nhất ngăn cản ta nhìn nhận điều đó. Đó cũng chính là những gì mà tự thân Ngài đã đoái thương thổ lộ với chúng ta: rằng “Ngài bày tỏ những công trình vô hình của mình cho chúng ta thông qua những thứ hữu hình.” Sebond đã tận tụy cống hiến cho công cuộc học tập cao quý và đáng ca ngợi này, đồng thời minh chứng cho chúng ta thấy rằng không có bất kỳ phần hay bộ phận nào trên thế giới này lại chối bỏ hoặc đi ngược lại đấng tạo ra nó. Thật là bất công với lòng nhân hậu của Thiên Chúa biết bao nếu vũ trụ không đồng tình với đức tin của chúng ta. Bầu trời, mặt đất, các nguyên tố, thể xác và linh hồn của chúng ta — tất cả mọi thứ đều đồng lòng hướng về điều này; chúng ta chỉ cần tìm ra cách để sử dụng chúng. Chúng sẽ dạy bảo chúng ta, miễn là chúng ta còn có khả năng học hỏi. Bởi thế giới này là một ngôi đền thánh thiêng, nơi con người được đưa vào để chiêm ngưỡng những pho tượng — không phải tác phẩm của đôi tay phàm trần, mà là những tạo vật được mục đích thần thánh biến thành đối tượng cho giác quan: mặt trời, các vì sao, nước và mặt đất — nhằm tượng trưng cho những chân lý mà chúng ta có thể thấu hiểu bằng trí tuệ. Thánh Phaolô đã nói: “Những điều vô hình của Thiên Chúa được nhìn thấy qua công cuộc sáng thế của thế giới, khi người ta suy ngẫm về sự khôn ngoan đời đời và tính thần thánh của Ngài thông qua những công trình của Ngài.”

Giờ đây, những lời cầu nguyện và bài diễn thuyết của con người chẳng khác nào một khối vật chất hoang vu và chưa thành hình. Ân sủng của Thiên Chúa chính là hình hài; chính nó thổi hồn hình thái và giá trị cho khối vật chất ấy. Hệt như những hành động đức hạnh của Socrates và Cato vẫn mãi là trống rỗng và vô ích biết bao khi thiếu đi tình yêu và sự vâng phục đối với đấng Tạo Hóa chân chính của muôn loài, những tưởng tượng và luận điểm của chúng ta cũng vậy. Chúng mang một thứ hình hài nào đó, nhưng chỉ là một đống hỗn độn vô định, không khuôn mẫu và không ánh sáng, nếu đức tin và ơn thánh không được bồi đắp vào đó. Đức tin khi bước đến để tô điểm và minh rọi cho các lập luận của Sebond đã làm cho chúng trở nên vững chãi và kiên cố; đến mức chúng đủ sức đóng vai trò là những chỉ dẫn, là những người dẫn đường đầu tiên cho một Kitô hữu sơ cơ bước vào con đường hiểu biết này. Chúng tôi luyện con người phần nào và giúp họ sẵn sàng đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, nhờ đó mà sau này họ tự hoàn thiện và vươn lên sự chín muồi trong đức tin đích thực. Tôi biết một nhân vật có thế lực, từng được nuôi dưỡng bằng văn chương, đã thú nhận với tôi rằng chính những lập luận của Sebond đã kéo ông trở lại từ những lầm lạc của sự vô tín ngưỡng. Và giả sử những lập luận ấy bị tước đi tấm áo choàng này, bị tước đi sự hỗ trợ và chuẩn thuận của đức tin, rồi bị xem xét như những ảo tưởng thuần túy chăng nữa, khi phải đối đầu với những kẻ đang lún sâu vào bóng tối kinh hoàng và tăm tối của thói dị giáo, người ta vẫn sẽ tìm thấy ở đó sự vững chãi và kiên cố không kém gì bất kỳ quan điểm chất lượng nào khác có thể đem ra đối trọng với chúng — khiến chúng ta sẵn sàng tuyên bố với những kẻ đối lập rằng:

hoặc là họ phải thừa nhận sức mạnh từ những lập luận của chúng ta, hoặc là họ phải trưng ra cho chúng ta thấy những lập luận khác, trên một chủ đề nào đó, được dệt đan khéo léo hơn và bằng những sợi chỉ tinh tế hơn. Tôi đã vô tình sa chân vào phản đối thứ hai — điều mà tôi từng dự định sẽ đứng ra giải đáp thay cho Sebond. Một số người cho rằng các lập luận của ông quá yếu ớt, không đủ sức chứng minh những gì ông định làm, và họ nhận lời phản bác chúng với sự dễ dàng tuyệt đối. Những kẻ này cần phải đối xử thô bạo hơn một chút, bởi chúng vừa nguy hiểm lại vừa thâm hiểm hơn nhóm đầu tiên. Con người ta thường rất hay bóp méo lời nói của kẻ khác để phục vụ cho những định kiến của riêng mình. Đối với một kẻ vô thần, mọi trước tác đều hướng về chủ nghĩa vô thần; hắn vấy bẩn cả những chất liệu ngây thơ nhất bằng chính thứ nọc độc của mình. Phán đoán của những kẻ này đã bị định kiến xâm chiếm đến mức chúng chẳng thể nào thưởng thức nổi lý lẽ của Sebond. Về phần những kẻ khác, chúng cho rằng chúng ta đã quá rộng rãi khi ban cho chúng quyền tự do chiến đấu chống lại tôn giáo của chúng ta bằng những thứ vũ khí thuần túy phàm trần — thứ vũ khí mà trong sự uy nghiêm, đầy quyền lực và uy quyền của mình, chúng vốn chẳng dám bén mảng tấn công. Phương tiện mà tôi sẽ sử dụng, và tôi cho là thích hợp nhất để bóp nghẹt cơn cuồng loạn này, là giẫm đạp và chà đạp lên sự kiêu ngạo cùng thói ngạo mạn của con người; làm cho họ nhận thức được sự trống rỗng, phù phiếm và thấp hèn của kiếp nhân sinh; giật lấy thứ vũ khí thảm hại của lý trí khỏi tay họ; bắt họ phải cúi đầu và cắn cỏ trước uy quyền và sự tôn nghiêm của Đấng Tối Cao. Chỉ có Ngài mới sở hữu sự khôn ngoan và hiểu biết; chỉ có Ngài mới tự đánh giá đúng bản thân mình, và từ Ngài chúng ta mới chôm chỉa lấy bất cứ thứ gì mà ta tự hào: [—Hy Lạp—] “Thiên Chúa không cho phép bất kỳ tạo vật nào ngoài Ngài được thực sự khôn ngoan.” Hãy khuất phục sự kiêu căng này — nền tảng đầu tiên của ách thống trị do ác quỷ dựng nên: Deus superbis resistit, humilibus autem dat gratiam. “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho người khiêm tốn.” Plato nói: “Sự thông hiểu chỉ thuộc về các vị thần, còn con người thì chẳng có bao nhiêu, hoặc có rất ít.” Dẫu vậy, trong lúc này, đối với một Kitô hữu, việc nhìn thấy phần mỏng manh và phàm trần của chúng ta hòa hợp một cách vừa vặn đến thế với đức tin thánh thiện và thiêng liêng — đến mức khi chúng ta ứng dụng chúng vào các chủ đề thuộc về bản chất phàm trần và mong manh của chính mình, chúng cũng không thể ăn khớp với nhau một cách chặt chẽ hay vững chắc hơn thế — là một niềm an ủi lớn lao nhường nào. Giờ hãy xem liệu con người có nắm trong tay những lý lẽ nào mạnh mẽ và thuyết phục hơn của Sebond hay không; nghĩa là, liệu họ có khả năng vươn tới bất kỳ sự chắc chắn nào bằng lập luận và lý trí hay không. Bởi vì thánh Augustine, khi tranh luận với những kẻ này, đã có lý do chính đáng để quở trách sự bất công của họ: “Ở chỗ họ khăng khăng cho rằng phần đức tin của chúng ta là sai lầm chỉ vì lý do của chúng ta không thể thiết lập được nó.” Và để chứng minh rằng có rất nhiều điều có thể và đã từng tồn tại mà bản chất của chúng ta chẳng tài nào dò thấu được lý do cũng như nguyên nhân, ngài đã đưa ra cho họ một số thử nghiệm quen thuộc và chắc chắn, nơi con người phải thú nhận rằng họ chẳng nhìn thấy gì cả; ngài làm điều này, hệt như tất cả những việc khác, bằng một sự truy vấn đầy tò mò và tài tình. Chúng ta phải làm nhiều hơn thế nữa, và chỉ cho họ thấy rằng để thuyết phục họ về sự yếu đuối trong lý trí của mình, chẳng có sự cần thiết nào phải moi móc ra những ví dụ hiếm hoi; rằng lý trí vốn dĩ khiếm khuyết và mù quáng đến mức chẳng có năng lực nào đủ sáng rõ để cứu vớt nó; rằng đối với nó, chuyện dễ hay khó đều là một; rằng mọi chủ đề nói chung, và tự nhiên nói riêng, đều nhất loạt khước từ uy quyền và bác bỏ sự trung gian của nó.

Chân lý có ý gì khi bà rao giảng cho chúng ta phải tránh xa triết lý trần thế, khi bà liên tục khắc ghi vào tâm trí chúng ta rằng: “Sự khôn ngoan của chúng ta chỉ là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa; rằng sự phù phiếm nhất trong mọi sự phù phiếm chính là con người; rằng kẻ nào tự đắc về sự khôn ngoan của mình thì vẫn chưa biết khôn ngoan là gì; và rằng con người, vốn chẳng là gì cả, nếu lại tự cho mình là một cái gì đó, thì hắn đang tự lừa dối và mưu hại chính mình.” Những lời phán của Chúa Thánh Thần đã diễn tả một cách rõ ràng và sống động đến thế những gì tôi muốn bảo vệ, đến mức tôi chẳng cần thêm bất kỳ bằng chứng nào khác để chống lại những kẻ sẵn sàng quy phục uy quyền của Ngài với tất cả sự khiêm nhường và vâng phục; nhưng những kẻ này lại muốn chuốc lấy đòn roi bằng chính chi phí của mình, và chẳng đời nào chịu để người ta dùng chính lý trí để đối đầu với lý trí của chúng.

Vậy thì, hãy thử một lần xem xét con người đứng độc lập một mình, không có sự trợ giúp từ bên ngoài, chỉ vũ trang bằng chính thứ vũ khí của mình, và hoàn toàn tước đi ơn huệ lẫn sự khôn ngoan thiêng liêng — thứ vốn là niềm vinh dự, sức mạnh và nền tảng cho sự tồn tại của hắn. Hãy xem hắn đứng ra sao trong một bộ trang bị đẹp đẽ thế này. Hãy để hắn dùng sức mạnh của lý trí để giải thích cho tôi hiểu rằng trên những nền tảng nào mà hắn đã dựng nên những lợi thế vĩ đại mà hắn tưởng mình đang có vượt trên các tạo vật khác. Ai đã tiêm nhiễm vào đầu hắn niềm tin rằng chuyển động tuyệt diệu của vòm trời thiên thể, ánh sáng vĩnh hằng của những vì tinh tú lăn lộn trên đỉnh đầu hắn, hay những chuyển động kỳ lạ và đáng sợ của đại dương vô tận ấy lại được thiết lập và duy trì suốt ngần ấy thời đại chỉ để phục vụ cho sự tiện nghi của hắn? Có thể tưởng tượng ra điều gì nực cười hơn thế không: một sinh vật khốn khổ và thảm hại, đến bản thân mình còn chẳng làm chủ nổi mà phải chịu mọi tổn thương từ vạn vật, lại dám tự xưng mình là chúa tể và hoàng đế của thế giới — nơi mà một phần nhỏ nhoi hắn còn chẳng có nổi quyền năng để thấu hiểu, huống chi là cai quản toàn bộ? Còn cái đặc quyền mà hắn tự gán cho mình là tạo vật duy nhất trong cấu trúc khổng lồ này có đủ trí tuệ để khám phá vẻ đẹp cùng các bộ phận của nó; kẻ duy nhất có thể dâng lời tạ ơn lên vị kiến trúc sư và ghi chép lại các khoản thu chi của thế gian này — ai nhở, ai đã đóng ấn và cấp bằng cho hắn đặc quyền lớn lao đến thế? Hãy trưng ra sắc lệnh của hắn cho chức vụ vĩ đại này xem nào! Có phải nó được ban ân huệ riêng cho những kẻ khôn ngoan không? Chẳng có mấy người được dính dáng đến điều đó. Hay là những kẻ ngu ngốc và tội lỗi lại xứng đáng nhận được một đặc ân phi thường đến vậy, để rồi là phần tồi tệ nhất của thế giới này mà lại được ưu ái vượt trên tất cả những kẻ khác? Chúng ta có nên tin vào lời kẻ này chăng: —“Vậy chúng ta phải đi đến kết luận rằng thế giới này được tạo ra vì ai? Vì những kẻ có lý trí: đây chính là các vị thần và loài người, những đối tượng chắc chắn chẳng có gì tốt đẹp hơn thế”? Chúng ta không bao giờ có thể lên án cho đủ sự trơ trẽn của mối tương quan này. Nhưng hỡi sinh vật khốn khổ kia, trong bản thân hắn có thứ gì xứng đáng với một lợi thế lớn lao nhường ấy? Khi ngẫm nghĩ về sự tồn tại bất diệt của các thể thiên thể; vẻ đẹp, kích thước và chuyển động không ngừng nghỉ của chúng theo một quy luật vô cùng chính xác;

khi ngẫm nghĩ về sự thống trị và ảnh hưởng mà các thể ấy áp đặt, không chỉ lên cuộc đời và vận mệnh của chúng ta,

mà thậm chí lên cả những khuynh hướng, suy nghĩ và ý chí của chúng ta — những thứ mà chúng cai quản, khơi gợi và khuấy động tùy theo lòng nhân từ của các ảnh hưởng đó, hệt như lý trí của chúng ta đã dạy;

thấy rằng không chỉ con người, không chỉ các vị vương, mà cả các vương quốc, đế chế và toàn bộ thế giới hạ tầng này đều tuân theo ảnh hưởng của các chuyển động thiên thể,

nếu đức hạnh, thói hư tật xấu, kiến thức của chúng ta, và chính bài diễn thuyết này về sức mạnh của các vì sao cùng sự so sánh mà chúng ta đang thực hiện giữa chúng và mình, đều xuất phát — như lý trí của chúng ta giả định — từ sự ban ơn của chúng,

nếu chúng ta rút tỉa phần lý trí ít ỏi mà ta có từ sự hào phóng của thiên đàng, thì làm thế nào mà lý trí ấy lại có thể bao giờ làm cho chúng ta trở nên ngang hàng với thiên đàng được cơ chứ? Làm sao nó có thể khuất phục bản chất và trạng thái của thiên đàng vào sự hiểu biết của chúng ta? Bất cứ điều gì chúng ta nhìn thấy ở các thể đó đều làm chúng ta kinh ngạc: Quæ molitio, quæ ferramenta, quæ vectes, quæ machina, quæ ministri tanti operis fuerunt? “Những sự sắp đặt, những dụng cụ, những công cụ, những cỗ máy, những kẻ hầu người hạ nào đã được sử dụng cho một công trình vĩ đại nhường ấy?” Tại sao chúng ta lại tước đi ở chúng linh hồn, sự sống và khả năng suy luận? Có phải chúng ta đã khám phá thấy ở chúng một sự đần độn bất động hay vô cảm nào chăng, hỡi những kẻ chỉ giao thiệp với chúng bằng sự vâng phục? Phải chăng chúng ta sẽ nói rằng mình chưa từng khám phá ra việc sử dụng một tâm hồn có lý trí ở bất kỳ tạo vật nào ngoài con người? Cái gì! Chẳng nhẽ chúng ta chưa từng nhìn thấy thứ gì giống như mặt trời ư? Nó có ngừng tồn tại chỉ vì chúng ta chưa từng thấy thứ gì giống nó hay sao? Và những chuyển động của nó có ngừng lại vì chẳng có những chuyển động nào khác tương tự như thế hay không? Nếu những gì chúng ta không nhìn thấy được coi như không tồn tại, thì sự hiểu biết của chúng ta quả là bị thu hẹp một cách kỳ diệu: Quæ sunt tantæ animi angusti! “Hiểu biết của chúng ta mới nhỏ bé làm sao!” Chẳng phải đó là những giấc mơ của sự phù phiếm loài người khi biến mặt trăng thành một trái đất trên thiên đàng; khi tưởng tượng ra ở đó những ngọn núi và thung lũng hệt như Anaxagoras từng làm; khi thiết lập ở đó những chốn dung thân và nơi ở của con người, rồi lập nên những thuộc địa vì sự tiện nghi của chúng ta, như Plato và Plutarch đã làm; hay biến trái đất của chúng ta thành một ngôi sao sáng lấp lánh đó sao? “Trong số những nỗi bất hạnh khác của kiếp phàm trần, đây là một: sự u mê của trí tuệ dẫn dắt con người đi lạc lối, không hẳn vì sự bức thiết phải lầm lỗi, mà vì tình yêu dành cho sự lầm lỗi. Thân xác dễ hư nát làm tê liệt linh hồn, và chốn ngụ cư trần thế làm cùn mòn các năng lực của trí tưởng tượng.”

Tính kiêu ngạo chính là căn bệnh tự nhiên và nguyên thủy của chúng ta. Sinh vật khốn khổ và yếu ớt nhất trong tất cả các tạo vật chính là con người, song lại cũng là kẻ kiêu ngạo nhất. Hắn cảm thấy và nhìn thấy bản thân mình đang tá túc tại chốn bùn nhơ nhếch nhác này của thế gian, bị đóng đinh và ri-vê vào phần tồi tệ nhất và chết chóc nhất của vũ trụ, tại tầng thấp nhất của ngôi nhà, nơi xa xôi nhất so với vòm trời thiên thể, chung đụng với những loài động vật ở tình trạng tồi tệ nhất trong số ba cõi; thế mà trong trí tưởng tượng của mình, hắn lại cứ thích tự đặt bản thân lên trên quỹ đạo của mặt trăng, và kéo cả bầu trời xuống dưới chân hắn. Chính nhờ sự phù phiếm của trí tưởng tượng ấy mà hắn tự san bằng mình với Thiên Chúa, tự gán cho mình những phẩm chất thần thánh, tự tách rời và cắt đứt mình ra khỏi đám đông các tạo vật khác, tự tay phân chia phần lộc cho các loài động vật — những kẻ đồng loại và bạn đường của hắn —, rồi phân phát cho chúng các phần năng lực cùng sức mạnh theo ý muốn chủ quan của mình. Làm sao hắn có thể bằng sức mạnh của trí tuệ mà thấu triệt được những chuyển động thầm kín và bên trong của loài vật — từ sự so sánh nào giữa chúng và chúng ta mà hắn lại đi đến kết luận về sự ngu ngốc mà hắn gán cho chúng? Khi tôi đùa giỡn với con mèo của mình, ai mà biết được liệu tôi có đang đem lại cho nó nhiều niềm vui hơn là nó đem lại cho tôi hay không? Chúng tôi tương hỗ pha trò cho nhau qua lại. Nếu tôi có giờ giấc của mình để bắt đầu hay từ chối, nó cũng có những giờ phút của riêng nó. Plato, trong bức tranh về thời đại hoàng kim dưới triều đại của Saturn, đã liệt kê trong số những lợi thế lớn nhất mà con người thuở ấy có được chính là khả năng giao tiếp với muông thú; qua việc tra cứu và tìm hiểu từ chúng, con người nắm bắt được bản chất và sự khác biệt đích thực của tất cả các loài, nhờ đó mà thâu nhận được sự thông minh lẫn sự khôn ngoan vô cùng hoàn hảo, đồng thời dẫn dắt cuộc sống hạnh phúc hơn chúng ta rất nhiều. Liệu chúng ta có cần một bằng chứng nào tốt hơn để lên án sự trơ trẽn của loài người đối với muông thú nữa không? Bậc vĩ nhân này cho rằng thiên nhiên, phần lớn qua hình hài thể xác mà bà ban cho chúng, chỉ tính đến công dụng của những điềm báo được rút ra từ chúng vào thời của ông. Cái khiếm khuyết cản trở sự giao tiếp giữa chúng và chúng ta, tại sao lại không thể nằm ở phía chúng ta cũng như ở phía chúng? Vẫn chưa ai xác định được rằng lỗi lầm nằm ở đâu khi chúng ta không thể hiểu nổi nhau — bởi vì chúng ta hiểu chúng chẳng khác gì cách chúng hiểu chúng ta; và theo cùng lý lẽ đó, chúng cũng có thể nghĩ chúng ta là loài thú vật hệt như cách chúng ta nghĩ về chúng. Chẳng có gì là quá lạ lùng khi chúng ta không hiểu nổi chúng, trong khi ngay cả một thứ tiếng Basque hay Troglodyte chúng ta còn chẳng tài nào hiểu được. Thế mà vẫn có những kẻ khoác lác rằng họ hiểu được tiếng muông thú, chẳng hạn như Apollonius Tyanaus, Melampus, Tiresias, Thales và nhiều người khác. Và khi thấy rằng, theo các nhà địa lý mô tả, có những quốc gia suy tôn một con chó làm vua, thì chắc chắn họ phải có khả năng diễn dịch được tiếng kêu và cử động của nó. Chúng ta phải quan sát sự tương đương giữa mình và chúng, có được một sự thấu hiểu tương đối về ý nghĩa của chúng, và muông thú cũng hiểu về chúng ta — mức độ xấp xỉ như nhau. Chúng ve vãn chúng ta, đe dọa chúng ta và cầu xin chúng ta, và chúng ta cũng làm điều hệt như vậy với chúng.

Về phần còn lại, chúng ta thấy rõ ràng rằng chúng có một sự giao tiếp hoàn toàn và tuyệt đối với nhau, và chúng hiểu nhau một cách hoàn hảo, không chỉ giữa những cá thể cùng loài mà còn khác loài:

Từ một kiểu sủa nào đó của con chó, con ngựa biết rằng có sự giận dữ, còn với một loại tiếng sủa khác, nó chẳng hề sợ hãi. Ngay cả ở những loài thú hoàn toàn không có tiếng kêu, chúng ta cũng dễ dàng kết luận từ sự cộng đồng trong các công việc mà ta quan sát thấy ở chúng về một hình thức giao tiếp nào đó: chính các cử động của chúng đã phơi bày điều đó:

Và tại sao những kẻ câm điếc của chúng ta lại không thể tranh luận, bàn cãi và kể chuyện bằng cử chỉ cơ chứ? Trong số đó, tôi từng thấy có những người nhờ luyện tập mà trở nên khéo léo và nhanh nhẹn đến mức trên thực tế, họ chẳng thiếu thứ gì để hoàn thiện việc làm cho người khác hiểu mình. Những người yêu nhau có thể giận hờn, làm hòa, van xin, cảm ơn, hẹn hò, tóm lại là nói lên tất cả mọi điều bằng ánh mắt:

Còn bằng đôi bàn tay thì sao? Chúng ta yêu cầu, hứa hẹn, gọi mời, xua tay, đe dọa, cầu khẩn, van xin, chối từ, cự tuyệt, chất vấn, trầm trồ, đếm số, thú tội, hối hận, sợ hãi, biểu lộ sự bối rối, hoài nghi, hướng dẫn, ra lệnh, kích động, khuyến khích, thề thốt, làm chứng, buộc tội, kết án, tha bổng, lăng mạ, khinh miệt, thách thức, khiêu khích, nịnh hót, tán thưởng, ban phúc, quy phục, chế giễu, làm hòa, giới thiệu, ca tụng, tiếp đãi, chúc mừng, phàn nàn, đau khổ, tuyệt vọng, kinh ngạc, kêu lên — và còn biết bao nhiêu thứ khác nữa! Và tất cả những điều đó được thể hiện với sự đa dạng và nhân lên đến mức sánh ngang cả ngôn từ. Bằng cái đầu, chúng ta mời mọc, gọi về, thú nhận, chối từ, bác bỏ, chào đón, tôn kính, khinh miệt, đòi hỏi, vui mừng, than khóc, từ chối, ve vãn, quở trách, quy phục, hằm hằm, khuyến khích, đe dọa, trấn an và dò hỏi. Còn bằng đôi lông mày thì sao? — còn bằng bờ vai nữa chứ! Chẳng có một cử động nào là không biết nói, và nói bằng một ngôn ngữ có thể hiểu được mà chẳng cần phải qua trường lớp nào rèn giũa — một thứ ngôn ngữ cộng đồng mà ai nấy đều hiểu rõ: từ đó, xét đến sự đa dạng và công dụng khác biệt của chúng so với các bộ phận khác, ta thấy chúng đáng được xem là đặc tính của bản chất con người hơn. Tôi xin bỏ qua những gì mà hoàn cảnh bức bách chợt gợi ý cho những kẻ đang cần đến chúng — các bảng chữ cái bằng ngón tay, ngữ pháp qua cử động, và những khoa học chỉ được thực hành cũng như diễn tả qua đó; cùng những quốc gia mà Pliny tường thuật là chẳng có ngôn ngữ nào khác ngoài thứ đó. Một sứ thần của thành phố Abdera, sau một cuộc hội kiến kéo dài với Agis, vua xứ Sparta, đã hỏi ông rằng: “Thưa ngài, tôi phải trả lời thế nào với những người đồng hương của mình đây?” Nhà vua đáp: “Rằng ta đã cho phép ngươi nói những gì ngươi muốn, và nói bao nhiêu tùy thích, mà chẳng cần phải thốt ra một lời nào cả.” Đó há chẳng phải là một hình thức nói câm lặng, và lại vô cùng dễ hiểu hay sao?

Về những điều khác, có cái gì ở chúng ta mà lại không thể tìm thấy trong các hoạt động của loài vật? Có một nền chính trị nào được tổ chức trật tự hơn, các chức vụ được phân chia rành mạch hơn, và được tuân thủ cũng như duy trì một cách bất khả xâm phạm hơn của loài ong hay không? Liệu chúng ta có thể tưởng tượng rằng một sự phân công công việc vừa đều đặn vừa quy củ đến thế lại có thể được thực hiện mà không cần đến lý trí và sự suy tính hay sao?

Những con én mà chúng ta nhìn thấy khi mùa xuân trở lại, sục sạo khắp mọi ngóc ngách trong ngôi nhà của chúng ta để tìm kiếm nơi thuận lợi nhất dựng tổ — phải chăng chúng tìm kiếm mà không cần phán đoán, và giữa hàng ngàn nơi lại chọn ra chỗ thích hợp nhất cho mục đích của mình mà không cần sự cân nhắc? Và trong cấu trúc tao nhã cùng đáng ngưỡng mộ của những chiếc tổ ấy, liệu các loài chim có thể chọn hình vuông thay vì hình tròn, góc tù thay vì góc vuông, mà lại không hề biết rõ các đặc tính cùng công dụng của chúng hay không? Liệu chúng có đem nước rồi mới đem đất sét đến mà lại không biết rằng độ cứng của đất sét sẽ trở nên mềm đi khi bị làm ướt? Liệu chúng có lót ổ bằng rêu hoặc lông tơ mà không hề tiên liệu trước rằng những chú chim non mềm mại của chúng sẽ được nằm an toàn và thoải mái hơn hay không? Liệu chúng có tự bảo vệ mình trước những cơn gió ẩm ướt và mưa gió, rồi quay mặt tổ về hướng đông mà không hiểu rõ những đặc tính khác nhau của các luồng gió, cũng như không cân nhắc rằng gió này lành mạnh hơn gió kia hay không? Tại sao con nhện lại đan mạng lưới căng hơn ở chỗ này và chùng hơn ở chỗ kia; tại sao lúc này nó thắt nút kiểu này, lúc khác lại kiểu khác, nếu nó không hề có sự suy tính, tư duy và kết luận? Chúng ta thấy rõ ràng trong hầu hết các công trình của muông thú rằng chúng vượt trội hơn chúng ta đến nhường nào, và nghệ thuật của chúng ta bất lực ra sao khi muốn bắt chước chúng. Thế nhưng, chúng ta vẫn thấy rằng trong các công trình thô sơ hơn của mình, chúng ta đã huy động toàn bộ các năng lực và vắt kiệt sức mạnh của tâm hồn; tại sao chúng ta lại không kết luận điều tương tự ở chúng cơ chứ?

Tại sao chúng ta lại cứ phải gán những công trình vượt trội hơn tất cả những gì chúng ta có thể làm bằng tự nhiên lẫn nghệ thuật cho một thứ khuynh hướng tự nhiên và nô lệ nào đó chứ? Qua đó, mà chẳng hề hay biết, chúng ta đã ban cho chúng một lợi thế quá lớn khi biến tự nhiên thành một người mẹ với sự dịu dàng và tình yêu thương, tự tay dắt dìu và dạy dỗ chúng làm quen với mọi hành động và tiện nghi trong đời sống của chúng, trong khi lại bỏ mặc chúng ta cho sự ngẫu nhiên, may rủi, buộc ta phải mày mò tìm kiếm bằng nghệ thuật những thứ thiết yếu cho sự sinh tồn, đồng thời tước đi của chúng ta phương tiện để có thể, bằng bất kỳ sự hướng dẫn hay nỗ lực trí tuệ nào, vươn tới mức độ đủ đầy tự nhiên của muông thú — đến nỗi sự ngu đần mang tính thú vật của chúng lại vượt qua, về mặt tiện nghi, tất cả những gì mà trí tuệ thần thánh của chúng ta có thể làm được. Thực sự, với đà này, chúng ta hoàn toàn có lý do chính đáng để gọi tự nhiên là một người mẹ ghẻ bất công; nhưng thực tế không phải như vậy, và hệ thống chính trị của chúng ta cũng không hề bất quy tắc hay thiếu hình hài đến thế.

Tự nhiên đã quan tâm phổ quát đến mọi tạo vật của bà, và chẳng có sinh vật nào là không được bà ban phát đầy đủ mọi phương tiện cần thiết để bảo tồn sự tồn tại của chính mình. Đối với những lời than phiền phổ biến mà tôi thường nghe con người cất lên (khi sự phóng túng trong các quan niệm lúc thì nâng bổng họ lên trên mây xanh, lúc lại dìm họ xuống tận đối cực) — rằng chúng ta là loài động vật duy nhất bị bỏ rơi trong trạng thái trần truồng trên mặt đất cằn cỗi, bị trói buộc và kiềm tỏa, chẳng có lấy thứ gì để tự vệ và che thân ngoài chiến lợi phẩm cướp từ kẻ khác; trong khi tự nhiên đã che chở tất cả các tạo vật khác bằng vỏ cứng, vỏ trấu, vỏ cây, lông mao, lông cừu, gai nhọn, da thuộc, lông tơ, lông vũ, vảy hoặc tơ lụa, tùy theo nhu cầu sinh tồn của chúng; đã trang bị cho chúng móng vuốt, răng nanh hoặc sừng để tấn công và phòng thủ, đồng thời chính tay bà dạy cho chúng cách thức phù hợp nhất để bơi lội, chạy nhảy, bay lượn và cất tiếng hót, trong khi con người sinh ra chẳng biết đi, biết nói, biết ăn, hay làm bất cứ điều gì ngoài việc khóc lóc nếu không được dạy dỗ —, những lời than phiền đó đều là sai sự thật. Trong hệ thống của thế giới này tồn tại một sự bình đẳng lớn lao hơn và mối quan hệ đồng nhất hơn nhiều.

Làn da của chúng ta đủ khả năng bảo vệ ta khỏi những khắc nghiệt của thời tiết hệt như da của chúng; minh chứng là có rất nhiều dân tộc cho đến nay vẫn chưa biết sử dụng quần áo. Những người Gaul cổ đại của chúng ta chỉ mặc những bộ y phục rất mỏng manh, cũng giống như người Ireland láng giềng của chúng ta, dẫu họ sống trong một khí hậu lạnh giá nhường ấy; nhưng chúng ta có thể đánh giá điều này rõ hơn qua chính bản thân mình: bởi vì tất cả những bộ phận mà chúng ta thích để phơi bày ra ngoài không khí đều tỏ ra vô cùng chịu đựng được nó: khuôn mặt, bàn chân, bàn tay, cánh tay, cái đầu, tùy theo trang phục khác nhau. Nếu có một bộ phận nào đó trên cơ thể chúng ta mỏng manh và có vẻ dễ gặp nguy hiểm vì lạnh, thì đó phải là dạ dày — nơi diễn ra quá trình tiêu hóa; thế nhưng tổ tiên chúng ta vẫn luôn để lộ phần đó ra ngoài, và các quý bà của chúng ta, dẫu có yếu đuối và mềm mại đến đâu, đôi khi vẫn đi lại với một nửa thân dưới để trần cho đến tận rốn. Việc quấn tã hay bó buộc trẻ sơ sinh cũng chẳng hề cần thiết gì hơn; các bà mẹ người Lacedaemon từng để con cái mình tự do vận động các chi mà chẳng hề có bất kỳ sự ràng buộc nào. Tiếng khóc của chúng ta là điều phổ biến ở phần lớn các loài động vật khác, và có rất ít sinh vật mà người ta không thấy chúng rên rỉ hay than khóc trong một thời gian dài sau khi chào đời; bởi vì đó là một hành vi phù hợp với sự yếu đuối mà chúng nhận thấy ở bản thân. Còn về thói quen ăn uống, nó ở chúng cũng tự nhiên và chẳng cần phải qua trường lớp dạy dỗ hệt như chúng ta;

Ai lại có thể nghi ngờ rằng một đứa trẻ khi đã đạt đến độ tuổi tự ăn được sẽ tự tìm cách kiếm thứ gì đó để đưa vào miệng? Và đất đai sản sinh cũng như dâng hiến cho nó những thứ để thỏa mãn nhu cầu mà chẳng cần bất kỳ sự canh tác hay xảo thuật nào khác; và nếu đất đai không làm thế vào mọi thời điểm, thì đối với muông thú nó cũng chẳng khác gì — minh chứng là chúng ta thấy loài kiến và các sinh vật khác tích trữ lương thực để phòng hờ cho những mùa giá rét trong năm. Những quốc gia mới được phát hiện gần đây, nơi vô cùng dồi dào thức ăn và thức uống tự nhiên mà chẳng cần chăm bón hay nấu nướng, có thể cho chúng ta hiểu rằng bánh mì không phải là thứ lương thực duy nhất của chúng ta, và rằng nếu không cần cày cấy, mẹ thiên nhiên đã cung cấp đầy đủ mọi thứ chúng ta cần. Thậm chí, điều đó còn xuất hiện một cách trọn vẹn và dồi dào hơn cả hiện tại, bây giờ khi chúng ta đã nhúng đôi tay lao động của mình vào đó:

sự đồi trụy và bất quy tắc trong ham muốn của chúng ta đã vượt xa mọi phát minh mà chúng ta có thể nghĩ ra để thỏa mãn nó.

Về vũ khí, chúng ta sở hữu nhiều thứ vũ khí tự nhiên hơn hầu hết các loài động vật khác — nhiều chuyển động uyển chuyển hơn của các chi, và tự nhiên, chẳng cần bài học nào, chúng ta khai thác được từ chúng nhiều công dụng hơn. Những kẻ được huấn luyện để chiến đấu trong trạng thái trần truồng thường lao mình vào những hiểm họa tương tự như chúng ta. Nếu một số loài thú vượt trội hơn chúng ta ở lợi thế này, thì chúng ta lại vượt trội hơn nhiều loài khác. Còn về kỹ năng gia cố cơ thể và che chở nó bằng các phương tiện nhân tạo, há chẳng phải chúng ta có được điều đó nhờ bản năng và những bài học tự nhiên hay sao? Bằng chứng là loài voi tự mài nhọn và mài giũa những chiếc ngà mà chúng sử dụng trong chiến tranh (bởi chúng có những chiếc ngà riêng biệt dành cho nhiệm vụ đó, chúng nâng niu và không bao giờ dùng chúng vào bất kỳ mục đích nào khác); khi những con bò đực chuẩn bị chiến đấu, chúng hất và tung bụi mù mịt xung quanh; loài lợn rừng mài nanh; và con cầy ichneumon, khi chuẩn bị giao chiến với cá sấu, liền tự gia cố cơ thể bằng cách bôi trát và phủ kín toàn bộ lớp da mình bằng một lớp bùn nhão được nhào nặn đặc quánh và tôi luyện kỹ lưỡng hệt như một chiếc áo giáp. Tại sao chúng ta lại không thể nói rằng việc trang bị cho mình bằng gỗ và sắt cũng là một bản năng tự nhiên của con người cơ chứ?

Về ngôn ngữ, chắc chắn rằng nếu nó không phải là tự nhiên thì nó cũng chẳng phải là thứ thiết yếu. Dù vậy, tôi tin rằng một đứa trẻ được nuôi dưỡng trong sự cô lập tuyệt đối, tách biệt hoàn toàn khỏi mọi xã hội loài người (đó sẽ là một thí nghiệm vô cùng khó thực hiện), vẫn sẽ có một thứ ngôn ngữ nào đó để biểu đạt ý nghĩa của nó. Và không thể cho rằng thiên nhiên lại tước đi thứ mà bà đã ban cho một số loài động vật khác — bởi vì năng lực mà chúng ta quan sát thấy ở chúng, như than vãn, vui mừng, gọi nhau cứu trợ và mời gọi nhau giao phối bằng tiếng kêu, thì nếu không phải là ngôn ngữ thì là gì? Và tại sao chúng lại không thể nói chuyện với nhau cơ chứ? Chúng nói chuyện với chúng ta và chúng ta nói chuyện với chúng. Có biết bao nhiêu cách khác nhau mà chúng ta dùng để trò chuyện với những con chó của mình, và chúng đáp lại chúng ta? Chúng ta trò chuyện với chúng bằng một thứ ngôn ngữ khác, và sử dụng những tiếng gọi khác với khi chúng ta trò chuyện cùng chim chóc, heo, bò, ngựa, và thay đổi âm điệu tùy theo từng loài.

Lactantius dường như quy cho muông thú không chỉ ngôn ngữ mà cả tiếng cười nữa. Và sự khác biệt về ngôn ngữ xuất hiện giữa chúng ta, tùy theo sự khác biệt của các quốc gia, cũng được quan sát thấy ở các loài động vật cùng loài. Aristotle, để chứng minh điều này, đã lấy ví dụ về những tiếng kêu khác nhau của loài gà gò tùy theo vị trí địa lý nơi chúng sinh sống:

Tuy nhiên, vẫn còn phải xem đứa trẻ đó sẽ nói thứ tiếng gì; và những gì người ta phỏng đoán về điều đó chẳng có vẻ gì là đáng tin cậy cho lắm. Nếu ai đó viện dẫn để phản bác lại quan điểm này rằng những kẻ bị điếc bẩm sinh không biết nói, tôi xin đáp rằng điều đó không chỉ bởi vì họ không thể tiếp nhận sự hướng dẫn nói bằng tai, mà phần nhiều là do thính giác — giác quan mà họ bị tước mất — có mối liên hệ mật thiết với phát ngôn, và chúng gắn kết với nhau bằng một mối dây tự nhiên và bất khả phân ly; đến mức những gì chúng ta nói trước tiên phải được thấu âm bên trong chính mình, và làm cho nó vang lên trong đôi tai của bản thân trước khi chúng ta có thể thốt nó ra cho người khác nghe.

Tất cả những điều này tôi nói để chứng minh sự tương đồng tồn tại trong các sự vật của con người, và để kéo chúng ta trở lại hòa nhập vào đám đông muông thú. Chúng ta không ở trên cũng chẳng ở dưới phần còn lại. Tất cả những gì dưới vòm trời này, như bậc hiền triết đã nói, đều chung một luật lệ và một vận mệnh:

Quả thực, có chút ít sự khác biệt — có nhiều thứ bậc và cấp độ; nhưng tất cả đều nằm dưới ánh nhìn của cùng một bản chất duy nhất:

Con người phải bị ép buộc và kìm hãm trong những giới hạn của hệ thống chính trị này. Sinh vật khốn khổ! Hắn chẳng có nổi điều kiện để thực sự bước qua khỏi hàng rào đó. Hắn bị xiềng xích và bao vây, hắn bị khuất phục bởi cùng một thứ tất yếu mà các tạo vật khác cùng cấp bậc và trật tự với hắn phải chịu đựng; và hắn ở một tình trạng vô cùng thấp hèn, chẳng có lấy bất kỳ đặc quyền nào của sự ưu việt chân chính và thực tế. Thứ mà hắn tự gán cho mình bằng trí tưởng tượng phù phiếm và quan điểm hão huyền hoàn toàn không có cả hình hài lẫn hương vị. Và nếu sự thật là chỉ có mình hắn trong số tất cả các loài động vật sở hữu thứ tự do tưởng tượng và sự bất quy tắc trong tư duy này — tự vẽ ra trước mắt mình cái có thật, cái không có thật, cái hắn muốn có, cái sai lầm và cái chân lý —, thì đó là một lợi thế phải trả giá đắt đỏ, và chẳng có lấy chút lý do nào để hắn phải tự hào về nó; bởi vì từ đó nảy sinh ra nguồn cội chính yếu và nguyên thủy của mọi tai họa giáng xuống đời hắn — tội lỗi, bệnh tật, sự thiếu quyết đoán, nỗi thống khổ, sự tuyệt vọng. Do đó, tôi xin nhắc lại, quay trở lại với chủ đề của mình, chẳng có dấu hiệu nào xui khiến người ta tin rằng muông thú lại thực hiện những hành động hệt như chúng ta bằng một khuynh hướng tự nhiên và bị ép buộc, trong khi chúng ta làm điều đó bằng sự lựa chọn và nỗ lực của chính mình. Chúng ta phải từ những hiệu ứng tương tự mà đi đến kết luận về các năng lực tương tự, và từ những hiệu ứng lớn hơn mà suy ra các năng lực lớn hơn; và do đó phải thừa nhận rằng cùng một lý luận, cùng những con đường mà chúng ta vận hành đều chung với chúng, hoặc chúng sở hữu những thứ khác tốt hơn thế. Tại sao chúng ta lại phải tưởng tượng ra thứ ràng buộc tự nhiên này ở chúng, trong khi bản thân chúng ta lại chẳng hề trải nghiệm qua bất kỳ hiệu ứng nào như thế? Thêm vào đó, việc được dẫn dắt và buộc phải hành động một cách quy củ bởi một điều kiện tự nhiên và tất yếu, lại gần gũi với thần linh hơn là hành động quy củ bằng một sự tự do liều lĩnh và ngẫu nhiên; đồng thời việc phó thác dây cương điều khiển vào tay tự nhiên sẽ an toàn hơn là tự tay nắm giữ nó. Tính phù phiếm trong sự kiêu ngạo của chúng ta khiến chúng ta thà nhận năng lực của mình từ những nỗ lực của bản thân còn hơn là từ sự ban ơn của tự nhiên; thà ban phát cho các loài động vật khác những món quà tự nhiên rồi tước bỏ chúng để vinh danh và tự tôn bản thân bằng những món quà có được qua học tập — theo quan điểm của tôi thì thật là vô cùng ngu ngốc. Bởi vì tôi đánh giá cao những phần năng lực và đức hạnh tự nhiên, thuần túy thuộc về chính mình chẳng kém gì những thứ tôi phải đi xin xỏ và thu nhận được qua giáo dục. Chẳng có vinh dự nào cao quý hơn việc được dung dưỡng bởi Thiên Chúa và tự nhiên nằm trong tầm tay của chúng ta cả.

Chẳng hạn, hãy lấy con cáo mà người dân xứ Thrace sử dụng khi họ muốn vượt qua lớp băng của một dòng sông đóng băng, và thả nó ra phía trước để dò đường; khi chúng ta thấy nó đặt sát tai xuống bờ sông, ép vào lớp băng để lắng nghe xem từ khoảng cách xa hay gần nó có thể nghe thấy tiếng dòng nước chảy hay không, và tùy theo việc nó nhận thấy lớp băng dày hay mỏng qua âm thanh đó mà lui lại hoặc tiến lên — há chúng ta lại không có lý do để tin rằng trong đầu nó cũng diễn ra những suy nghĩ lý tính hệt như chúng ta trong những hoàn cảnh tương tự, và đó là một sự suy luận, một hệ quả được rút ra từ cảm giác tự nhiên: rằng cái gì phát ra tiếng động thì đang chảy, cái gì đang chảy thì không đóng băng, cái gì không đóng băng thì ở thể lỏng, và thể lỏng thì chịu sự tác động hay sao? Bởi vì việc quy điều này cho một sự thính nhạy thuần túy của thính giác, mà không có lý trí và hệ quả, là một ảo tưởng hoang đường không tài nào lọt nổi vào trí tưởng tượng của con người. Chúng ta cũng phải giả định điều tương tự đối với vô số loại sự tinh vi và phát minh mà qua đó muông thú tự bảo vệ mình và phá hoại các mưu đồ mà chúng ta giăng ra để chống lại chúng.

Và nếu chúng ta muốn tận dụng cả lợi thế này — rằng chúng ta có quyền lực tóm lấy chúng, sử dụng chúng vào mục đích của mình và sai khiến chúng theo ý thích —, thì đó vẫn chỉ là cái lợi thế hệt như khi chúng ta đối xử với nhau mà thôi. Chúng ta đối xử với những nô lệ của mình cũng theo những điều kiện ấy: đám Climacid ở Syria chẳng phải là những người phụ nữ phải quỳ bò bằng cả bàn tay lẫn đầu gối để làm thang hay ghế đẩu cho các quý bà leo lên xe ngựa của họ đó sao? Và phần lớn những con người tự do vẫn sẵn sàng bán đứt cuộc đời và sự tồn tại của mình vào tay kẻ khác chỉ vì những sự tiện nghi vô cùng tầm thường. Các bà vợ và thợ thiếp của người Thracian từng tranh giành nhau xem ai sẽ được chọn để đem chôn theo mồ mã của chồng họ. Đã bao giờ các bạo chúa thiếu thốn những kẻ sẵn sàng thề nguyền tận trung với họ chưa? Thậm chí một số kẻ trong số chúng còn đòi hỏi thêm cả cái nghĩa vụ phải tuẫn táng theo họ trong cái chết hệt như khi còn sống nữa cơ chứ? Toàn bộ các đạo quân từng thề nguyền gắn bó với các vị tướng của họ theo cách thức ấy. Lời thề trong ngôi trường võ biền tàn nhẫn của các đấu sĩ mang nguyên văn thế này: “Chúng ta thề sẽ chấp nhận bị xiềng xích, thiêu đốt, thương tích và bị gươm đâm thủng, và chịu đựng mọi điều mà những đấu sĩ chân chính phải chịu đựng từ chủ nhân của họ, thành kính dâng hiến cả thể xác lẫn linh hồn để phục vụ cho ngài.”

Đó quả thực là một sự ràng buộc tột cùng; thế mà chỉ trong một năm, có tới mười ngàn kẻ đã lao đầu vào đó để chuốc lấy sự hủy diệt. Khi người Scythia chôn cất vị vua của mình, họ siết cổ ngay trên thi thể ngài người thếp được yêu chiều nhất, người dắt ngựa, tổng quản, thị thần, người gác cửa và đầu bếp của ngài. Và vào ngày giỗ hằng năm của ngài, họ giết hại năm mươi con ngựa do năm mươi tiểu đồng cưỡi — những kẻ đã bị cọc đâm xuyên suốt dọc sống lưng lên đến tận cổ họng, rồi để họ mắc kẹt ở đó như một cách diễu võ giương oai xung quanh lăng mộ của ngài. Những con người phục vụ chúng ta còn rẻ mạt hơn, và được đối xử với ít sự chăm sóc cũng như ưu ái hơn nhiều so với cách chúng ta đối xử với chim ưng, ngựa và chó của mình. Có sự nhọc nhằn nào mà chúng ta không chịum khuất phục vì sự tiện nghi của những loài vật ấy chứ? Tôi không nghĩ rằng ngay cả những người hầu ở điều kiện thấp hèn nhất lại có thể vui lòng làm cho các ông chủ của họ những điều mà các bậc vương tôn công tử xem là một vinh hạnh khi làm cho thú cưng của mình. Khi Diogenes nhìn thấy họ hàng của mình đang loay hoay tìm cách chuộc ông khỏi kiếp nô lệ, ông đã bảo: “Họ thật ngốc nghếch; chính kẻ đang nuôi dưỡng và chăm sóc ta mới thực sự là kẻ hầu hạ ta.” Và những kẻ nuôi dưỡng muông thú đáng lẽ phải được gọi là đang hầu hạ chúng, thay vì được chúng phục vụ. Hơn thế nữa, trong chuyện này muông thú còn có điều gì đó cao cả hơn ở chỗ chưa từng có một con sư tử nào chịu khuất phục một con sư tử khác, hay một con ngựa chịu cúi đầu trước con ngựa khác, chỉ vì chúng thiếu đi dũng khí. Hệt như cách chúng ta đi săn muông thú, hổ và sư tử cũng đi săn con người, và gây ra những thảm kịch tương tự cho nhau; chó săn săn thỏ, cá chó săn cá trê, én săn châu chấu, chim cắt săn chim hoét và sơn ca:

Chúng ta chia sẻ chiến lợi phẩm, cũng như nỗi nhọc nhằn và công sức của cuộc săn, với chim ưng và chó săn của mình. Và quanh vùng Amphipolis ở Thrace, những người huấn luyện chim ưng và chim ưng hoang dã chia đôi chiến lợi phẩm một cách sòng phẳng với nhau. Tương tự như vậy, dọc theo hồ Mæotis, nếu ngư dân không trung thực để lại cho bầy sói một phần chia tương xứng từ những gì hắn đánh bắt được, chúng sẽ lập tức xông vào xé nát lưới của hắn thành từng mảnh. Và giống như cách chúng ta có những phương thức săn bắn dựa vào sự tinh ranh nhiều hơn là sức mạnh — như xua đuổi thỏ hay câu cá bằng dây và lưỡi câu —, những loài động vật khác cũng có các phương thức tương tự. Aristotle nói rằng con mực nôn ra từ cổ họng của nó một chiếc xúc tu dài như một sợi dây câu, nó thả lỏng và thu vào tùy theo ý muốn; và khi cảm thấy có chú cá nhỏ nào bơi lại gần, nó liền để cho con cá rỉa mến phần đầu của chiếc xúc tu đó, trong khi bản thân thì ẩn nấp trong cát hoặc bùn, rồi từ từ kéo lại cho đến khi chú cá nhỏ đến gần sát bên để nó có thể tóm gọn chỉ bằng một cú lao.

Về sức mạnh, chẳng có sinh vật nào trên thế giới này phải chịu đựng nhiều tổn thương và tai họa như con người. Chúng ta chẳng cần đến cá voi, voi hay cá sấu, hay bất kỳ loài động vật tương tự nào mà chỉ cần một con duy nhất cũng đủ sức tiễn đưa hàng loạt mạng người; lũ rận dã chiến cũng đủ để làm sụp đổ nền độc tài của Sulla! Và trái tim cùng sự sống của một vị hoàng đế vĩ đại và khải hoàn lại chính là bữa điểm tâm của một con sâu bọ nhỏ bé đáng khinh!

Tại sao chúng ta lại nói rằng chỉ có con người, hay tri thức được xây dựng bằng nghệ thuật và sự chiêm nghiệm, mới có khả năng phân biệt những thứ hữu ích cho sự sống, thích hợp cho việc chữa trị bệnh tật và những thứ không phải; để thấu triệt công dụng của đại hoàng và dương xỉ? Khi chúng ta chứng kiến loài dê ở Candia, khi bị tên bắn trúng, giữa hàng triệu loài thực vật lại biết chọn lấy cây khổ sâm để tự chữa lành; khi con rùa, sau khi ăn phải rắn độc, lập tức đi tìm cây kinh giới để tẩy uế; loài rồng dùng cây thì là để chà xát và làm sạch đôi mắt; loài cò tự thụt rửa bằng nước biển; loài voi tự tay nhổ bỏ — không chỉ trên cơ thể chúng và của đồng loại, mà còn trên cơ thể của những ông chủ của chúng (minh chứng là con voi của vua Porus bị Alexander đánh bại) — những mũi lao và giáo mác cắm vào trong trận chiến, lại làm việc đó một cách khéo léo đến mức chính chúng ta cũng chẳng thể làm tốt hơn mà ít gây đau đớn cho bệnh nhân đến thế — tại sao ở đây chúng ta lại không gọi đó là kiến thức và lý trí? Bởi vì việc viện dẫn để hạ thấp chúng rằng đó chỉ là do sự hướng dẫn và sai khiến độc tôn của tự nhiên không có nghĩa là tước đi phẩm giá của kiến thức và lý trí ở chúng, mà ngược lại, là gán cho chúng một cách mạnh mẽ hơn so với chúng ta, để tôn vinh một người thầy vô cùng không thể sai lầm ấy. Chrysippus, dẫu cho trong những vấn đề khác có là một kẻ khắt khe đánh giá điều kiện của muông thú bậc nhất đi nữa, khi quan sát chuyển động của một con chó đi đến một ngã ba đường — hoặc để tìm kiếm chủ nhân đã thất lạc của nó, hoặc truy đuổi con mồi đang chạy trốn trước mặt —, nó cứ ngửi ngửi ở một ngã đường này, rồi sang ngã đường thứ hai, và sau khi đã chắc chắn loại trừ hai ngã mà không tìm thấy dấu vết của thứ nó đang tìm, liền lao vút vào ngã đường thứ ba mà chẳng cần phải ngửi ngửi gì nữa, đã buộc phải thú nhận rằng có sự suy luận hiện hữu trong con chó đó: “Ta đã lần theo dấu vết của chủ nhân đến tận nơi này; ngài chắc chắn phải đi theo một trong ba con đường đó; ngài không đi đường này cũng chẳng đi đường kia, vậy thì ngài chắc chắn không thể chối cãi là đã đi con đường còn lại này.” Và việc nó tự tin vào kết quả đó đến mức không buồn dùng đến chiếc mũi của mình ở con đường thứ ba, cũng chẳng thèm áp nó xuống mặt đất, mà cứ thế lao đi nhờ sức mạnh của sự suy luận. Nỗi bứt phá thuần túy mang tính logic này, cùng việc sử dụng các mệnh đề phân rã và liên kết, cùng sự liệt kê chính xác các bộ phận — há chẳng phải là một điều hoàn hảo ngang ngửa việc con chó tự mình hiểu biết tất cả những điều đó hệt như khi học từ Trapezuntius hay sao?

Tuy nhiên, muông thú không phải là không có khả năng được huấn luyện theo phương pháp của chúng ta. Chúng ta dạy chim hoét, quạ, ác là và vẹt nói; và sự dễ dàng mà chúng ta thấy chúng cho mượn giọng nói, uốn nắn cả hơi thở của mình trở nên mềm mại và linh hoạt để bị gò ép giới hạn trong một số lượng nhất định các chữ cái và âm tiết, đã chứng minh rõ ràng rằng chúng sở hữu một lý trí bên trong, chính thứ đó làm cho chúng dễ bảo và sẵn sàng học hỏi. Tôi tin rằng tất cả mọi người đều đã ngấy tận cổ với đủ loại trò mèo mà các nghệ sĩ nhào lặn dạy cho những chú chó của mình: những điệu nhảy mà chúng chẳng bao giờ lỡ nhịp của âm thanh chúng nghe thấy, hay vô số các chuyển động cùng cú nhảy khác nhau mà người ta bắt chúng thực hiện chỉ bằng một mệnh lệnh. Nhưng tôi quan sát hiệu ứng này với sự kinh ngạc lớn lao nhất — dẫu cho nó rất phổ biến — ở những chú chó dẫn đường cho người mù, cả ở nông thôn lẫn thành phố: tôi đã chú ý cách chúng dừng lại ở một số ngưỡng cửa nhất định nơi chúng quen nhận được bố thí; cách chúng né tránh sự va quẹt của xe ngựa và xe kéo ngay cả khi có đủ không gian để đi qua; tôi từng thấy chúng, khi đi ngang qua con hào của một thành phố, liền bỏ qua con đường bằng phẳng và dễ đi để chọn một lối đi tồi tệ hơn, chỉ cốt để giữ cho chủ nhân của mình cách xa chiếc hào hơn — làm thế nào mà một con người có thể làm cho con chó này hiểu rằng nhiệm vụ của nó là chỉ chăm lo cho sự an toàn của chủ nhân và khinh miệt sự tiện nghi của chính mình để phụng sự ông? Và làm thế nào mà nó lại có nhận thức rằng một con đường đủ rộng cho nó nhưng lại không đủ rộng cho một người mù cơ chứ? Liệu tất cả những điều đó có thể được nhận thức mà không cần đến sự suy luận hay sao?

Tôi không thể bỏ qua câu chuyện mà Plutarch kể lại rằng ông từng tận mắt nhìn thấy một chú chó tại Rome dưới triều đại của hoàng đế Vespasian (cha), tại nhà hát Marcellus. Chú chó này phục vụ cho một diễn viên trong một vở kịch hài có nhiều màn và nhiều nhân vật, và nó cũng đóng một vai của mình trong đó. Trong số những việc khác, nó có nhiệm vụ phải giả vờ chết trong một khoảng thời gian do một loại thuốc giả định mà nó phải nuốt vào. Sau khi nuốt một miếng bánh mì được xem như viên thuốc, nó bắt đầu run rẩy và lảo đảo sau một lúc, hệt như bị choáng váng; cuối cùng, duỗi thẳng người ra cứng đơ như đã chết, nó mặc cho người ta lôi và kéo lê từ chỗ này sang chỗ khác theo đúng phân đoạn của nó; và sau đó, khi nhận ra đã đến lúc, nó bắt đầu cử động nhẹ nhàng trở lại như thể vừa tỉnh giấc sau một giấc ngủ say, rồi ngẩng đầu lên nhìn ngó xung quanh theo một cách thức làm cho tất cả khán giả phải kinh ngạc.

Những con bò phục vụ trong các khu vườn hoàng gia ở Susa để tưới cây, quay những chiếc bánh xe lớn nhằm kéo nước lên cho mục đích đó, nơi người ta gắn những chiếc gàu vào (giống như nhiều chiếc có ở vùng Languedoc) — khi được lệnh quay đúng một trăm vòng mỗi ngày, chúng đã quen thuộc với con số đó đến mức không một sức mạnh nào có thể bắt chúng quay thêm dù chỉ một vòng; công việc vừa hoàn thành, chúng sẽ lập tức dừng lại và đứng im phăng phắc. Chúng ta phải gần như thành người mới có thể đếm đến một trăm, thế mà gần đây người ta lại phát hiện ra những quốc gia hoàn toàn chẳng có lấy chút khái niệm nào về con số.

Sự thấu hiểu được đòi hỏi trong việc dạy dỗ kẻ khác rõ ràng lớn hơn so với lúc được dạy. Giờ đây, gạt sang một bên những gì Democritus từng giữ vững và chứng minh — rằng “hầu hết các loại nghệ thuật chúng ta đang có đều được dạy dỗ bởi muông thú,” như loài nhện dạy ta dệt may và khâu vá, loài én dạy ta xây tổ, thiên nga và họa mi dạy ta âm nhạc, và nhiều loài vật khác dạy ta cách chế dược —, Aristotle lại có quan điểm rằng “những chú chim họa mi dạy con cái của chúng hót, và dành rất nhiều thời gian lẫn sự chăm sóc cho việc đó”; từ đó dẫn đến việc những chú chim non được chúng ta nuôi trong lồng, vì không có thời gian để học từ cha mẹ chúng, nên thiếu hụt rất nhiều nét uyển chuyển trong tiếng hót. Chúng ta có thể phán đoán từ điều này rằng chúng tiến bộ nhờ kỷ luật và sự học hỏi; và ngay cả trong tự nhiên hoang dã, không phải con nào cũng giống con nào — mỗi con học được cách hót hay hơn hoặc dở hơn tùy thuộc vào năng lực của chúng. Và trong lúc học, chúng ganh tị với nhau đến mức tranh đấu bằng sự ganh đua quyết liệt, mãnh liệt đến độ đôi khi kẻ thua cuộc ngã chết ngay tại chỗ, hơi thở cạn kiệt trước cả giọng hót. Những chú chim non ngẫm ngợi trầm ngâm và bắt đầu lẩm bẩm một vài nốt nhạc đứt quãng; kẻ học trò lắng nghe bài học từ người thầy và đáp lại bằng nốt nhạc tốt nhất mà nó có thể; chúng giữ im lặng luân phiên; người ta có thể nghe thấy những lỗi lầm được sửa chữa và quan sát thấy một vài lời quở trách từ phía người thầy. Arrian từng nói: “Tôi đã từng tận mắt nhìn thấy một con voi với một chiếc chũm chọe treo ở mỗi chân, và một chiếc khác gắn trên vòi của nó; theo âm thanh đó, tất cả những con voi khác đều nhảy múa xung quanh, đứng lên và cúi xuống theo những nhịp điệu nhất định, được dẫn dắt bởi nhạc cụ; và thật là tuyệt vời khi được thưởng thức thứ hòa âm này.” Trong các buổi biểu diễn ở Rome, người ta thường thấy những con voi được huấn luyện để chuyển động và nhảy múa theo âm thanh của giọng nói — những điệu nhảy có rất nhiều sự thay đổi và nhịp điệu vô cùng khó học. Và người ta cũng từng biết đến những chú voi tập trung cao độ vào bài học đến mức chúng tự lén lút luyện tập một mình trong góc khuất, để không bị chủ nhân la mắng hay đánh đập.

Nhưng câu chuyện tiếp theo về con chim ác là — mà chính Plutarch là người bảo đảm tính xác thực — lại vô cùng kỳ lạ. Nó sống trong một tiệm hớt tóc ở Rome, và làm nên những điều kỳ diệu khi bắt chước bằng giọng nói bất cứ thứ gì nó nghe thấy. Một ngày nọ, có mấy người thổi kèn đứng thổi một hồi lâu trước cửa tiệm. Sau hôm đó và suốt cả ngày hôm sau, con chim ác là trở nên trầm ngâm, câm lặng và u sầu; khiến ai nấy đều kinh ngạc và cho rằng tiếng kèn đã làm nó tê dại và kinh ngạc đến mức mất đi giọng hót. Nhưng cuối cùng người ta mới phát hiện ra đó là một khoảng lặng chiêm nghiệm sâu sắc và sự thu mình vào nội tâm, khi tư duy của nó đang thực hành và chuẩn bị cho giọng nói để bắt chước âm thanh của những chiếc kèn ấy; thế nên âm thanh đầu tiên nó thốt ra chính là việc bắt chước một cách hoàn hảo các giai đoạn, nhịp ngắt và biến đổi của dàn kèn — vứt bỏ hoàn toàn và khinh miệt tất cả những gì nó từng học được trước đó nhờ bài học mới mẻ này.

Tôi cũng không thể bỏ qua một ví dụ khác về một con chó, cũng được chính Plutarch kể lại (tôi đang đảo lộn hoàn toàn thứ tự, nhưng ở đây tôi chẳng hề mưu cầu sự sắp xếp nào hơn bất cứ chỗ nào khác xuyên suốt cuốn sách của mình) — một con chó mà Plutarch nói rằng ông từng thấy trên một con tàu. Con chó này đang loay hoay tìm cách uống phần dầu còn đọng lại dưới đáy một chiếc vại mà nó không tài nào với tới bằng chiếc lưỡi của mình do cái cổ bình quá ư chật hẹp, bèn đi gom những viên đá thả vào trong vại cho đến khi mực dầu dâng cao lên đủ để nó có thể với tới. Hành động này là gì nếu không phải là kết quả của một năng lực vô cùng tinh tế? Người ta kể rằng loài quạ ở Barbary cũng làm điều tương tự khi nguồn nước chúng muốn uống quá nông. Hành động này có phần tương đồng với những gì Juba, một vị vua thuộc xứ sở của họ, kể về loài voi: “Rằng khi một con trong số chúng sập bẫy bởi sự xảo quyệt của thợ săn tại những cái hố sâu được ngụy trang bằng cành cây để lừa gạt chúng, tất cả những con voi còn lại liền chăm chỉ mang rất nhiều đá và khúc gỗ tới để nâng đáy hố lên giúp con voi đó có thể trèo ra ngoài.” Nhưng sinh vật này, trong một số hành động khác, lại tiến gần đến năng lực của con người đến mức nếu tôi tường thuật chi tiết tất cả những gì kinh nghiệm đã truyền đạt cho chúng ta, tôi sẽ dễ dàng đạt được điều mà tôi vẫn thường duy trì: nghĩa là, sự khác biệt giữa người này với người kia đôi khi còn lớn hơn giữa một con thú ấy với một con người. Người quản tượng của một con voi trong một tư gia ở Syria thường xuyên ăn cắp một nửa khẩu phần ăn của nó vào mỗi bữa. Một ngày nọ, chính chủ nhân muốn tự tay cho nó ăn, liền đổ đúng định lượng lúa mạch đã ra lệnh cho khẩu phần của nó vào máng — con voi liền liếc nhìn viên quản tượng bằng một ánh mắt giận dữ, dùng vòi tách đôi phần lúa mạch sang hai bên rồi đẩy một nửa ra xa, qua đó tuyên bố sự bất công đã giáng xuống đầu mình. Và một con voi khác có người quản tượng pha trộn sỏi đá vào ngũ cốc của nó để bù đắp cho đủ định lượng đã đi thẳng đến cái nồi mà hắn đang luộc thịt cho bữa tối của chính mình rồi đổ đầy tro bếp vào đó. Đây chỉ là những sự việc riêng lẻ; thế nhưng điều mà cả thế giới đã thấy và cả thế giới đều biết — rằng trong tất cả các đạo quân ở miền Đông, một trong những lực lượng hùng mạnh nhất bao gồm loài voi, thứ mà nhờ chúng, họ đã tạo ra những cuộc tàn sát lớn hơn vô cùng so với những gì chúng ta làm bằng pháo binh ngày nay, thứ vốn chiếm lĩnh gần như vị trí của chúng trong một ngày giao tranh (như những ai am tường lịch sử cổ đại đều có thể dễ dàng suy đoán);

Họ chắc chắn phải đặt niềm tin vô cùng vững chắc vào lòng trung thành và trí tuệ của những con vật này khi giao phó cho chúng phần tiền phong trong một trận chiến — nơi mà chỉ một sự khựng lại nhỏ nhất do sự cồng kềnh và nặng nề của thể xác chúng gây ra, và sự hoảng sợ nhỏ nhất khiến chúng quay đầu xông vào chính quân mình, cũng đã đủ sức phá hỏng tất cả; và có rất ít ví dụ về việc chúng quay mũi giáo xém vào quân mình, trong khi chính chúng ta lại tự lao vào các tiểu đoàn của mình và làm tan nát lẫn nhau. Chúng được giao phó không chỉ một chuyển động đơn giản mà là vô số các nhiệm vụ khác nhau phải thực hiện trong trận chiến — hệt như cách người Tây Ban Nha từng làm với những chú chó của họ trong cuộc chinh phục Tân Thế Giới, khi họ trả lương và cho phép chúng được hưởng một phần chiến lợi phẩm; và những sinh vật ấy đã thể hiện sự khéo léo cùng phán đoán không kém phần sắc bén trong việc truy đuổi chiến thắng và kìm hãm cuộc truy sát, trong việc xung trận và rút lui tùy theo hoàn cảnh, cũng như trong việc phân biệt rõ bạn và thù, bên cạnh lòng nhiệt thành cùng sự hung hãn của chúng.

Chúng ta thường ngưỡng mộ và đánh giá cao những thứ khác thường, kỳ lạ hơn là những gì diễn ra trước mắt ta hằng ngày. Nếu không vì điều đó, tôi đã chẳng kiên trì bám lấy những ví dụ này lâu đến thế; bởi vì tôi tin rằng bất cứ ai quan sát một cách nghiêm ngặt những gì chúng ta thường thấy ở những con vật quanh mình cũng có thể tìm thấy ở đó những hiệu ứng kỳ diệu chẳng kém gì những thứ ta tìm kiếm ở những xứ sở xa xôi và các thời đại đã qua. Đó chỉ là một và cùng một dòng chảy của tự nhiên, và bất cứ ai chiêm nghiệm đầy đủ trạng thái hiện tại của sự vật chắc chắn đều có thể đưa ra kết luận cho cả tương lai lẫn quá khứ. Tôi từng tận mắt nhìn thấy những con người được đưa đến đây bằng đường biển từ những vùng đất vô cùng xa xôi, những kẻ có ngôn ngữ mà chúng ta không thể hiểu nổi, hơn nữa lại mang bộ dạng, gương mặt và y phục hoàn toàn khác biệt so với chúng ta — trong chúng ta, ai là kẻ không coi họ là những kẻ dã man và thú vật? Ai là kẻ không quy điều đó cho sự ngu đần và thiếu hiểu biết thông thường khi thấy họ câm lặng, không biết tiếng Pháp, không biết các nghi thức cúi chào và phép lịch sự của chúng ta, cái phong thái và cung cách mà toàn bộ nhân loại buộc phải lấy làm tiêu chuẩn và mẫu mực bằng mọi giá? Tất cả những gì có vẻ xa lạ với chúng ta, và những gì chúng ta không hiểu, chúng ta đều lên án. Điều tương tự cũng xảy ra trong các phán đoán mà chúng ta dành cho muông thú. Chúng sở hữu một số điều kiện tương tự như chúng ta; từ những điều đó, chúng ta có thể rút ra một vài phỏng đoán qua sự so sánh; nhưng bằng những phẩm chất đặc thù thuộc về riêng chúng, làm sao chúng ta biết phải xử trí ra sao đây! Ngựa, chó, bò, cừu, chim chóc và hầu hết các loài động vật sống chung với chúng ta đều nhận ra giọng nói của chúng ta và tuân theo sự điều khiển của chúng; con cá lòi tói của Crassus cũng vậy, nó sẽ bơi đến khi được gọi tên; những con lươn được tìm thấy trong hồ Arethusa cũng thế; và tôi từng thấy rất nhiều cái ao nơi cá bơi đến ăn theo một tiếng gọi nhất định của những kẻ thường cho chúng ăn.

Chúng ta có thể phán đoán điều đó. Chúng ta cũng có thể nói rằng loài voi có phần nào sự tham gia vào tôn giáo, bởi vì sau một vài lần tắm rửa và thanh tẩy, người ta quan sát thấy chúng giơ cao chiếc vòi lên hệt như những cánh tay, hướng đôi mắt về phía mặt trời mọc, và chìm đắm lâu trong sự chiêm nghiệm cùng mặc khải vào những giờ nhất định trong ngày, hoàn toàn bằng ý muốn của chính mình, mà chẳng cần qua sự hướng dẫn hay bài học nào. Nhưng bởi vì chúng ta không nhìn thấy bất kỳ dấu hiệu nào như thế ở các loài động vật khác, chúng ta không thể vì thế mà kết luận rằng chúng không có tôn giáo, cũng như không thể đưa ra bất kỳ phán đoán nào về những gì đang bị che giấu khỏi tầm mắt chúng ta. Giống như việc chúng ta nhận ra điều gì đó trong hành động mà nhà triết học Cleanthes từng lưu tâm, bởi vì nó có gì đó tương tự như chính chúng ta. Ông nói rằng ông từng thấy “những con kiến bò ra khỏi tổ của chúng, mang theo xác chết của một con kiến khác hướng về một cái tổ kiến khác, nơi có rất nhiều con kiến khác đi ra để đón chúng, hệt như để nói chuyện với nhau; ở đó, sau một lúc quây quần bên nhau, nhóm kiến sau quay trở lại để tham khảo ý kiến, bạn có thể đoán thế, với các đồng bào của chúng, và cứ thế thực hiện hai ba chuyến đi do sự khó khăn trong việc đàm phán. Cuối cùng, nhóm đến sau mang cho nhóm đi đầu một con giòi ra từ tổ của chúng, xem như để làm tiền chuộc cho người đã khuất, và nhóm đi đầu đặt con giòi đó lên lưng rồi mang về nhà, để lại xác chết cho nhóm kia.” Đó là cách giải thích mà Cleanthes đã đưa ra cho sự việc này, qua đó cho chúng ta hiểu rằng những sinh vật không có tiếng kêu ấy không vì thế mà không có sự giao lưu và giao tiếp tương hỗ, và việc chúng ta không thể thấu hiểu điều đó hoàn toàn là do khiếm khuyết của chính chúng ta, để rồi từ đó một cách ngu ngốc tự cho mình quyền đưa ra những lời phán quyết. Thế nhưng chúng vẫn sản sinh ra hoặc tạo ra những hiệu ứng vượt xa năng lực của chúng ta — thứ mà chúng ta không những chẳng tài nào vươn tới bằng sự bắt chước, mà thậm chí còn không thể mường tượng nổi dù chỉ qua sự bắt chước. Nhiều người cho rằng trong trận hải chiến lớn và cuối cùng mà Antony thua trước Augustus, soái thuyền của ông đã bị khựng lại giữa hải trình bởi một loài cá nhỏ mà người Latinh gọi là remora, do đặc tính giữ chân mọi loại tàu thuyền mà nó bám vào. Và hoàng đế Caligula, khi đang giương buồm trên một hạm đội lớn dọc theo bờ biển Romania, chiếc thuyền của ông bỗng dưng bị khựng lại bởi chính loài cá đó — khiến ông vô cùng tức giận và cho bắt nó lại khi nó vẫn đang bám chặt vào sống thuyền, căm phẫn vì một sinh vật nhỏ bé nhường ấy lại có thể chống lại cả biển cả, gió bão và toàn bộ lực lượng chèo thuyền chỉ bằng việc bám chặt bằng cái mỏ của nó vào chiếc thuyền (bởi nó là một loài thân mềm); đồng thời ông cũng không khỏi kinh ngạc, và có lý do xác đáng khi ngạc nhiên, rằng khi được mang lên thuyền, nó lại không còn giữ được sức mạnh như khi ở bên ngoài nước nữa. Một công dân xứ Cyzicus từng giành được danh hiệu một nhà toán học giỏi chỉ vì đã nghiên cứu được bản chất của con nhím: nó mở cái hang của mình ra ở nhiều hướng và đón nhiều ngọn gió khác nhau, và khi tiên đoán được hướng gió sắp thổi, nó sẽ bịt kín cái lỗ ở phía đó lại. Người công dân nọ quan sát thấy điều đó liền đưa ra cho thành phố những dự đoán chính xác về ngọn gió sắp thổi tới. Loài tắc kè hoa thay đổi màu sắc tùy thuộc vào nền mà nó đậu lên; nhưng loài mực nang lại tự đổi màu theo ý muốn tùy theo hoàn cảnh, hoặc để ngụy trang giấu mình khỏi những thứ nó sợ hãi, hoặc để rình mò thứ nó muốn tóm lấy: ở tắc kè hoa đó là sự biến đổi thụ động, còn ở mực nang đó là sự biến đổi chủ động. Chúng ta cũng có một số sự thay đổi màu sắc, như khi sợ hãi, giận dữ, xấu hổ và những cảm xúc khác làm thay đổi sắc diện; nhưng đó là hiệu ứng của sự thụ động, hệt như loài tắc kè hoa. Bệnh vàng da quả thực có quyền năng biến chúng ta thành màu vàng, nhưng đó hoàn toàn không phải là thứ nằm trong quyền năng của ý chí chúng ta. Giờ đây, những hiệu ứng mà chúng ta phát hiện ở các loài động vật khác, vượt trội hơn chúng ta rất nhiều lần, dường như hàm ý rằng chúng sở hữu một năng lực ưu việt nào đó mà chúng ta chưa từng biết đến — cũng giống như việc người ta phải giả định rằng còn rất nhiều phẩm chất và khả năng khác của chúng mà chưa có bất kỳ biểu hiện nào lọt được đến tai chúng ta.

Trong số tất cả những lời tiên tri thời cổ đại, cổ xưa nhất và chắc chắn nhất là những điềm báo được rút ra từ chuyến bay của loài chim; chúng ta không có bất cứ thứ gì chắc chắn sánh được với nó, cũng chẳng có gì đáng để ngưỡng mộ đến thế. Quy luật và trật tự của những chuyển động trên đôi cánh ấy — thứ mà từ đó người ta rút ra các hệ quả về những sự việc trong tương lai — chắc chắn phải được dẫn dắt bởi một phương tiện xuất sắc nào đó để tạo nên một hoạt động cao cả nhường ấy; bởi vì việc quy hiệu ứng vĩ đại này cho một khuynh hướng tự nhiên thuần túy, mà không có trí tuệ, sự đồng thuận và sự chiêm nghiệm của đấng tạo ra nó, là một quan điểm rõ ràng là sai lầm. Bằng chứng là loài cá điện có đặc tính không chỉ làm tê liệt tất cả những bộ phận chạm vào nó, mà thậm chí còn truyền qua cả lưới để tạo ra một sự uể oải nặng nề vào đôi tay của những ai cử động và cầm nắm chúng; thậm chí người ta còn đồn rằng nếu ai đó đổ nước lên người nó, người đó sẽ cảm nhận được sự tê dại ấy lan truyền qua dòng nước lên tới tận bàn tay, và làm tê liệt xúc giác thông qua làn nước. Đó là một sức mạnh kỳ diệu; nhưng nó không phải là vô ích đối với con cá điện; nó biết rõ điều đó và sử dụng nó: bởi vì để tóm gọn con mồi mà nó muốn, nó sẽ tự vùi mình vào lớp bùn để những con cá khác bơi ngang qua, bị đánh trúng và tê cóng bởi cái lạnh của nó, sẽ rơi thẳng vào tầm tay nó. Loài sếu, chim én và các loài chim di cư khác, qua việc thay đổi nơi ở tùy theo mùa mùng, đã thể hiện rõ ràng tri thức mà chúng có về khả năng tiên tri của mình và đưa nó vào thực tiễn. Những thợ săn bảo đảm với chúng ta rằng để lựa chọn ra trong số một đàn chó con đông đúc con nào nên được giữ lại như là con tốt nhất, cách tốt nhất là hãy phó mặc sự lựa chọn cho con chó mẹ: hãy bắt chúng ra khỏi chuồng, và con đầu tiên mà nó ngậm mang về chắc chắn sẽ là con tốt nhất; hoặc nếu bạn làm ra vẻ như muốn vây quanh chuồng chó bằng lửa, con đầu tiên mà nó lao đến để cứu sẽ là con đó. Qua đó cho thấy chúng sở hữu một thứ điềm báo mà chúng ta không có; hoặc chúng có một phẩm chất nào đó trong việc phán đoán đàn con của mình một cách khác biệt và chắc chắn hơn chúng ta.

Cách thức bước vào thế giới, sinh đẻ, nuôi dưỡng, hành động, chuyển động, sinh tồn và chết chóc của muông thú gần gũi với chúng ta đến mức bất cứ điều gì chúng ta bớt xén khỏi nguyên nhân chuyển động của chúng và thêm vào điều kiện của chính mình vượt trên chúng, đều không thể xuất phát từ bất kỳ sự chiêm nghiệm nào thuộc về lý trí của chúng ta. Đối với việc gìn giữ sức khỏe, các y sĩ thường đề xuất cho chúng ta noi theo gương phong cách và lối sống của muông thú; bởi vì câu nói này (được trích từ Plutarch) từ xưa đến nay vẫn luôn nằm lòng những người này: “Hãy giữ cho bàn chân và cái đầu của bạn được ấm, còn lại thì cứ sống như loài thú.”

Hành động tối cao của tự nhiên chính là sự sinh sản; chúng ta có một sự sắp xếp các bộ phận phù hợp nhất cho mục đích đó; dẫu vậy, chúng ta vẫn được Lucretius khuyên nhủ phải tuân theo cử chỉ và tư thế của loài thú như là cách thức hiệu quả nhất: —

Và cùng chính quyền năng ấy lên án, như là những điều có hại, những cử động thiếu kín đáo và trơ trẽn mà phụ nữ đã tự ý sáng tạo thêm, đồng thời đề xuất cho họ khuôn mẫu cùng thực hành ôn hòa và khiêm nhường hơn của những con vật cái cùng loài: —

Nếu công lý là việc trả lại cho mỗi người những gì thuộc về họ, thì muông thú — những kẻ phục vụ, yêu thương và bảo vệ những ân nhân của mình, đồng thời truy đuổi cũng như tấn công những kẻ xa lạ và những ai xúc phạm chúng — đã phơi bày qua đó một bầu không khí mang dáng dấp công lý của chúng ta; cũng như việc chúng duy trì một sự bình đẳng vô cùng công bằng trong việc phân chia những gì chúng có cho đàn con của mình. Và đối với tình bạn, chúng sở hữu nó một cách sống động và bền chặt hơn con người không biết bao nhiêu mà kể. Con chó Hyrcanus của vua Lysimachus, sau khi chủ chết, đã nằm lì trên giường của ông, kiên quyết từ chối ăn uống; và vào ngày thiêu xác chủ, nó đã lao mình và nhảy tót vào ngọn lửa để rồi bị thiêu rụi cùng với thi hài. Con chó của Pyrrhus cũng hành động tương tự, nó không chịu rời khỏi chiếc giường của chủ từ thời điểm ông qua đời; và khi người ta khiêng thi thể đi, nó cứ để cho người ta mang mình đi theo, và cuối cùng lao thẳng vào giàn hỏa táng thi thể chủ nhân. Có những khuynh hướng tình cảm đôi khi bùng phát trong chúng ta mà chẳng cần đến sự tham vấn của lý trí, xuất phát từ một sự liều lĩnh ngẫu nhiên mà người ta gọi là sự đồng điệu — thứ mà muông thú cũng hoàn toàn có khả năng sở hữu hệt như chúng ta. Chúng ta thấy những con ngựa kết thân với nhau đến mức nếu bị tách rời, chúng sẽ cực kỳ chật vật mới chịu ăn uống hay di chuyển; chúng ta quan sát thấy chúng ưa thích một màu sắc cụ thể nào đó ở những con cùng loài, và khi gặp đúng màu đó, chúng sẽ lao tới với niềm vui khôn tả cùng những biểu hiện thiện chí, đồng thời tỏ thái độ chán ghét và căm thù một vài màu sắc khác. Muông thú cũng có sự lựa chọn trong chuyện tình ái hệt như chúng ta, tự tay kén chọn những tình nhân của mình; và chúng cũng chẳng hề miễn nhiễm trước thói ghen tuông cùng lòng căm thù bất diệt của chúng ta.

Những ham muốn hoặc là tự nhiên và thiết yếu, như ăn và uống; hoặc là tự nhiên và không thiết yếu, như giao phối với giống cái; hoặc không tự nhiên cũng chẳng thiết yếu — loại thứ ba này bao gồm hầu hết mọi ham muốn của con người, tất cả đều vô cùng thừa thãi và nhân tạo. Bởi vì thật đáng kinh ngạc là tự nhiên chỉ cần rất ít để thỏa mãn, bà để lại cho chúng ta quá ít thứ để khao khát; những món ragout và đồ nhắm cầu kỳ của chúng ta hoàn toàn không phải do bà sắp đặt. Các triết gia phái Khắc kỷ nói rằng một con người có thể sống chỉ với một quả ô-liu mỗi ngày. Sự tinh tế trong những loại rượu vang của chúng ta không phải là một phần bài học của bà, cũng chẳng phải những sự tinh vi mà chúng ta du nhập vào sự thỏa mãn những ham muốn ái tình:

Những ham muốn bất quy tắc này — thứ mà sự ngu dốt về điều thiện và một quan điểm sai lầm đã tiêm nhiễm vào chúng ta — nhiều đến mức chúng gần như loại trừ toàn bộ những ham muốn tự nhiên; hệt như thể có quá nhiều kẻ ngoại bang tràn ngập thành phố đến mức hất cẳng các cư dân bản địa, hoặc nhân danh việc chiếm đoạt các quyền lợi và đặc ân cổ xưa của họ để xóa sổ uy quyền của họ, rồi tự áp đặt những luật lệ cùng phong tục mới của riêng mình. Muông thú có tính quy luật hơn chúng ta rất nhiều, và kiềm chế bản thân với sự điều độ lớn hơn nằm trong các giới hạn mà tự nhiên đã vạch ra; dẫu vậy, không phải lúc nào chúng cũng tuân thủ nghiêm ngặt đến mức không có lúc nào đó xuất hiện sự tương đồng với những thói trác táng của chúng ta. Và cũng giống như việc từng có những ham muốn cuồng loạn thúc đẩy con người yêu đương với muông thú, cũng có những ví dụ về việc muông thú đem lòng yêu thương chúng ta và bị tóm gọn bởi một thứ tình cảm quái đản giữa các loài với nhau; minh chứng là con voi từng là tình địch của nhà ngữ học Aristophanes trong cuộc tranh giành tình cảm với một cô bán rau trẻ tuổi ở thành phố Alexandria — nó chẳng hề kém cạnh bất kỳ kẻ theo đuổi đầy cuồng nhiệt nào trong mọi hành động; bởi vì khi đi qua khu chợ nơi người ta bán trái cây, nó sẽ dùng vòi lấy một ít trái cây đem biếu cô. Nó luôn cố gắng giữ cô trong tầm mắt nhiều nhất có thể, và đôi khi nhét cái vòi của mình vào dưới khăn tay để sờ mó bộ ngực của cô. Người ta cũng kể về một con rồng đem lòng yêu một thiếu nữ, một con ngỗng đắm đuối vì một đứa trẻ, một chú cừu theo đuổi nữ nghệ sĩ Glaucia ở thị trấn Asopus; và chúng ta không hiếm lần nhìn thấy những con khỉ đầu chó điên cuồng vì đàn bà. Chúng ta cũng thấy một số con vật đực đem lòng say đắm những con đực cùng loài. Oppian và những người khác từng ghi lại một số ví dụ về sự tôn kính mà muông thú dành cho huyết thống trong các cuộc giao phối của chúng, thế nhưng kinh nghiệm thực tế thường cho thấy điều ngược lại:

Và đối với sự xảo quyệt tinh vi, liệu có ví dụ nào rõ rệt hơn con la của nhà triết học Thales hay không? Khi phải lội qua một con sông trong lúc đang chở nặng muối, vì vô tình vấp ngã khiến tất cả các bao tải muối đều bị ướt, nó nhận ra rằng trọng lượng trên lưng mình đã nhẹ đi phần nào do muối tan ra. Kể từ đó, mỗi lần đến bất kỳ con sông nào, nó đều nhất quyết nằm lăn ra cùng với đống hàng hóa của mình — cho đến khi chủ nhân phát hiện ra mánh khóe đó và ra lệnh đổi tải trọng của nó thành những khúc gỗ; khi nhận ra mình đã tính toán sai lầm, nó liền chấm dứt trò khôn vặt ấy. Có rất nhiều loài vật thể hiện một cách vô cùng sống động hình ảnh đích thực về thói hà tiện của chúng ta; bởi vì chúng ta thấy chúng vô cùng lo lắng để vơ vét mọi thứ có thể và cất giấu chúng với sự cẩn trọng tột độ, dẫu cho chúng chẳng bao giờ đụng đến để sử dụng vào bất cứ việc gì. Về sự tiết kiệm, chúng không chỉ vượt trội chúng ta ở khả năng tiên lượng, tích trữ và dành dụm cho tương lai, mà hơn thế nữa, chúng còn sở hữu một lượng lớn kiến thức cần thiết cho việc đó. Loài kiến đem lúa mì và hạt giống ra ngoài ánh nắng để phơi phóng, làm mát và làm khô khi chúng nhận thấy chúng bị mốc và ẩm mốc, nhằm ngăn chặn sự hư hỏng và mục nát. Nhưng sự cẩn trọng và phòng ngừa mà chúng sử dụng khi gặm nhấm những hạt lúa mì của mình thì vượt qua mọi sức tưởng tượng của sự khôn ngoan con người; bởi vì lúa mì không phải lúc nào cũng giữ được tình trạng lành lặn và khô ráo, mà đôi khi trở nên mềm nhũn, tan ra và hòa tan hệt như thể được ngâm trong sữa khi đang trên đà nảy mầm — để sợ rằng hạt lúa sẽ mọc mầm và đánh mất bản chất cùng đặc tính của một kho lương thực dự trữ cho sự sống còn của chúng, chúng liền gặm đứt phần đầu mút nơi hạt lúa dùng để nảy mầm và đâm chồi.

Đối với chiến tranh — hành động vĩ đại nhất và tráng lệ nhất của con người —, tôi rất muốn biết liệu chúng ta sẽ sử dụng nó như một bằng chứng cho đặc quyền nào đó hay ngược lại, như một minh chứng cho sự yếu đuối và khiếm khuyết của chính mình; bởi vì thực tế, khoa học tàn phá và tiêu diệt lẫn nhau, khoa học làm sụp đổ và hủy diệt đồng loại của chính mình chẳng có điểm gì hấp dẫn đến mức khiến muông thú — những kẻ không có chiến tranh — phải thèm thuồng.

Tuy nhiên, chúng không phải là hoàn toàn ngoại lệ; minh chứng là những cuộc chạm trán điên cuồng của loài ong và những cuộc hành binh của các vị tướng ở hai chiến tuyến đối lập: —

Tôi chưa từng đọc bản mô tả thiêng liêng này mà không cảm thấy như thể mình đang nhìn thấy sự ngu ngốc và phù phiếm của loài người được tái hiện trong những màu sắc chân thực và sống động nhất. Bởi vì những chuyển động mang tính chiến tranh này — những thứ làm chúng ta say đắm bởi tiếng gầm thét kinh hoàng và nỗi hãi hùng của chúng, thứ tiếng lách cách của súng ống, tiếng trống trận và những tiếng thét gào —,

giữa trận chiến kinh hoàng của hàng ngàn con người vũ trang với đầy sự cuồng nộ, hăng hái và dũng cảm, thật là thú vị khi ngẫm xem chúng bị kích động bởi những lý do ngớ ngẩn nhường nào, và được xoa dịu bởi những thứ nhẹ nhàng ra sao: —

toàn bộ châu Á đã bị tàn phá và hủy diệt chỉ vì lòng ham muốn của Paris; sự đố kỵ của một con người đơn độc, một nỗi hằn học, một niềm khoái lạc, một sự ghen tuông gia đình — những lý do mà đến hai mươi mươi người bán cá cũng chẳng thèm lôi nhau ra cấu xé — lại chính là động lực cho toàn bộ sự náo động vĩ đại này. Phải chăng chúng ta nên tin vào chính những kẻ đó — những kẻ vốn là thủ phạm chính gây ra những thảm họa này? Vậy thì hãy lắng nghe vị hoàng đế vĩ đại nhất, hùng mạnh nhất và khải hoàn nhất từng tồn tại, đang giễu cợt một cách vô cùng vui tươi và tài tình về hàng loạt các trận chiến đã diễn ra cả trên bộ lẫn trên biển, về máu và mạng sống của năm trăm ngàn con người từng đi theo vận mệnh của ông, cùng sức mạnh và sự giàu có của hai phần thế giới đã bị rút cạn cho chi phí của các cuộc viễn chinh:

(Tôi sử dụng tiếng Latinh của mình với sự tự do theo lương tâm mà quý vị sẵn sàng cho phép.) Giờ đây, cỗ máy vĩ đại này, với vô số mặt trận và vô số chuyển động, thứ dường như đe dọa cả thiên đàng lẫn mặt đất: —

con quái vật cuồng nộ với vô số đầu và tay chân này rốt cuộc vẫn chỉ là con người — con người yếu đuối, khốn cùng và thảm hại! Nó chẳng qua chỉ là một cái ổ kiến bị quấy rầy và khiêu khích: —

một luồng gió trái chiều, tiếng quạ kêu của một đàn chim, cú vấp ngã của một con ngựa, sự qua đường tình cờ của một con đại bàng, một giấc mơ, một tiếng động, một dấu hiệu, một màn sương buổi sáng — bất kỳ thứ nào trong số đó cũng đủ để đánh gật và lật nhào hắn. Chỉ cần phóng một tia nắng vào mặt hắn, hắn liền tan chảy và biến mất. Chỉ cần thổi một chút bụi vào mắt hắn, như nhà thơ của chúng ta miêu tả về loài ong, là toàn bộ cờ xí và các quân đoàn của chúng ta, với đại tướng Pompey vĩ đại đứng đầu, đều bị đánh tan tác và nghiền nát thành từng mảnh; bởi vì chính ông ta, theo tôi nhớ, là kẻ từng bị Sertorius đánh bại ở Tây Ban Nha bằng thứ vũ khí sắc bén đó — thứ cũng từng phục vụ Eumenes trong cuộc chiến chống Antigonus, và Surena chống lại Crassus: —

Chỉ cần thả những con ruồi của chúng ta đuổi theo sau họ, chúng cũng sẽ có đủ sức mạnh và lòng dũng cảm để đánh bại họ. Trong ký ức gần đây, người Bồ Đào Nha từng vây hãm thành phố Tamly thuộc lãnh thổ Xiatine, cư dân ở đây đã đem rất nhiều tổ ong — thứ vốn có rất nhiều ở nơi đó — đặt lên thành lũy; và dùng lửa xua đuổi bầy ong bay thẳng vào kẻ thù một cách hung hãn đến mức họ buộc phải từ bỏ cuộc vây hãm vì không thể chịu đựng nổi các đợt tấn công và vết chích của chúng; và cứ thế, nhờ sự cứu trợ mới mẻ này, người dân trong thành đã giành được tự do và chiến thắng với một vận mệnh kỳ diệu đến mức khi những người bảo vệ trở về từ chiến trận, họ phát hiện ra mình không hề mất đi một mạng người nào. Linh hồn của các vị hoàng đế và của những thợ đóng giày đều được đúc từ cùng một khuôn; khi cân nhắc sức nặng và tầm quan trọng trong các hành động của các bậc vương tôn, chúng ta tự thuyết phục mình rằng chúng phải được sản sinh bởi những nguyên nhân cũng nặng nề và quan trọng tương đương; nhưng chúng ta đã lầm; bởi vì họ bị thúc đẩy và kéo lùi trong các chuyển động của mình bởi chính những chiếc lò xo hệt như chúng ta trong những dự án cỏn con của mình. Cùng một lý do khiến chúng ta cãi cọ với một người hàng xóm cũng gây ra chiến tranh giữa các vị vua; cùng một lý do khiến chúng ta quất roi một tên tiểu đồng, khi rơi vào tay một vị vua, lại khiến ông ta tàn phá cả một tỉnh thành. Họ dễ bị động viên như chúng ta, chỉ có điều họ có khả năng làm nhiều hơn thế. Ở một con muỗi và một con voi, sự đam mê hoàn toàn là một.

Về lòng trung thành, không có sinh vật nào trên thế giới này phản trắc hơn con người. Các trang sử của chúng ta đã ghi lại những cuộc truy sát tàn bạo mà loài chó từng thực hiện đối với những kẻ sát hại chủ nhân của chúng. Vua Pyrrhus, khi quan sát một con chó canh giữ thi thể của một người đã chết, và sau khi biết rằng nó đã thực hiện nhiệm vụ đó suốt ba ngày trời, đã ra lệnh đem chôn thi thể và mang con chó theo cùng. Một ngày nọ, khi ông đang tổng duyệt quân đội, con chó này nhìn thấy những kẻ sát hại chủ nhân của mình, liền sủng sộ sủa vang và với những biểu hiện cực kỳ giận dữ lao vào chúng; và qua lời cáo buộc đầu tiên này, nó đã khơi dậy ngọn lửa báo thù cho vụ án mạng — thứ đã nhanh chóng được hoàn tất bằng các thủ tục công lý. Điều tương tự cũng được thực hiện bởi con chó của bậc hiền triết Hesiod, kẻ đã tố cáo những đứa con của Ganictor ở Naupactus vì tội sát hại chủ nhân của nó. Một con chó khác được giao nhiệm vụ canh giữ một ngôi đền ở Athens, sau khi phát hiện ra một tên trộm báng bổ đang tậu lấy những món trang sức đẹp nhất, liền lao vào sủa hết sức mình; nhưng vì lính canh không tỉnh giấc trước tiếng ồn đó, nó liền bám theo hắn, và khi trời rạng sáng, nó giữ khoảng cách vừa phải mà không hề để mất dấu hắn; nếu hắn ném cho nó bất cứ thứ gì để ăn, nó nhất quyết không nhận, nhưng lại vẫy đuôi với tất cả những người qua đường mà nó gặp, đồng thời nhận bất cứ thứ gì họ cho; và nếu tên trộm nằm xuống ngủ, nó cũng đứng yên tại chỗ đó. Khi tin tức về con chó này truyền đến tai lính canh đền, họ lập tức lên đường truy đuổi, hỏi thăm về màu sắc của con chó, và cuối cùng tìm thấy nó ở thành phố Cromyon, cùng với tên trộm, và họ đã điệu cả hai về Athens — nơi tên trộm nhận lấy sự trừng phạt đích đáng, còn các thẩm phán, để ghi nhận nghĩa cử cao đẹp này, đã ra lệnh trích một lượng ngô nhất định làm khẩu phần ăn hằng ngày cho con chó từ ngân sách công, đồng thời giao cho các tư tế chăm sóc nó. Plutarch thuật lại câu chuyện này như một sự thật chắc chắn, và nó đã xảy ra ngay trong thời đại mà ông sống.

Về lòng biết ơn (vì tôi nghĩ chúng ta cần phải khôi phục chút ít uy tín cho từ này), câu chuyện duy nhất được Apion kể lại mà chính ông là nhân chứng sống sẽ là minh chứng đủ đầy.

“Một ngày nọ,” ông kể, “tại Rome, người ta giải trí cho dân chúng bằng màn giao chiến của nhiều loài thú lạ, và chủ yếu là những con sư tử có kích thước bất thường; trong số đó có một con thu hút mọi ánh nhìn của khán giả bởi phong thái dữ tợn, sức mạnh cùng vóc dáng khổng lồ, và tiếng gầm thét đinh tai nhức óc của nó. Giữa những nô lệ bị đem ra đấu trường trong màn giao chiến thú dữ này có một người tên là Androdus, gốc Dacia, thuộc quyền sở hữu của một quý tộc La Mã giữ chức quan chấp chính. Con sư tử này sau khi nhìn thấy anh từ xa liền bất ngờ dừng phắt lại, hệt như đang bối rối ngạc nhiên, rồi từ từ tiến lại gần hơn một cách nhẹ nhàng và ôn hòa, như thể muốn làm quen với anh. Sau khi làm điều đó, và khi đã chắc chắn về thứ mình đang tìm kiếm, nó bắt đầu vẫy đuôi hệt như cách những chú chó nịnh bợ chủ nhân, rồi hôn háp, liếm láp đôi bàn tay cùng đùi của kẻ khốn khổ đang hoàn toàn mất hồn và suýt chết vì sợ hãi. Androdus nhờ lòng tốt đó của con sư tử mà dần trấn tĩnh lại, lấy hết can đảm để nhìn ngắm và nhận ra nó; đó thực sự là một niềm vui vô bờ bến khi chứng kiến cảnh tượng mừng rỡ và ve vãn diễn ra giữa bọn họ. Trước cảnh tượng đó, đám đông bùng nổ trong những tiếng hô vang dội đầy hoan hỉ, nhà vua liền cho gọi người nô lệ đến để gặng hỏi nguyên nhân của một sự việc kỳ lạ nhường ấy. Androdus bèn kể cho ngài nghe một câu chuyện hoàn toàn mới mẻ và vô cùng kỳ lạ: ‘Khi chủ nhân của tôi làm tổng đốc tại châu Phi, tôi vì không chịu nổi sự khắc nghiệt và đối xử tàn bạo của ngài, ngày nào cũng bị roi vọt, nên đã buộc phải trộm đồ rồi bỏ trốn; và để trốn tránh một nhân vật có thế lực lớn như vậy trong tỉnh, tôi nghĩ cách tốt nhất là trốn vào những vùng hoang mạc, cát sỏi và những nơi không có sự sống của vùng đất đó, với quyết tâm rằng nếu nguồn lương thực cạn kiệt, tôi sẽ tìm cách tự kết liễu đời mình. Khi mặt trời đứng bóng thiêu đốt và cái nóng trở nên không thể chịu nổi, tôi tình cờ phát hiện ra một cái hang kín đáo và gần như không thể tiếp cận, liền bước vào đó. Chẳng bao lâu sau, con sư tử này bước vào cùng với một bàn chân bị thương và đẫm máu, vừa rên rỉ vừa cất tiếng kêu đau đớn vì vết thương. Khi nó bước vào, tôi vô cùng sợ hãi; nhưng khi nó phát hiện ra tôi đang ẩn nấp trong góc hang, nó liền nhẹ nhàng tiến về phía tôi, giơ ra và cho tôi xem bàn chân bị thương của mình, hệt như đang cầu cứu sự giúp đỡ trong cơn hoạn nạn. Tôi bèn rút ra một chiếc dằm lớn găm trong đó, và khi đã trở nên quen thuộc hơn với nó, tôi bóp mạnh vết thương để đẩy mủ, bụi bẩn và sỏi đá kẹt bên trong ra ngoài, rồi lau chùi, sát trùng cẩn thận nhất có thể. Nó, sau khi cảm thấy khá hơn và dịu bớt cơn đau, liền nằm xuống nghỉ ngơi, và chìm vào giấc ngủ ngay lập tức với bàn chân nằm trong tay tôi. Kể từ thời điểm đó, tôi và nó đã sống chung trong cái hang này suốt ba năm ròng rã trên cùng một khẩu phần ăn; bởi vì những con thú mà nó săn được, nó luôn mang về cho tôi những phần ngon nhất, và tôi đem phơi nắng để ăn vì thiếu lửa. Cuối cùng, cảm thấy chán ngấy cuộc sống hoang dã và thú vật này, vào một ngày nọ khi con sư tử đi săn thức ăn hằng ngày, tôi đã rời đi, và đến ngày thứ ba thì bị binh lính bắt giữ, rồi được đưa từ châu Phi về thành phố này để giao lại cho chủ nhân của tôi — kẻ đã lập tức kết án tử hình tôi và đem ném cho thú dữ. Giờ đây, qua những gì tôi thấy, con sư tử này có lẽ cũng bị bắt không lâu sau đó, và giờ nó đang tìm cách đền đáp lại ơn nghĩa cùng sự chữa lành mà nó từng nhận được từ đôi bàn tay tôi.’ Đó là câu chuyện mà Androdus đã kể cho nhà vua nghe, và ngài cũng truyền miệng nó qua lại cho dân chúng; chính vì thế, theo thỉnh nguyện chung, anh ta đã được tha bổng và trả lại tự do, còn con sư tử thì được ra lệnh trao tặng cho anh. ‘Chúng tôi sau đó đã chứng kiến,’ Apion kể tiếp, ‘Androdus dắt con sư tử này đi dạo chỉ bằng một sợi dây xích nhỏ, đi từ quán rượu này sang quán rượu khác ở Rome và nhận tiền thưởng từ bất kỳ ai muốn cho; con sư tử hiền lành đến mức để mặc cho người ta phủ đầy hoa lên mình — thứ mà đám đông ném vào nó —, và bất cứ ai gặp nó đều thốt lên: “Kìa con sư tử đã đối đãi với con người; kìa con người đã chữa lành cho con sư tử.””

Chúng ta thường đau buồn trước sự ra đi của những con vật mình yêu mến, và chúng cũng đau buồn trước sự ra đi của chúng ta: —

Giống như việc một số quốc gia có chung vợ, còn một số khác thì mỗi người một vợ, điều tương tự há chẳng xảy ra ở muông thú và các cuộc hôn nhân của chúng được gìn giữ tốt hơn chúng ta sao? Về xã hội và liên minh mà chúng tạo ra để kết bè kết phái và tương trợ lẫn nhau, há người ta không biết rằng bò, lợn và các loài động vật khác, khi nghe tiếng kêu cứu của bất kỳ đồng loại nào bị chúng ta tấn công, toàn bộ bầy đàn sẽ lập tức lao đến trợ giúp và hợp sức bảo vệ hay sao? Con cá Scarus, khi nuốt phải lưỡi câu của người câu, sẽ được đồng loại vây kín xung quanh và cắn đứt lìa sợi dây; và nếu chẳng may có con nào lọt vào cái lọng, những con khác sẽ đưa phần đuôi của chúng ra từ bên ngoài để nó ngậm chặt bằng răng, và cứ thế chúng kéo và gỡ nó ra ngoài.

Loài cá đối, khi có một thành viên bị vướng bẫy, sẽ luồn sợi dây qua lưng của nó, rồi dùng chiếc vây lưng có khía hình răng cưa để cưa đứt đôi sợi dây đó. Về những dịch vụ cụ thể mà chúng nhận được từ nhau cho mục đích sinh tồn, có rất nhiều ví dụ tương tự trong thế giới loài vật. Người ta kể rằng cá voi không bao giờ di chuyển mà trước mặt nó lại không có một con cá nhỏ trông giống như cá bống biển — vì lý do này nên nó được gọi là cá dẫn đường —, con cá voi đi theo con cá nhỏ này, cho phép nó dẫn dắt và điều hướng bản thân dễ dàng hệt như cách bánh lái điều khiển con tàu; đổi lại cho dịch vụ đó, trong khi tất cả mọi thứ khác, dù là thú vật hay tàu bè rơi vào cái miệng vực thẳm của con quái vật này đều bị nuốt chửng ngay lập tức, thì con cá nhỏ này lại rút lui vào đó một cách vô cùng an toàn và ngủ thiếp đi bên trong, trong suốt thời gian đó con cá voi hoàn toàn nằm im bất động; nhưng ngay khi con cá nhỏ vừa bơi ra, nó liền bơi theo sát nút; và nếu chẳng may mất dấu người dẫn đường nhỏ bé của mình, nó sẽ bơi lang thang khắp nơi và va đập mạn sườn vào các mỏm đá hệt như một con tàu mất lái — điều mà Plutarch khẳng định là ông từng tận mắt chứng kiến tại đảo Anticyra. Có một mối liên kết xã hội tương tự giữa loài chim nhỏ mang tên chim rí và cá sấu. Chim rí đóng vai trò là lính gác cho con vật vĩ đại này; và nếu con ichneumon — kẻ thù truyền kiếp của nó — đến gần để giao chiến với nó, chú chim nhỏ này, vì sợ con cá sấu bị tấn công lúc đang ngủ, sẽ dùng cả giọng hót lẫn cái mỏ của mình để đánh thức và báo động hiểm nguy cho nó. Nó ăn những thức ăn thừa của con quái vật này, và con cá sấu cũng hoan hỉ đón nhận nó vào trong miệng, cho phép nó mổ xẻ trong hàm và giữa các kẽ răng để nhặt nhét những mảnh thịt còn sót lại; và khi muốn ngậm miệng lại, nó sẽ ra hiệu trước cho con chim bay ra bằng cách khép miệng lại từ từ, mà hoàn toàn không làm tổn thương hay bầm dập chú chim dù chỉ một chút. Loài sò mang tên naker sống trong cùng một mối quan hệ hiểu biết với tôm — một loài sinh vật nhỏ thuộc họ tôm hùm, đóng vai trò như một người gác cổng, ngồi ngay cửa vỏ sò mà naker luôn mở toác cho đến khi tôm nhìn thấy một con mồi nhỏ thích hợp lọt vào trong khoang vỏ, nó cũng bò vào trong và kẹp naker đau điếng đến mức con sò buộc phải khép vỏ lại, và thế là cả hai cùng nhau nuốt chửng con mồi bị sập bẫy trong pháo đài của chúng. Trong lối sống của loài cá ngừ, chúng ta quan sát thấy một sự am hiểu kỳ lạ về ba phân ngành toán học. Về chiêm tinh học, chúng dạy cho con người, bởi vì chúng đứng yên tại nơi chúng bị bất ngờ bởi điểm chí mùa đông và chẳng bao giờ nhúc nhích cho đến kỳ phân tiếp theo; chính vì lý do này mà ngay cả Aristotle cũng gán khoa học này cho chúng. Về hình học và số học, chúng luôn tạo ra đội hình theo hình khối lập phương, vuông vức ở mọi chiều, tạo thành một khối quân đoàn đặc quánh, khép kín và được bao bọc xung quanh bởi sáu mặt bằng nhau, và bơi lội theo trật tự hình vuông này, bề dày đằng sau cũng bằng bề dày đằng trước; sao cho bất cứ ai nhìn thấy chúng đều có thể đếm được một hàng và dễ dàng tính ra toàn bộ bầy đàn, bởi vì chiều sâu bằng chiều rộng, và chiều rộng bằng chiều dài.

Đối với sự cao thượng, sẽ rất khó để trưng ra một minh chứng nào tốt hơn ví dụ về con chó lớn được gửi tặng cho Alexander Đại đế từ Ấn Độ. Người ta lần lượt dắt ra một con hươu đực để nó đối đầu, tiếp đến là một con lợn rừng, rồi đến một con gấu — tất cả đều bị nó khinh miệt và chẳng thèm nhúc nhích khỏi chỗ đứng; nhưng khi nhìn thấy một con sư tử, nó lập tức vùng dậy, phơi bày rõ ràng rằng nó tuyên bố chỉ có kẻ đó mới xứng đáng bước vào võ đài đọ sức với mình. Về sự ăn năn và việc thừa nhận sai lầm, người ta kể về một con voi vì quá giận dữ nên đã vô tình giết chết người quản tượng của mình, nó liền rơi vào nỗi đau khổ tột cùng đến mức kiên quyết từ chối ăn uống và tự sát bằng cách tuyệt thực cho đến chết. Và đối với lòng khoan dung, người ta kể về một con hổ — loài ác thú tàn bạo nhất —, khi có một con dê con được thả vào chuồng của nó, nó đã chịu nhịn đói suốt hai ngày trời thay vì làm tổn thương con dê, và sang ngày thứ ba thì tự phá tung thanh chắn chuồng để ra ngoài tìm mồi nơi khác, bởi nó quá mức không muốn tấn công con dê con — kẻ vốn là bạn đường và khách quý của nó. Còn đối với các quy luật về sự quen thuộc và hòa hợp được tạo lập qua giao tiếp, người ta thường thấy mèo, chó và thỏ được nuôi dưỡng quây quần và thuần hóa chung với nhau.

Nhưng điều mà các thủy thủ biết được qua kinh nghiệm thực tế, đặc biệt là ở vùng biển Sicily, về đặc tính của loài chim bói cá, đã vượt qua mọi tư duy của con người về việc liệu có loài vật nào được tự nhiên vinh danh nhiều đến thế qua sự ra đời của chúng hay không? Các nhà thơ thực sự từng nói rằng chỉ có duy nhất một hòn đảo — đảo Delos — vốn trước đây là một hòn đảo nổi, đã được cố định lại để phục vụ cho ca sinh nở của Latona; nhưng Thiên Chúa đã an sắp để toàn bộ đại dương phải ngừng trôi, trở nên ổn định và phẳng lặng, không có sóng gió, không có bão tố hay mưa giông trong suốt khoảng thời gian loài bói cá sinh con, vốn diễn ra ngay vào khoảng thời gian chí tuyến, ngày ngắn nhất trong năm; nhờ đặc ân đó của chúng mà chúng ta có được bảy ngày bảy đêm ngay giữa lòng mùa đông để có thể giương buồm ra khơi mà không hề gặp nguy hiểm. Những con chim mái không bao giờ giao phối với bất kỳ con đực nào khác ngoài bạn đời của chúng, kẻ mà chúng phụng sự và giúp đỡ suốt cuộc đời mà chẳng bao giờ rời bỏ. Nếu con đực trở nên yếu ớt và cằn cỗi vì tuổi già, chúng sẽ vác nó lên vai và cõng đi từ nơi này sang nơi khác, phụng sự nó cho đến tận lúc chết. Nhưng những kẻ tò mò nhất về các bí mật của tự nhiên cho đến nay vẫn chưa thể nào thấu hiểu nổi cấu trúc kỳ diệu mà loài bói cá dùng để xây tổ cho những đứa con của mình, cũng như không tài nào đoán nổi nguyên liệu của nó. Plutarch, người từng tận mắt nhìn thấy và cầm nắm rất nhiều chiếc tổ như vậy, cho rằng nó được làm từ xương của một loài cá nào đó được chúng kết nối và đan xen lại với nhau — phần dọc phần ngang, rồi thêm vào những chiếc xương sườn và vành đai theo cách thức để cuối cùng tạo thành một chiếc bình tròn đủ sức thả nổi trên mặt nước; sau khi hoàn thành xong cấu trúc, chúng mang nó ra bãi biển, nơi sóng biển vỗ nhẹ vào đó để cho thấy chỗ nào cần phải sửa chữa những đoạn khớp nối chưa khít và gia cố những đường nối còn rò rỉ, những chỗ bị bung ra do sóng vỗ; và ngược lại, những chỗ nào được xây dựng tốt và đã hoàn thiện đúng mức, các đợt sóng vỗ sẽ nén chặt và bó sát lại đến mức không thể bị phá vỡ hay nứt nẻ dù bị tác động bởi đá hay sắt nếu không tốn rất nhiều công sức. Và điều đáng ngưỡng mộ hơn nữa chính là tỷ lệ và hình hài của khoảng không gian bên trong, được cấu thành và định hình theo cách thức không cho phép tiếp nhận hay dung chứa bất kỳ thứ gì khác ngoài chính loài chim đã xây dựng nên nó; bởi vì đối với bất kỳ thứ gì khác, nó kín bưng, chặt chẽ và khép kín đến mức chẳng có thứ gì có thể lọt vào, thậm chí ngay cả nước biển. Đó là một bản mô tả vô cùng đáng giá về công trình này, được mượn từ một nguồn tuyệt vời; thế nhưng dường như nó vẫn chưa đem lại cho chúng ta đủ ánh sáng để thấu thấu hiểu độ khó của kiến trúc này. Giờ đây, từ sự phù phiếm nào mà con người lại có thể khinh miệt, nhìn xuống và diễn dịch một cách trinh miệt những hiệu ứng mà chúng ta không thể bắt chước cũng như không tài nào thấu hiểu nổi cơ chứ?

Để tiếp tục đi sâu hơn một chút vào sự bình đẳng và mối tương quan giữa chúng ta với muông thú, đặc quyền mà linh hồn chúng ta tự hào biết bao — khả năng tự quy định luật lệ riêng cho các khái niệm, khả năng tước bỏ khỏi mọi sự vật tiến vào tâm trí nó những phẩm chất phàm trần và thể xác, tự sắp xếp và định vị những thứ nó cho là đáng chú ý, lột bỏ và tước đoạt ở chúng các tính chất dễ hư nát để bắt chúng phải trút bỏ chiều dài, chiều rộng, chiều sâu, trọng lượng, màu sắc, mùi vị, độ nhám, độ mịn, độ cứng, độ mềm và mọi tai biến cảm tính như những bộ y phục tầm thường và thừa thãi, nhằm điều chỉnh chúng cho phù hợp với điều kiện bất tử và tâm linh của chính mình; lấy ví dụ như thành phố Rome và Paris mà tôi có trong tâm trí, một Paris mà tôi tưởng tượng ra, tôi có thể mường tượng và thấu hiểu nó mà không cần đến kích thước khổng lồ hay không gian địa lý, không cần đá, không cần vữa và không cần gỗ —, chính đặc quyền này, tôi xin khẳng định, dường như cũng hiển hiện một cách rõ ràng ở muông thú: đối với một con chiến mã quen thuộc với tiếng kèn trống, tiếng súng hỏa mai và các trận chiến, mà ta thấy nó giật bắn mình và run rẩy ngay trong giấc ngủ, duỗi thẳng cẳng trên đệm rơm hệt như đang tham chiến; gần như chắc chắn rằng trong linh hồn nó đang mường tượng ra tiếng trống trận không tiếng ồn, và một đạo quân không vũ khí, không thân xác: —

con thỏ mà một con chó săn mường tượng ra trong giấc ngủ — con mồi khiến nó hổn hển thở dốc khi ngủ, duỗi thẳng đuôi, run rẩy các chân, và tái hiện một cách hoàn hảo mọi chuyển động của một cuộc rượt đuổi —, đó là một con thỏ không có lông và không có xương: —

những chú chó canh gác mà chúng ta thường quan sát thấy đang gừ gừ trong giấc mơ, rồi sau đó sủa vang và chồm dậy hệt như chúng đang nhận thấy một kẻ lạ mặt đang đến gần; kẻ lạ mặt mà linh hồn chúng phân định được chính là một con người mang tính tâm linh và vô hình, không có chiều kích, không có màu sắc và không có hình hài: —

trước vẻ đẹp của thể xác, trước khi tiến xa hơn, tôi cần phải biết liệu chúng ta đã đạt được sự đồng thuận về định nghĩa của nó hay chưa. Rất có thể chúng ta không hề biết rõ vẻ đẹp trong tự nhiên và tổng thể là gì, bởi vì đối với vẻ đẹp mang tính con người của chính mình, chúng ta lại gán cho nó quá nhiều hình thái khác nhau — trong khi nếu có một quy luật và quy chuẩn tự nhiên nào đó, chúng ta hẳn đã phải nhận thức được nó một cách chung nhất, hệt như cái nóng của ngọn lửa. Nhưng chúng ta mường tượng ra các hình thái tùy theo sự thèm muốn và sở thích của chính mình: —

Người Ấn Độ vẽ nên vẻ đẹp bằng màu đen và ngăm đen, với đôi môi dày sưng phồng, mũi tẹt rộng và cái sống mũi giữa hai lỗ mũi bị treo những vòng vàng nặng trĩu để làm cho nó kéo sà xuống tận miệng; cũng như đôi môi dưới đeo những chiếc vòng lớn được khảm đá quý, kéo thõng chúng xuống tận cằm, bởi đối với họ, việc khoe ra hàm răng ngay cả bên dưới phần chân răng là một nét duyên dáng độc đáo. Ở Peru, những đôi tai to nhất mới là đẹp nhất, và họ dùng nghệ thuật để kéo chúng dài ra hết mức có thể. Và một người đang sống hiện nay kể rằng ông từng chứng kiến ở một quốc gia phương Đông việc chuộng mốt kéo tai này lớn đến mức đôi tai được chất đầy những món trang sức nặng nề, đến độ ông có thể dễ dàng đút cả cánh tay, nguyên cả ống tay áo qua cái lỗ của một chiếc tai đó. Ở những nơi khác có những quốc gia rất chăm chút việc bôi đen răng, và ghét phải nhìn thấy răng trắng, trong khi những kẻ khác lại sơn đỏ chúng. Phụ nữ được xem là đẹp hơn, không chỉ ở Biscay mà còn ở nhiều nơi khác, nhờ việc cạo trọc đầu; và thậm chí còn hơn thế nữa, ở một số vùng đất băng giá, như Pliny đã tường thuật. Người Mexico coi một chiếc trán thấp là một vẻ đẹp lớn lao, và mặc dù cạo trọc tất cả các phần khác, họ lại nuôi tóc trên trán rồi dùng nghệ thuật để làm cho nó rộng ra, đồng thời đánh giá rất cao bộ ngực đầy đặn đến mức họ thích cho con bú vắt qua vai. Chúng ta hẳn sẽ miêu tả sự dị dạng theo cách đó. Người Ý chuộng nét vạm vỡ, khối lượng đồ sộ; người Tây Ban Nha chuộng nét gầy gò, thanh mảnh; và trong chúng ta, người thì thích da trắng, kẻ thích da nâu; người ưa sự mềm mại, mỏng manh, kẻ thích sự mạnh mẽ, vượng khí; người muốn tình nhân của mình phải dịu dàng, ôn hòa, kẻ khác lại chuộng nét kiêu kỳ, uy nghiêm. Hệt như ưu thế về vẻ đẹp mà Plato gán cho hình cầu, người phái Epicurus lại nghiêng về hình chóp hoặc hình vuông, và không tài nào nuốt trôi nổi một vị thần có hình thù giống như một cái bát. Nhưng dù thế nào đi nữa, tự nhiên không hề đặc cách cho chúng ta thoát khỏi các quy luật chung của bà trong chuyện này nhiều hơn những thứ khác. Và nếu chúng ta tự đánh giá bản thân một cách đúng đắn, chúng ta sẽ thấy rằng nếu có một số loài động vật ít được ưu ái hơn chúng ta về điểm này, thì có những loài khác, với số lượng lớn hơn, lại được ưu ái hơn nhiều: a multis animalibus decore vincimur — “Chúng ta bị vượt qua về mặt nhan sắc bởi nhiều loài động vật,” ngay cả trong số những loài trên cạn là đồng bào của chúng ta; bởi vì đối với các loài dưới biển, gạt bỏ đi hình thù vốn không thể rơi vào bất kỳ tỷ lệ nào — vì chúng là một thứ quá khác biệt về màu sắc, độ sáng, độ nhẵn và cách bố trí —, chúng ta đã hoàn toàn lép vế trước chúng; và không kém phần lép vế, trong mọi phẩm chất, trước các loài trên không. Và cái đặc quyền mà các nhà thơ làm ầm ĩ lên bấy lâu nay — dáng đứng thẳng của chúng ta, hướng cái nhìn về phía bầu trời là cội nguồn của mình —, thực sự chỉ mang tính chất thơ ca; bởi vì có rất nhiều chú thú nhỏ có thị lực hoàn toàn hướng ngược lên thiên đàng; và tôi thấy cử động của loài lạc đà và đà điểu còn ngẩng cao hơn và thẳng đứng hơn chúng ta nhiều. Có loài vật nào mà khuôn mặt không nằm ở phía trên mà lại ở đằng trước, và không nhìn đối diện hệt như chúng ta; và trong tư thế tự nhiên của chúng không phơi bày bầu trời lẫn mặt đất nhiều như con người cơ chứ? Và phẩm chất nào trong cấu trúc thể xác của chúng ta, theo Plato và Cicero, lại không thể dùng chung cho hàng ngàn loài động vật khác một cách vô tư? Những loài giống chúng ta nhất lại là những kẻ đáng khinh miệt nhất và dị dạng nhất trong toàn bộ đàn: bởi vì những kẻ đó, xét về diện mạo bề ngoài và hình thái khuôn mặt, chính là loài khỉ đầu chó: —

còn xét về nội tạng và các bộ phận duy trì sự sống, đó chính là loài lợn. Thực sự, khi tôi ngẫm nghĩ về con người trong trạng thái trần truồng hoàn toàn, ngay cả ở giới tính có vẻ chiếm phần lớn nhất về vẻ đẹp đi nữa, với tất cả những khiếm khuyết, sự lệ thuộc tự nhiên và sự bất toàn của hắn, tôi nhận thấy rằng chúng ta có nhiều lý do hơn bất kỳ loài động vật nào khác để che đậy bản thân; và hoàn toàn có thể được tha thứ khi đi mượn những thứ từ những kẻ mà tự nhiên tỏ ra ưu ái hơn chúng ta để tự trang hoàng cho mình, để ẩn nấp dưới những chiến lợi phẩm của chúng — lớp lông cừu, lông vũ, lông mao và tơ lụa của chúng. Hãy quan sát thêm điều này: con người là loài động vật duy nhất có những phần khỏa thân làm cho chính đồng loại của mình cảm thấy chướng mắt, và là kẻ duy nhất trong các hành động tự nhiên lại tự lẩn trốn và che giấu bản thân khỏi những kẻ cùng loài. Và quả thực đó cũng là một hiệu ứng đáng để suy ngẫm, khi mà những bậc thầy trong nghề này đều kê đơn, như một phương thuốc chữa trị các cơn say đắm ái tình, việc chiêm ngưỡng một cách trọn vẹn và tự do toàn bộ cơ thể của đối tượng mà người ta khao khát; bởi vì để làm nguội bớt ngọn lửa cuồng nhiệt đó, chẳng cần gì hơn ngoài việc được nhìn ngắm một cách tự do và trọn vẹn những gì mình yêu mến: —

Và dẫu cho đơn thuốc này có lẽ xuất phát từ một tâm trạng cầu kỳ và lạnh lùng, thì nó vẫn là một minh chứng vô cùng to lớn cho những sự khiếm khuyết của chúng ta khi sự quen thuộc và giao thiệp lại có thể làm cho chúng ta cảm thấy ghê tởm lẫn nhau. Không phải sự khiêm nhường, mà chính sự mưu mô và cẩn trọng mới là thứ làm cho các quý bà của chúng ta trở nên dè dặt đến mức từ chối không cho chúng ta bước vào phòng riêng của họ trước khi họ được trang điểm và tút tát cho màn trình diễn công khai: —

trong khi đó, ở các loài động vật, chẳng có bất kỳ thứ gì là không làm chúng ta yêu mến và không làm hài lòng các giác quan của mình; đến mức ngay cả từ phân thải của chúng, chúng ta không chỉ chiết xuất ra những thứ để làm gia vị tăng hương vị cho các món sốt, mà còn dùng làm những món trang sức và nước hoa đắt giá nhất của mình. Bài diễn thuyết này chỉ phản ánh lên tầng lớp phụ nữ bình thường, và hoàn toàn không mang tính báng bổ đến mức bao gồm cả những vẻ đẹp thiêng liêng, siêu nhiên và phi thường — những thứ mà chúng ta thỉnh thoảng thấy tỏa sáng giữa chúng ta hệt như những vì sao ẩn mình dưới một lớp màn phàm trần và thể xác.

Về phần còn lại, ngay cả phần chia sẻ mà chúng ta nhường cho muông thú từ sự hào phóng của tự nhiên, theo chính sự thú nhận của chúng ta, cũng đem lại lợi ích quá lớn cho họ. Chúng ta tự gán cho mình những điều tốt đẹp mang tính tưởng tượng và hão huyền, những điều tốt đẹp của tương lai và sự vắng mặt — những thứ mà năng lực con người tự thân không tài nào gánh vác nổi; hoặc những điều tốt đẹp mà chúng ta tự gán cho mình một cách sai lầm qua sự dung dưỡng của quan điểm, chẳng hạn như lý trí, tri thức và danh vọng — rồi để lại cho chúng phần chia là những điều tốt đẹp mang tính bản chất, bền vững và hữu hình, như sự bình yên, sự thảnh thơi, sự an toàn, sự vô tội và sức khỏe; sức khỏe, tôi xin nhắc lại, là món quà tuyệt vời nhất và giàu có nhất mà tự nhiên có thể ban tặng cho chúng ta. Đến mức ngay cả triết học, thậm chí cả phái Khắc kỷ, cũng dám lớn tiếng tuyên bố rằng: “Nếu Heraclitus và Pherecides có thể đánh đổi sự khôn ngoan của họ lấy sức khỏe, để tự giải thoát khỏi căn bệnh phù thủng của người này và căn bệnh ghẻ lở hành hạ người kia, thì họ đã làm một việc vô cùng đúng đắn.” Qua đó, họ đánh giá sự khôn ngoan cao hơn, khi đặt nó lên bàn cân so sánh với sức khỏe, so với một mệnh đề khác cũng thuộc về họ: họ nói rằng nếu Circe ban cho Ulysses hai loại bổng lộc — một loại biến kẻ ngu thành người khôn, và loại kia biến người khôn thành kẻ ngu —, Ulysses thà chọn loại thứ hai còn hơn là đồng ý để Circe biến đổi hình hài con người của ông thành hình thù của một con thú; và họ nói rằng chính sự khôn ngoan cũng sẽ cất lời với ông theo cách thế này: “Hãy ruồng bỏ tôi, hãy để mặc tôi đi, còn hơn là giam cầm tôi bên trong thể xác và hình thù của một con lừa.” Cái gì! Phải chăng các triết gia khi ấy sẽ từ bỏ sự khôn ngoan lớn lao và thiêng liêng này để đổi lấy lớp áo bọc phàm trần và trần thế ấy? Vậy thì không phải bằng lý trí, bằng diễn ngôn và bằng linh hồn mà chúng ta vượt trội hơn muông thú; mà là bằng vẻ đẹp của chúng ta, sắc diện sáng lủa và sự đối xứng tuyệt đẹp của các bộ phận — thứ mà vì nó chúng ta phải từ bỏ trí tuệ, sự khôn ngoan và tất cả những thứ còn lại. Vâng, tôi chấp nhận lời thú nhận công khai và tự do này; chắc chắn họ thừa biết rằng những bộ phận mà chúng ta tự hào biết bao ấy chẳng qua chỉ là một thứ phù phiếm hão huyền. Nếu muông thú khi ấy sở hữu tất cả các đức hạnh, tri thức, sự khôn ngoan và sự hoàn hảo theo kiểu Khắc kỷ, chúng vẫn sẽ mãi là thú vật, và không thể sánh ngang với con người — kẻ khốn nạn, độc ác và điên rồ. Bởi vì tóm lại, bất cứ thứ gì không giống như chúng ta đều chẳng có giá trị gì cả; và Thiên Chúa, để kiếm lấy sự tôn sung trong chúng ta, cũng phải tự hóa thân vào hình hài đó, như chúng ta sẽ chứng minh ngay sau đây. Qua đó cho thấy không phải dựa trên bất kỳ cơ sở lý trí chân chính nào, mà chính vì sự kiêu ngạo ngu ngốc và quan điểm hão huyền, chúng ta mới tự tôn vinh mình vượt lên trên các loài động vật khác và tự tách rời mình ra khỏi xã hội cũng như điều kiện sống của chúng.

Nhưng để quay trở lại với những gì tôi đang bàn trước đó: phần chia của chúng ta bao gồm sự bất định, sự thiếu quyết đoán, sự bấp bênh, nỗi buồn, sự mê tín dị đoan, nỗi lo âu về tương lai ngay cả sau khi chúng ta không còn tồn tại, tham vọng, hà tiện, ghen tuông, đố kỵ, những ham muốn bất quy tắc, điên cuồng và bất kham, chiến tranh, sự dối trá, thói bất trung, bôi nhọ và sự tò mò. Chắc chắn là chúng ta đã trả giá quá đắt cho thứ lý trí tuyệt diệu này — thứ mà chúng ta tự hào biết bao —, và năng lực phán đoán lẫn thấu hiểu này, nếu chúng ta phải đánh đổi nó bằng vô số những niềm đam mê mà chúng ta bị trói buộc đời đời kiếp kiếp. Trừ phi chúng ta cũng thấy thích hợp — hệt như Socrates từng làm — để thêm vào đối trọng đó cái đặc quyền đáng chú ý vượt trội hơn muông thú: “Rằng trong khi tự nhiên quy định cho chúng những mùa vụ và giới hạn nhất định cho những niềm vui của Venus, thì bà lại buông lỏng dây cương cho chúng ta ở mọi giờ và mọi mùa.” Ut visum ægrotis, quia prodest rarò, nocet sæpissime, melius est non adhibere omnino, quam, spe dubio salutis, in apertam perniciem incurrere; sic, haud scio an melius fuerit humano generi motum istum celerem cogitationis, acumen, solertiam, quam rationem vocamus, quoniam pestifera sint multis, admodum paucis salubria, non dari omnino, quam tam munifice et tam large dari? “Giống như việc rượu thường làm hại người bệnh và rất hiếm khi mang lại điều tốt lành, tốt hơn là không nên cho họ uống chút nào còn hơn là lao vào hiểm họa hiển nhiên với hy vọng mong manh về một sự phục hồi không chắc chắn; tôi không biết liệu có phải sẽ tốt hơn cho nhân loại nếu chuyển động nhanh nhạy này, sự sắc bén, sự tinh tế mà chúng ta gọi là lý trí — vốn gây độc hại cho số đông và chỉ hữu ích cho một nhúm nhỏ người — không được ban tặng cho con người chút nào cả, còn hơn là được trao ban một cách quá ư hào phóng và rộng lượng đến thế?” Sự hiểu biết về ngần ấy thứ đem lại lợi ích gì cho Varro và Aristotle? Liệu nó có miễn dịch họ khỏi những bất tiện của kiếp nhân sinh không? Liệu nhờ nó mà họ được giải thoát khỏi những tai họa đè nặng lên vai một kẻ khuân vác không? Liệu họ có chắt lọc được từ logic học của mình chút niềm an ủi nào cho căn bệnh gút? Hay nhờ biết được cách thức chất dịch ấy ẩn náu trong các khớp xương mà họ cảm thấy đỡ đau hơn chăng? Liệu họ có đạt được sự thỏa hiệp nào với cái chết khi biết rằng một số quốc gia vui mừng trước sự tiếp cận của nó; hay với thói ngoại tình khi biết rằng ở một số nơi trên thế giới vợ chồng được dùng chung? Ngược lại, dù được tiếng là những nhân vật uyên bác nhất — người thì trong số những người La Mã, kẻ thì trong số người Hy Lạp, và vào thời đại mà học thức nở rộ nhất — chúng ta vẫn chưa từng nghe nói rằng họ có bất kỳ sự xuất sắc đặc biệt nào trong cuộc sống của mình; thậm chí, nhà hiền triết Hy Lạp còn phải chật vật lắm mới tẩy sạch được một số vết nhơ đáng chú ý trên người ông. Phải chăng chúng ta quan sát thấy khoái lạc và sức khỏe có hương vị tuyệt vời hơn ở kẻ am hiểu chiêm tinh và ngữ pháp so với những người khác?

Hay sự xấu hổ và nghèo đói ít phiền toái hơn đối với người thứ nhất so với người thứ hai?

Tôi từng biết trong thời đại của mình hàng trăm nghệ nhân, hàng trăm người lao động, khôn ngoan và hạnh phúc hơn cả các viện trưởng đại học, và tôi thà được giống như họ còn hơn. Học thức, theo tôi nghĩ, có chỗ đứng của nó trong số những thứ thiết yếu của đời sống — giống như danh vọng, sự quý tộc, phẩm giá, hoặc cùng lắm là vẻ đẹp, sự giàu có và những phẩm chất tương tự — những thứ thực ra rất hữu ích cho nó, nhưng một cách xa xôi, và mang tính quan điểm nhiều hơn là bản chất. Chúng ta chẳng cần thêm mấy những chức vụ, quy tắc và luật lệ sống trong xã hội của mình so với loài sếu và kiến trong xã hội của chúng; thế mà chúng ta vẫn thấy chúng tự hành xử vô cùng quy củ mà chẳng cần đến bất kỳ sự uyên bác nào. Nếu con người khôn ngoan, hắn sẽ nắm bắt giá trị thực sự của mọi sự vật tùy theo mức độ hữu ích và thích hợp của nó cho cuộc sống của mình. Bất cứ ai muốn đếm chúng ta qua các hành động và phong thái sẽ tìm thấy nhiều người xuất sắc hơn trong số những kẻ vô học so với những người uyên bác; ừ thì, trong mọi loại đức hạnh. Rome cổ đại đối với tôi có giá trị lớn hơn nhiều, cả trong thời bình lẫn thời chiến, so với thành Rome uyên bác từng tự hủy diệt chính mình. Và, dẫu cho tất cả những thứ khác có tương đương đi chăng nữa, thì sự chính trực và ngây thơ vẫn sẽ thuộc về các bậc tiền bối, bởi vì chúng sống chung một cách vô cùng tuyệt vời với sự giản dị. Nhưng tôi sẽ gác lại bài diễn thuyết này — thứ có thể dẫn dắt tôi đi xa hơn mức tôi muốn —, và chỉ xin nói thêm điều này: chỉ có sự khiêm nhường và lòng quy phục mới có thể nhào nặn nên một con người thiện lương trọn vẹn. Chúng ta không được phó mặc kiến thức về bổn phận của mình cho phán đoán của riêng mỗi người; chúng ta phải quy định nó cho họ, chứ không cho phép họ tự do lựa chọn theo ý muốn chủ quan; nếu không, tùy theo sự suy nhược và muôn hình vạn trạng trong lý trí cũng như quan điểm của chúng ta, chúng ta sẽ tự phóng tác ra những bổn phận — hệt như Epicurus từng nói — bắt chúng ta phải nuốt chửng lẫn nhau.

Bộ luật đầu tiên mà Thiên Chúa từng ban cho con người là bộ luật của sự vâng phục thuần túy; đó là một mệnh lệnh trần trụi và đơn giản, nơi con người chẳng có gì phải tra vấn hay tranh cãi; bởi vì vâng phục chính là bổn phận đích thực của một linh hồn có lý trí, biết công nhận một đấng siêu việt và ân nhân từ thiên đàng. Từ sự vâng phục và quy phục nảy sinh ra mọi đức hạnh khác, cũng như mọi tội lỗi đều bắt nguồn từ thói tự cao. Và ngược lại, cám dỗ đầu tiên mà ác quỷ giáng xuống bản chất con người, thứ nọc độc đầu tiên nó tiêm nhiễm vào chúng ta chính là lời hứa hẹn về tri thức và sự khôn ngoan: Eritis sicut Dii, scientes bonum et malum. “Các ngươi sẽ như các vị thần, biết điều thiện và điều ác.” Và những nàng syren trong sử thi Homer, để quyến rũ Ulysses và kéo hắn vào cái bẫy nguy hiểm của chúng, đã đề nghị ban cho hắn tri thức. Cơn dịch hạch của con người chính là ảo tưởng về sự khôn ngoan; và vì lý do này mà sự ngu dốt được tôn vinh đối với chúng ta bởi tôn giáo của mình, như là điều thích hợp cho đức tin và sự vâng phục: Cavete ne quis vos decipiat per philosophiam et inanes seductiones, secundum elementa mundi. “Hãy coi chừng, kẻo có kẻ lừa dối các ngươi bằng triết lý và những lời phỉnh phờ hão huyền, theo truyền thống của loài người và những nguyên tố của thế giới.” Tồn tại một sự đồng thuận chung trong vấn đề này giữa tất cả các trường phái triết học rằng điều thiện tối cao nằm ở sự tĩnh lặng của tâm hồn và thể xác; nhưng chúng ta sẽ tìm thấy nó ở đâu?

Thật ra, dường như tự nhiên, để an ủi cho trạng thái khốn khổ và thảm hại của chúng ta, chỉ ban cho chúng ta sự kiêu ngạo làm gia tài kế thừa. Hệt như Epictetus từng nói, con người chẳng sở hữu bất kỳ thứ gì đích thực là của mình ngoài cách sử dụng quan điểm của bản thân; chúng ta chẳng có gì ngoài gió và khói làm phần lộc. Các vị thần sở hữu sức khỏe về mặt bản chất, triết học nói vậy, và bệnh tật về mặt tri thức. Ngược lại, con người sở hữu những điều tốt đẹp qua ảo tưởng, và những điều tồi tệ về mặt bản chất. Chúng ta có lý do để phóng đại sức mạnh của trí tưởng tượng của mình; bởi vì tất cả những điều tốt đẹp của chúng ta chỉ tồn tại trong giấc mơ. Hãy lắng nghe con người khốn khổ và thảm hại này khoác lác kìa! “Chẳng có gì,” Cicero nói, “thú vị bằng công việc của văn chương; của văn chương, tôi xin nhắc lại, qua phương tiện đó mà sự vô tận của vạn vật, sự vĩ đại bao la của tự nhiên, bầu trời ngay trong thế giới này, mặt đất và đại dương được hé lộ cho chúng ta; chính chúng đã dạy cho chúng ta tôn giáo, sự tiết chế và sự vĩ đại của lòng can đảm, đồng thời giải cứu linh hồn chúng ta khỏi bóng tối để làm cho nó chiêm ngưỡng mọi thứ — cao, thấp, đầu, cuối và ở giữa; chính chúng cung cấp cho chúng ta phương tiện để sống hạnh phúc, tốt đẹp và dẫn dắt chúng ta trải qua cuộc đời mà không gặp phải sự bất mãn hay phiền muộn nào.” Trông gã này có giống như đang nói về điều kiện của vị Thiên Chúa hằng sống và toàn năng hay không? Thế nhưng về mặt thực tế, hàng ngàn những người phụ nữ vùng quê bé nhỏ lại có được một cuộc đời bình yên, ngọt ngào và kiên định hơn lão ta nhiều.

Đó toàn là những lời khoác lác dõng dạc; thế nhưng chỉ một tai nạn nhỏ nhặt cũng đủ đẩy nhận thức của gã này rơi vào một tình trạng tồi tệ hơn cả những kẻ chăn cừu thấp kém nhất, bất chấp vị thần hướng dẫn này, bất chấp sự khôn ngoan thiêng liêng này. Cùng một giuộc và sự trơ trẽn đó là lời hứa hẹn trong cuốn sách của Democritus: “Tôi chuẩn bị bàn về vạn vật”; cùng cái nhan đề ngớ ngẩn mà Aristotle gắn cho một trong các tác phẩm của mình — trật tự đó chỉ ban cho ông một vài khoảng thời gian minh mẫn ngắn ngủi mà ông dùng để soạn thảo cuốn sách của mình, rồi cuối cùng đẩy ông đến chỗ tự tử — chính là bộ Chronicon của Eusebius.

Về Các Vị Thần Phàm Trần; và phán đoán của Chrysippus rằng “Dion cũng đức hạnh hệt như Thiên Chúa”; và chính Seneca của tôi cũng nói rằng “Thiên Chúa đã ban cho ông sự sống; nhưng việc sống tốt đẹp lại là của chính ông”; phù hợp với câu nói khác: In virtute vere gloriamur; quod non contingeret, si id donum Deo, non nobis haberemus. “Chúng ta thực sự tự hào về đức hạnh của mình; điều đó sẽ không thể xảy ra nếu nó được ban cho chúng ta bởi Thiên Chúa chứ không phải do chính ta”; đây cũng là câu nói của Seneca: “Rằng nhà hiền triết sở hữu sự kiên cường ngang bằng với Thiên Chúa, nhưng của ông ta là bất chấp sự yếu đuối của con người, nhờ đó mà ông ta vượt qua cả Thiên Chúa.” Chẳng có gì bình thường hơn việc bắt gặp những sự bứt phá mang tính liều lĩnh tương tự; chẳng có ai trong chúng ta lại cảm thấy bị xúc phạm khi thấy mình được đặt ngang hàng với Thiên Chúa nhiều bằng việc cảm thấy bị xem thường khi bị xếp chung hàng với các tạo vật khác; chúng ta ghen tị với lợi ích của chính mình hơn là lợi ích của đấng Tạo Hóa nhiều xiết bao.

Nhưng chúng ta phải giẫm đạp lên sự phù phiếm ngu ngốc này, và dứt khoát lẫn quả cảm lay chuyển cái nền tảng nực cười làm bệ phóng cho những quan niệm sai lầm ấy. Chừng nào con người còn tin rằng bản thân mình sở hữu bất kỳ phương tiện và quyền năng nào tự thân, hắn sẽ chẳng bao giờ công nhận những gì mình nợ đấng Tạo Hóa; những quả trứng của hắn sẽ luôn nở thành gà, theo như tục ngữ; thế nên chúng ta phải lột sạch sành sanh hắn. Hãy xem xét một số ví dụ nổi bật về hiệu ứng triết học của hắn: Posidonius, khi bị hành hạ bởi một căn bệnh đau đớn đến mức làm ông vặn vẹo cả tay chân và nghiến ken két hàm răng, đã tưởng rằng ông thể hiện sự khinh miệt đầy đủ đối với cơn đau bằng cách cất tiếng gào thét chống lại nó: “Ngươi có thể làm bất cứ điều gì tồi tệ nhất, ta sẽ không bao giờ thú nhận rằng ngươi là một điều ác.” Ông cảm nhận cơn đau rõ mồn một hệt như gã đầy tớ của tôi, nhưng ông làm vẻ ta đây kiềm chế cái lưỡi của mình ít nhất là thế, và kìm hãm nó trong các quy luật của trường phái mình: Re succumbere non oportebat, verbis gloriantem. “Một kẻ nói lớn lao như thế không thích hợp để thú nhận sự yếu đuối của mình khi đối diện với thử thách.” Arcesilas khi mắc bệnh gút, và Carneades — người đến thăm ông — ra về với vẻ mặt đầy lo lắng trước tình trạng của ông, liền gọi ông lại, rồi giơ đôi chân và ngực của mình ra: “Chẳng có điều gì từ đây có thể vươn đến đó được,” ông nói. Điều này có vẻ lịch sự hơn một chút, bởi vì ông cảm nhận được cơn đau và muốn rũ bỏ nó, nhưng trái tim ông dù vậy vẫn không hề bị chinh phục hay khuất phục bởi nó. Kẻ kia thì bám trụ ngoan cố hơn vào quan điểm của mình, nhưng tôi e rằng chỉ là trên đầu môi chót lưỡi hơn là thực tế. Và Dionysius Heracleotes, khi bị hành hạ bởi một cơn nhức nhối dữ dội ở đôi mắt, cũng đã phải quỵ ngã và từ bỏ những nghị quyết theo phái Khắc kỷ ấy. Nhưng ngay cả khi tri thức thực sự có thể làm được như họ nói — có thể mài mòn mũi nhọn và làm cùn đi sức công phá của những bất hạnh bủa vây chúng ta —, thì nó làm được điều gì hơn so với sự ngu dốt một cách thuần túy và rõ ràng hơn cơ chứ? Nhà triết học Pyrrho, khi đang ở trên biển đối mặt với hiểm nguy vô cùng lớn nhờ một cơn bão táp dữ dội, đã chẳng hề đưa ra bất kỳ tấm gương nào cho những kẻ đồng hành cùng ông trong cơn khốn cùng đó ngoài một con heo đang ở trên tàu — con vật hoàn toàn vô cảm và chẳng hề bận tâm chút nào trước cơn bão. Triết học, sau khi đã nói tất cả những gì nó có thể, cuối cùng vẫn đẩy chúng ta trở lại với tấm gương của một đấu sĩ, một đô vật hoặc một kẻ đánh xe la — loại người mà chúng ta thường thấy có ít sự khiếp sợ trước cái chết, ít cảm nhận về sự đau đớn cùng những bất tiện khác, và có sức chịu đựng cao hơn bất kỳ thứ kiến thức nào từng trang bị cho bất kỳ ai không sinh ra và lớn lên trong gian khổ. Nguyên nhân nào khiến chúng ta thực hiện các vết rạch và cắt xẻ những thớ thịt mỏng manh của một đứa trẻ, hay của một con ngựa, dễ dàng hơn trên chính cơ thể mình — nếu không phải chỉ vì sự ngu dốt? Có biết bao nhiêu kẻ chỉ nhờ sức mạnh của trí tưởng tượng mà tự chuốc lấy bệnh tật? Chúng ta thường thấy người ta tự nguyện cho trích huyết, tẩy uế và uống thuốc để chữa trị những căn bệnh mà họ chỉ cảm nhận được trong trí tưởng tượng.

Khi các bệnh tật thực tế không tìm đến, tri thức liền cho chúng ta mượn những căn bệnh của nó: sắc diện đó, diện mạo đó đang báo hiệu một triệu chứng ho đờm; mùa nắng nóng này đang đe dọa chúng ta bằng một cơn sốt; đường chỉ tay bị đứt đoạn ở bàn tay trái của bạn đang cảnh báo về một chứng bệnh hiểm nghèo cận kề; và cuối cùng nó tấn công trực diện vào chính sức khỏe, tuyên bố rằng sự sung sức và cường tráng của tuổi trẻ này không thể duy trì mãi ở tư thế đó; cần phải trích huyết và làm dịu cơn nóng bừng, kẻo nó quay lại chống đối chính bạn. Hãy so sánh cuộc đời của một con người bị kìm kẹp bởi những tưởng tượng như thế với cuộc đời của một người lao động — kẻ để cho bản thân được dẫn dắt bởi bản năng tự nhiên, chỉ đo lường sự vật bằng cảm giác thực tế tại thời điểm hiện tại, không kiến thức và không điềm báo, chẳng bao giờ cảm thấy đau đớn hay bệnh tật trừ khi thực sự đổ bệnh. Trong khi kẻ kia lại mang sỏi thận trong tâm hồn trước cả khi nó xuất hiện trong bàng quang; cứ như thể việc chịu đựng nỗi đau khi nó thực sự ập đến là chưa đủ, hắn còn phải đón đầu nó bằng trí tưởng tượng và lao đi để gặp nó.

Những gì tôi nói về y học có thể dùng chung làm ví dụ cho tất cả các khoa học khác. Từ đó sinh ra quan điểm cổ xưa của các triết gia, những kẻ đặt điều kiện tối cao vào việc khám phá ra sự yếu đuối trong phán đoán của chúng ta. Sự ngu dốt của tôi đem lại cho tôi nhiều cơ hội hy vọng cũng như sợ hãi ngang nhau; và vì không có quy luật nào khác cho sức khỏe của mình ngoài những tấm gương từ người khác cùng các biến cố tôi từng chứng kiến ở nơi nào đó trong những hoàn cảnh tương tự, tôi tìm thấy đủ mọi loại và nương tựa vào những thứ qua so sánh mang lại nhiều thuận lợi nhất cho mình. Tôi chào đón sức khỏe bằng rộng mở đôi tay — tự do, đầy đặn và trọn vẹn —, và càng khơi gợi ham muốn tận hưởng nó nhiều bao nhiêu khi nó hiện tại ít thông dụng hơn và hiếm hoi hơn bấy nhiêu; đến nỗi tôi còn lâu mới đem sự tĩnh lặng và ngọt ngào của nó ra làm vẩn đục bởi sự cay đắng của một lối sống mới mẻ và gò bó. Muông thú cho chúng ta thấy rõ biết bao sự khuấy động trong tâm trí đã đem lại cho chúng ta vô số thương tật và bệnh tật. Những gì người ta kể về cư dân Brazil — rằng họ chỉ chết vì tuổi già — được quy cho sự thanh thản và tĩnh lặng của bầu không khí nơi họ sinh sống; nhưng tôi thà quy nó cho sự thanh thản và tĩnh lặng trong tâm hồn họ, hoàn toàn tự do khỏi mọi đam mê, suy nghĩ hay công việc mang tính căng thẳng hoặc khó chịu; một dân tộc trải qua cuộc đời trong sự giản dị và vô minh tuyệt vời, không văn chương, không luật pháp, không vua chúa hay bất kỳ hình thức tôn giáo nào. Và nguyên nhân nào dẫn đến điều mà chúng ta tìm thấy qua kinh nghiệm rằng những kẻ nặng nề nhất và đần độn nhất lại có năng lực cao nhất, và là đối tượng được khao khát nhất trong các cuộc mây mưa; và việc tình yêu của một gã đánh xe la thường tỏ ra được đón nhận nồng nhiệt hơn so với một quý tộc — nếu không phải vì sự xao động trong tâm hồn của kẻ sau đã làm rối loạn năng lực thể chất của hắn, làm tan rã và kiệt quệ nó, hệt như cách tâm hồn hắn cũng thường xuyên quấy rầy và làm kiệt quệ chính mình? Điều gì làm cho tâm hồn rời khỏi bản ngã của nó, và thường xuyên đẩy nó vào trạng thái điên loạn hơn là sự nhanh nhẹn, cường tráng và linh hoạt của chính nó, và suy cho cùng là sức mạnh của bản thân nó? Từ sự ngu xuẩn tinh tế nào mà người ta tạo ra sự thông thái tinh tế nhất? Giống như việc những tình bạn lớn nảy sinh từ những sự thù hận lớn, và một thể trạng tráng kiện nảy sinh từ những căn bệnh chết người, từ những sự xao động hiếm hoi và sinh động trong tâm hồn chúng ta lại sản sinh ra những cơn cuồng loạn kỳ diệu và phân rã nhất — chỉ cách nhau có nửa vòng chân là bước từ cái này sang cái kia. Trong các hành động của những kẻ điên, chúng ta thấy sự điên loạn giống hệt các hoạt động cường tráng nhất của tâm hồn đến nhường nào. Ai mà không biết sự khác biệt giữa sự điên rồ và những sự thăng hoa linh hoạt của một tâm hồn tự do, cùng các hiệu ứng của một đức hạnh tối cao và phi thường, là vô hình đến mức nào? Plato nói rằng những kẻ u sầu là những đối tượng dễ tiếp thu kỷ luật nhất và xuất sắc nhất; và đồng thời chẳng có ai dễ sa vào cơn điên loạn bằng họ. Những bộ óc lớn tự hủy diệt chính mình bởi chính sức mạnh và tính linh hoạt của bản thân; một trong những nhà thơ Ý uyên bác nhất, tài hoa nhất và gần gũi nhất với phong cách thơ ca cổ đại chân chính, gần đây đã rơi vào một tình trạng tồi tệ nhường nào do chính sự xao động và nhanh nhẹn trong trí tưởng tượng của ông! Chẳng phải ông đang mang một món nợ khổng lồ đối với thứ sinh khí đã hủy diệt ông đó sao? Đối với thứ ánh sáng đã làm mù lòa đôi mắt ông? Đối với sự thấu hiểu chính xác và tinh tế về lý trí đã đẩy ông rời khỏi bản ngã của mình? Đối với sự tra cứu tò mò và nhọc nhằn các ngành khoa học đã đưa ông đến trạng thái tiều tụy? Và đối với năng lực hiếm có cho các bài tập của tâm hồn đã làm cho ông trở nên vô tích sự và không còn linh hồn? Tôi thậm chí còn cảm thấy tức giận nhiều hơn là thương xót khi nhìn thấy ông tại Ferrara trong một tình trạng đáng thương đến thế — sống sót qua chính mình, quên lãng cả bản thân lẫn những tác phẩm của ông, những thứ dù không có sự hay biết của ông, ngay trước mặt ông, vẫn cứ bị đem ra xuất bản một cách thô sơ và sai sót.

Quý vị có muốn một con người khỏe mạnh, có muốn hắn sinh hoạt điều độ và ở một tư thế vững chắc, an toàn không? Hãy bọc hắn lại trong những bóng tối của sự ngu tối và lười biếng. Chúng ta phải biến thành loài thú để trở nên khôn ngoan, và bị bịp mắt lại trước khi đủ điều kiện để được dẫn dắt. Và nếu ai đó nói với tôi rằng lợi thế của việc sở hữu một cảm giác tê dại và kém nhạy bén đối với nỗi đau và những tai họa khác lại đi kèm với bất lợi là làm cho chúng ta kém nhạy bén hơn trong việc thụ hưởng những điều tốt đẹp và khoái lạc — điều đó hoàn toàn đúng; nhưng sự khốn khổ trong điều kiện của chúng ta là ở chỗ chúng ta không có nhiều thứ để tận hưởng bằng việc phải tránh né, và rằng khoái lạc tột cùng cũng chẳng tác động đến chúng ta ở mức độ mà một nỗi đau nhẹ có thể gây ra: Segnius homines bona quam mala sentiunt. Chúng ta không nhạy bén với sức khỏe hoàn hảo nhất cho bằng sự nhạy cảm trước một căn bệnh dù là nhỏ nhất.

Sự an khang của chúng ta chẳng qua chỉ là việc không bị bệnh tật. Đó là lý do tại sao trường phái triết học đặt giá trị cao nhất vào khoái lạc lại tập trung chủ yếu vào trạng thái vô cảm trước nỗi đau. Được giải thoát khỏi điều ác chính là điều thiện lớn nhất mà con người có thể hy vọng hoặc khao khát, như Ennius đã nói: —

bởi vì mọi sự kích thích và ngứa ngáy hiện hữu trong một số khoái lạc nhất định, và những thứ dường như nâng bổng chúng ta vượt lên trên sức khỏe đơn thuần và tính thụ động — thứ khoái lạc mang tính hành động, chuyển động và không biết làm sao, vừa ngứa ngáy vừa cắn xứt ấy —, ngay cả bản thân thứ khoái lạc đó cũng chẳng nhắm đến mục tiêu nào khác ngoài sự vô cảm làm đích đến của nó. Ham muốn lôi kéo chúng ta lao đầu vào những cái ôm ái tình chẳng có mục đích nào khác ngoài việc chữa lành nỗi thống khổ do những khát khao cuồng nhiệt và bạo liệt của chúng ta gây ra, và chỉ đòi hỏi được thỏa mãn, được đặt nằm yên nghỉ, cũng như được giải thoát khỏi cơn sốt. Và những thứ khác cũng thế. Do đó, tôi xin nhắc lại, nếu sự giản dị dẫn dắt chúng ta đến một trạng thái thoát khỏi điều ác, thì nó dẫn chúng ta đến một trạng thái vô cùng hạnh phúc tùy theo điều kiện của mình. Dẫu vậy, chúng ta không được tưởng tượng đó là một sự vô cảm đần độn đến mức hoàn toàn không có chút cảm giác nào; bởi vì Crantor hoàn toàn có lý khi tranh cãi về sự vô cảm của Epicurus nếu nó cắm rễ sâu đến mức ngay cả đợt tấn công đầu tiên và sự sinh thành của những điều ác cũng không thể bị nhận biết: “Tôi không chấp nhận một sự vô cảm vừa không thể xảy ra vừa không đáng mong muốn. Tôi rất hài lòng khi không bị bệnh; nhưng nếu tôi bị bệnh, tôi muốn biết rằng mình đang bị bệnh; và nếu người ta đắp thuốc tiêu sưng hoặc rạch các đường mổ trên bất kỳ bộ phận nào, tôi muốn cảm nhận được chúng.” Thực sự, bất cứ ai muốn tước đi tri thức và cảm giác về điều ác cũng sẽ đồng thời triệt tiêu luôn cả cảm giác về khoái lạc, và cuối cùng tiêu diệt luôn cả bản thân con người: Istud nihil dolere, non sine magnâ mercede contingit, immanitatis in animo, stuporis in corpore. “Một sự vô cảm không thể mua được bằng thứ gì khác ngoài cái giá của sự tàn nhẫn trong tâm hồn, và sự đần độn của thể xác.” Điều ác vốn dĩ đi kèm với con người theo tự nhiên. Không phải lúc nào nỗi đau cũng phải được tránh né, và không phải lúc nào khoái lạc cũng phải được theo đuổi.

Đó là một lợi thế lớn lao cho danh dự của sự ngu dốt khi chính tri thức phải tự quăng mình vào vòng tay của nó, khi nó thấy mình bối rối trong việc gia cố chúng ta chống lại sức nặng của điều ác; nó buộc phải đi đến sự thỏa hiệp này, là buông lỏng dây cương và cho phép chúng ta bay vào lòng của sự ngu dốt, rồi tìm kiếm sự che chở dưới sự bảo vệ của nó khỏi những cú đánh và tai họa của số phận. Bởi vì nếu không thì tri thức có ngụ ý gì khi nó huấn luyện chúng ta hướng suy nghĩ ra khỏi những điều ác đang đè nặng lên mình, và giải trí chúng bằng sự chiêm nghiệm về những khoái lạc đã qua và đã mất; để an ủi bản thân trong những ngặt nghèo hiện tại bằng ký ức về những niềm vui đã lụi tàn, và kêu gọi sự thỏa mãn đã tan biến đến cứu trợ, để đối phó với sự bất mãn đang đè nặng lên chúng ta? Levationes ægritudinum in avocatione a cogitandis molestiis, et revocatione ad contemplandas voluptates, ponit; “Nó hướng dẫn chúng ta làm dịu đi nỗi buồn và sự đau đớn bằng cách chối bỏ những suy nghĩ khó chịu, và gợi nhớ lại những ý tưởng dễ chịu” — trừ phi trong trường hợp sức mạnh của nó thất bại, nó muốn bù đắp bằng sự mưu mẹo, và sử dụng thủ đoạn lừa phỉnh khi sức mạnh của các chi không thể làm tròn nhiệm vụ? Bởi vì không chỉ đối với một nhà triết học, mà đối với bất kỳ ai còn minh mẫn, khi cơn khát của một cơn sốt hầm hập đang hành hạ, việc nhớ lại khoái lạc từng nếm trải khi uống rượu Hy Lạp từ một tháng trước sẽ đem lại cho hắn sự thỏa mãn nào cơ chứ? Nó sẽ chỉ làm cho mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn mà thôi: —

Cùng một giuộc đó là lời khuyên tiếp theo mà triết học đưa ra, chỉ nhớ lại hạnh phúc đã qua và quên đi những bất hạnh mà chúng ta từng trải qua; cứ như thể chúng ta có sẵn khoa học về sự lãng quên trong tầm tay của mình, và đây là một lời khuyên mà chúng ta vẫn chưa phải tìm kiếm.

Triết học — thứ lẽ ra phải vũ trang cho tôi để chiến đấu với số phận và tôi luyện lòng can đảm để giẫm đạp mọi nghịch cảnh trần thế dưới chân — đã làm thế nào để rơi xuống mức độ hèn nhát này, bắt tôi phải rụt cổ lại theo cái cách đó, rồi tự cứu lấy mình bằng những thủ đoạn thảm hại và nực cười này? Bởi vì ký ức không đại diện cho những gì chúng ta chọn, mà là những gì nó thích; thực ra, chẳng có gì khắc sâu một điều gì đó vào ký ức của chúng ta nhiều bằng mong muốn quên đi nó. Và đó là một cách hay để giữ gìn và giữ lại bất kỳ điều gì an toàn trong tâm hồn khi nài nỉ nó đánh mất nó. Và điều này là sai sự thật: Est situm in nobis, ut et adversa quasi perpetua oblivione obruamus, et secunda jucunde et suaviter meminerimus; “chúng ta hoàn toàn có quyền vùi lấp, như thể trong một sự lãng quên vĩnh viễn, mọi tai họa nghịch cảnh, và lưu giữ lại một ký ức dễ chịu và thú vị về những thành công của mình”; và điều này mới là đúng: Memini etiam quo nolo; oblivisci non possum quo volo. “Tôi thực sự nhớ những gì tôi không muốn; nhưng tôi không thể quên những gì tôi muốn.” Và đây là lời khuyên của ai? Của kẻ “từng dám đơn độc tuyên bố mình là nhà hiền triết.”

Việc làm trống rỗng và tước đoạt trí nhớ, há đó chẳng phải là con đường đích thực dẫn đến sự ngu dốt hay sao?

Chúng ta tìm thấy nhiều lời khuyên tương tự khác, qua đó chúng ta được phép mượn những vẻ bề ngoài phù phiếm từ quần chúng khi chúng ta nhận thấy lý lẽ mạnh mẽ nhất không đáp ứng được mục đích, miễn là chúng đem lại sự thỏa mãn và an ủi. Khi không thể chữa lành vết thương, họ bằng lòng xoa dịu và làm tê liệt nó. Tôi tin rằng họ sẽ không phủ nhận điều này rằng nếu họ có thể thêm vào trật tự và sự kiên định trong một lối sống có thể tự duy trì trong sự thoải mái và khoái lạc nhờ một chút suy yếu trong phán đoán, họ sẽ chấp nhận nó: —

Sẽ có rất nhiều triết gia mang tâm trí của Lycas — nhân vật này, dù có lối sống vô cùng quy an, sống yên bình và mãn nguyện trong gia đình mình, không hề lơ là bất kỳ bổn phận nào đối với gia đình hay người lạ, đồng thời vô cùng cẩn trọng bảo vệ bản thân khỏi những điều có hại, lại bỗng dưng mắc phải một căn bệnh trong bộ não, bị ám ảnh bởi ý niệm rằng ông ta vĩnh viễn đang ở trong nhà hát, làm khán giả chiêm ngưỡng những khung cảnh đẹp nhất và những vở kịch hài tuyệt vời nhất thế giới; và sau khi được các y sĩ chữa khỏi cơn điên loạn đó, ông đã suýt nữa kiện tụng để ép họ khôi phục lại cho mình trí tưởng tượng đầy thú vị ấy: —

với một sự điên loạn hệt như của Thrasylaus — con trai của Pythodorus —, kẻ từng tự lừa dối mình rằng tất cả các con tàu nhổ neo từ cảng Piraeus và cập bến đều chỉ thực hiện những chuyến hải hành vì lợi ích của hắn, chúc mừng chúng có một chuyến hải hành suôn sẻ và đón chào chúng với niềm vui lớn lao; và khi người anh trai Crito của hắn chữa lành cho hắn để lấy lại sự minh mẫn tốt hơn, hắn đã vô cùng tiếc nuối cái lối sống mà hắn từng trải qua với quá nhiều niềm vui và hoàn toàn thoát khỏi mọi sự lo âu trong tâm trí. Điều đó đúng theo câu thơ cổ của người Hy Lạp rằng “có rất nhiều sự tiện lợi trong việc không trở nên quá khôn ngoan.”

Và trong sách Giảng Viên: “Trong sự thông thái lớn lao có nỗi buồn lớn lao”; và “Kẻ nào vớ lấy sự khôn ngoan là vớ lấy nhọc nhằn và phiền muộn.”

Ngay cả điều mà triết học đồng thuận nói chung — phương thuốc cuối cùng mà nó áp dụng cho mọi loại nhu cầu để chấm dứt cuộc đời mà chúng ta không thể chịu đựng nổi: Placet?—Pare. Non placet?—Quocumque vis, exi. Pungit dolor?—Vel fodiat sane. Si nudus es, da jugulum; sin tectus armis Vulcaniis, id est fortitudine, resiste; “Nó làm bạn vừa lòng ư?—Hãy vâng phục. Không vừa lòng ư?—Hãy đi đến bất cứ nơi nào bạn muốn. Nỗi đau châm chích bạn ư,—thậm chí đâm thủng bạn ư?—Nếu bạn trần truồng, hãy dang cổ họng ra; nếu được bao bọc trong lớp áo giáp của Vulcan, tức là lòng kiên cường, hãy kháng cự.” Và từ này, được sử dụng rất phổ biến trong các lễ hội của người Hy Lạp, aut bibat, aut abeat, “hoặc uống hoặc cút,” phát ra nghe lọt tai hơn trên chiếc lưỡi của một người Gascon — kẻ tự nhiên thay đổi chữ h thành v — so với trên miệng của Cicero: —

Đó có phải là gì khác ngoài một sự thú nhận về sự bất lực của chính mình, và một sự tống cổ trở lại không chỉ với sự ngu dốt để được an toàn, mà thậm chí là đến sự đần độn, vô cảm và sự không tồn tại hay sao?

Đó là những gì Antisthenes từng nói: “Rằng một con người nên hoặc là dự trữ ý thức để thấu hiểu, hoặc là chuẩn bị một sợi dây thừng để treo cổ”; và những gì Chrysippus viện dẫn dựa trên câu nói này của nhà thơ Tyrtaeus: —

Và Crates từng nói: “Rằng tình yêu sẽ được chữa lành bằng cơn đói, nếu không thì bằng thời gian; và bất cứ ai không thích hai phương thuốc đó, hãy dùng một sợi dây thừng.” Rằng Sextius — người mà cả Seneca và Plutarch đều ca ngợi hết lời — sau khi cống hiến toàn bộ cho việc nghiên cứu triết học mà dẹp bỏ mọi thứ khác, đã quyết định tự vẫn bằng cách nhảy xuống biển khi thấy tiến độ học tập của mình quá chậm chạp và tẻ nhạt. Ông chạy đi tìm cái chết vì không thể đuổi kịp tri thức. Đó là những lời của bộ luật về chủ đề này: “Nếu chẳng may một bất hạnh lớn lao nào đó xảy ra mà không có cách nào cứu chữa, bến cảng ở ngay gần đó, và người ta có thể tự cứu mình bằng cách bơi ra khỏi thể xác hệt như bơi ra khỏi một chiếc xuồng thủng nước; bởi vì chính nỗi sợ cái chết chứ không phải tình yêu sự sống mới trói buộc kẻ ngốc vào thể xác của hắn.”

Giống như việc cuộc sống trở nên thú vị hơn nhờ sự giản dị, nó cũng trở nên trong trắng và tốt đẹp hơn, hệt như tôi vừa nói trước đó: “Kẻ giản dị và vô minh,” thánh Phaolô nói, “tự nâng mình lên thiên đàng và chiếm đoạt nó; còn chúng ta, với tất cả tri thức của mình, lại tự lao đầu xuống vực thẳm địa ngục.” Tôi không bị lung lay bởi Valentinian — kẻ thù công khai của mọi học thức và văn chương —, cũng không bởi Licinius — cả hai đều là hoàng đế La Mã từng gọi những thứ đó là nọc độc và tai họa của mọi chính phủ chính trị; cũng không bởi Mahomet — người mà người ta đồn rằng đã cấm đoán mọi hình thức học tập đối với các tín đồ của mình; nhưng tấm gương của vị vĩ nhân Lycurgus cùng uy quyền của ngài, đi kèm với sự tôn nghiêm của hệ thống chính trị Lacedaemon vĩ đại, đáng ngưỡng mộ và kéo dài trong đức hạnh lẫn hạnh phúc suốt một thời gian dài mà chẳng cần đến bất kỳ sự thiết lập hay thực hành văn chương nào, chắc chắn phải mang trọng lượng vô cùng to lớn. Những kẻ trở về từ tân thế giới được phát hiện bởi người Tây Ban Nha trong những ngày của tổ tiên chúng ta đã làm chứng cho chúng ta thấy những quốc gia đó sống một cách trung thực và quy củ hơn biết bao, không có quan tòa và luật pháp, so với những nơi của chúng ta — nơi có nhiều quan chức và luật sư hơn bất kỳ loại người hay công việc nào khác: —

Đó là những gì một nguyên lão La Mã thời kỳ hậu bán từng nói rằng hơi thở của tổ tiên họ hôi mùi tỏi, nhưng dạ dày của họ lại được thơm tho bằng một lương tâm trong sạch; và ngược lại, những kẻ trong thời đại của ông đều tỏa ra mùi hương ngọt ngào ở bề ngoài nhưng lại thối tha bên trong bởi đủ loại thói hư tật xấu — nghĩa là, theo cách diễn giải của tôi, họ dồi dào về học thức và tài hùng biện, nhưng lại vô cùng khiếm khuyết về lòng trung thực đạo đức. Sự thô lỗ, sự ngu dốt, sự giản dị, tính xù xì chính là những người bạn đồng hành tự nhiên của sự ngây thơ; tò mò, tinh ranh, tri thức mang theo sự hiểm độc trong đoàn tùy tùng của chúng; sự khiêm nhường, nỗi sợ hãi, sự vâng phục và sự nhã nhặn — những yếu tố chủ chốt hỗ trợ và duy trì xã hội loài người — đòi hỏi một tâm hồn trống rỗng và dễ dạy bảo, ít tự cao tự đại.

Những người theo đạo Thiên Chúa sở hữu một kiến thức đặc biệt về việc thói tò mò vốn dĩ mang tính tự nhiên và nguyên thủy trong con người thế nào; cơn khát tri thức và mong muốn trở nên khôn ngoan hơn chính là sự diệt vong đầu tiên của con người, và là con đường dẫn dắt hắn tự lao đầu vào sự đày đọa vĩnh hằng. Kiêu ngạo chính là sự diệt vong và thối nát của hắn. Chính sự kiêu ngạo đã lôi kéo hắn lệch khỏi con đường chung, khiến hắn ôm ấp những điều mới lạ và thà chọn làm đầu một nhúm người đi lạc trôi dạt trong con đường sai lầm, làm bậc thầy và kẻ rao giảng những lời dối trá, còn hơn làm một kẻ học trò trong ngôi trường của chân lý, để cho bàn tay của kẻ khác dẫn dắt và điều hướng trên con đường ngay thẳng và quen thuộc. Đó rất có thể là ý nghĩa của câu tục ngữ cổ của người Hy Lạp rằng sự mê tín dị đoan đi theo sự kiêu ngạo và vâng lời nó hệt như một người cha: [—Hy Lạp—] Hỡi thói kiêu căng, ngươi cản trở chúng ta biết nhường nào?

Sau khi Socrates được nghe kể rằng vị thần khôn ngoan đã ban cho ông danh hiệu nhà hiền triết, ông vô cùng kinh ngạc, và khi lùng sục cũng như kiểm tra bản thân từ trên xuống dưới, ông chẳng thể tìm thấy bất kỳ nền tảng nào cho phán đoán thần thánh đó. Ông biết có những kẻ khác công chính, tiết chế, dũng cảm và uyên bác hệt như mình; thậm chí còn hùng biện hơn, đẹp trai hơn và mang lại nhiều lợi ích cho đất nước hơn ông. Cuối cùng, ông đi đến kết luận rằng ông chẳng có gì khác biệt so với những người khác, cũng chẳng khôn ngoan gì, ngoại trừ việc ông không tự cho mình là khôn ngoan; và rằng vị thần của ông xem quan niệm về tri thức và sự khôn ngoan như một sự quái đản kỳ dị ở con người; và học thuyết tuyệt vời nhất của ông chính là học thuyết về sự ngu dốt, cùng sự giản dị là sự khôn ngoan tuyệt đỉnh của ông. Lời thánh tuyên bố những kẻ mang ảo tưởng về bản thân trong chúng ta là khốn khổ: “Hỡi tro bụi,” nó nói với những kẻ đó, “ngươi có cái gì để tự hào chứ?” Và ở một nơi khác: “Thiên Chúa tạo ra con người giống như một chiếc bóng,” thứ mà ai có thể phán đoán nổi khi ánh sáng bị dời đi và nó đã biến mất! Con người chẳng qua chỉ là một vật vô giá trị.

Sức mạnh của chúng ta cách xa việc có thể thấu hiểu được độ cao thần thánh đến mức trong số các công trình của đấng Tạo Hóa, những thứ mang dấu ấn của Ngài rõ nét nhất và xứng đáng mang danh hiệu của Ngài nhất lại chính là những thứ chúng ta ít thấu hiểu nhất. Việc bắt gặp một điều khó tin chính là cơ hội để các Kitô hữu tin tưởng; và điều đó càng phù hợp với lý trí bao nhiêu khi nó đi ngược lại lý trí con người bấy nhiêu. Nếu nó phù hợp với lý trí, nó sẽ không còn là phép mầu nữa; và nếu nó phù hợp với các tiền lệ, nó sẽ không còn là một sự kiện đơn lẻ. Melius scitur Deus nesciendo: “Thiên Chúa được nhận biết tốt nhất qua sự không nhận biết,” thánh Augustine nói; và Tacitus viết: Sanctius est ac reverentius de actis Deorum credere, quam scire; “thực thi đức tin và tôn kính các công trình của Thiên Chúa thì thánh thiện và đáng kính hơn là đi tìm hiểu chúng”; và Plato cho rằng có điều gì đó mang tính bất kính khi quá tò mò tìm hiểu về Thiên Chúa, thế giới và các nguyên nhân đầu tiên của vạn vật: Atque illum quidem parentem hujus universitatis invenire, difficile; et, quum jam inveneris, indicare in vulgus, nefas: “việc tìm ra đấng cha đẻ của vũ trụ này là vô cùng khó khăn; và khi đã tìm ra rồi, việc tiết lộ ngài cho quần chúng là một tội lỗi,” Cicero nói. Chúng ta thực sự bàn về quyền lực, chân lý, công lý; đó là những từ ngữ biểu thị một điều gì đó lớn lao; nhưng điều đó chúng ta không hề nhìn thấy cũng không tài nào mường tượng nổi. Chúng ta nói rằng Thiên Chúa sợ hãi, Thiên Chúa nổi giận, Thiên Chúa yêu thương,

Tất cả đó đều là những sự xao động và cảm xúc không thể tồn tại ở Thiên Chúa theo hình mẫu của chúng ta, cũng như chúng ta không thể mường tượng chúng theo hình mẫu của Ngài. Chỉ có Thiên Chúa mới có quyền năng tự thấu hiểu chính mình và diễn dịch các công trình của Ngài; và Ngài thực hiện điều đó bằng ngôn ngữ của chúng ta, tự hạ mình bước ra khỏi bản ngã để cúi xuống với chúng ta — những kẻ đang bò trườn trên mặt đất này. Làm sao sự khôn ngoan — thứ vốn là sự lựa chọn giữa điều thiện và điều ác — có thể được gán một cách chính đáng cho Đấng mà không một điều ác nào có thể chạm tới? Làm sao lý trí và sự thông hiểu — thứ mà chúng ta sử dụng để vươn từ những điều mơ hồ đến những điều hiển hiện — lại có thể áp dụng cho Ngài, khi mà chẳng có gì là mơ hồ đối với Ngài? Làm sao công lý — thứ phân phát cho mỗi người những gì thuộc về họ, một thứ được sinh ra từ xã hội và cộng đồng của loài người — lại có thể hiện hữu ở Thiên Chúa? Làm sao sự tiết chế — sự điều độ đối với các khoái lạc thể xác, những thứ không có chỗ đứng trong Thần Tính — lại tồn tại ở Ngài? Sự kiên cường để chịu đựng nỗi đau, sự nhọc nhằn và hiểm nguy cũng ít thích hợp với Ngài chẳng kém gì những thứ khác; ba điều này không có cửa ngõ nào để tiếp cận Ngài. Vì lý do đó mà Aristotle coi Ngài hoàn toàn vô can trước cả đức hạnh lẫn thói hư tật xấu: Neque gratia, neque ira teneri potest; quod quæ talia essent, imbecilla essent omnia; “Ngài không thể bị chi phối bởi sự ân sủng hay sự phẫn nộ, bởi vì cả hai điều này đều là hệ quả của sự yếu đuối.”

Sự tham gia của chúng ta vào tri thức về chân lý, dẫu có ra sao đi nữa, cũng không phải do sức mạnh của chính chúng ta thu nhận được: Thiên Chúa đã cho chúng ta hiểu rõ điều đó thông qua những nhân chứng được Ngài lựa chọn từ tầng lớp bình dân, những con người giản dị và vô minh được Ngài đoái thương sử dụng để hướng dẫn chúng ta vào những bí mật kỳ diệu của Ngài. Đức tin của chúng ta không phải do chúng ta tự giành lấy; đó hoàn toàn là món quà từ lòng nhân hậu của kẻ khác: không phải qua sự chiêm nghiệm hay bằng sức mạnh của trí tuệ mà chúng ta có được tôn giáo của mình, mà thông qua uy quyền và mệnh lệnh từ bên ngoài — nơi sự suy nhược trong phán đoán của chính chúng ta hỗ trợ chúng ta nhiều hơn bất kỳ sức mạnh nào của nó; và sự mù lòa của chúng ta hỗ trợ nhiều hơn sự sáng suốt của ta: chúng ta thấu hiểu bất kỳ điều gì về sự khôn ngoan thiêng liêng nhờ sự trung gian của sự ngu dốt nhiều hơn là nhờ tri thức của mình. Chẳng có gì là lạ nếu các phần phàm trần và thuộc về mặt đất của chúng ta không tài nào thấu hiểu được tri thức siêu nhiên và thiên đàng đó: chúng ta đừng mang theo bất kỳ thứ gì của riêng mình ngoại trừ sự vâng phục và quy phục; bởi vì như đã được chép lại: “Ta sẽ hủy diệt sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan, và làm cho sự thông hiểu của kẻ thông thái ra thành vô dụng. Kẻ khôn ngoan ở đâu? Người chép kinh ở đâu? Kẻ tranh biện của thế giới này ở đâu? Thiên Chúa há chẳng làm cho sự khôn ngoan của thế giới này ra thành ngu xuẩn đó sao? Bởi vì sau khi thế giới trong sự khôn ngoan của Thiên Chúa đã không nhận biết Thiên Chúa, Thiên Chúa đã đoái thương cứu rỗi những ai tin tưởng thông qua sự ngu xuẩn của việc rao giảng.”

Cuối cùng, giả sử tôi kiểm tra xem liệu con người có quyền năng tìm ra thứ mà hắn đang tìm kiếm hay không, và liệu cuộc truy vấn mà hắn đã cống hiến suốt bao nhiêu thế kỷ qua có làm cho hắn giàu lên với bất kỳ sức mạnh mới mẻ nào hay bất kỳ chân lý vững chắc nào không; tôi tin rằng hắn sẽ thú nhận, nếu nói từ tận đáy lòng, rằng tất cả những gì hắn thu nhận được qua một cuộc tìm kiếm dài đằng đẵng như thế chỉ là việc học được cách nhận thức sự yếu đuối của chính mình. Chúng ta chỉ qua một quá trình học tập lâu dài mới củng cố và kiểm chứng được sự ngu dốt tự nhiên mà chúng ta vốn mang sẵn trong người từ trước. Điều tương tự cũng xảy ra với những bậc thực sự khôn ngoan, hệt như những bông lúa: chúng vươn cao và ngẩng cao đầu một cách kiêu hãnh khi còn trống rỗng; nhưng khi đã căng tràn hạt và chín muồi, chúng bắt đầu trĩu xuống và rũ rượi. Cũng vậy, con người sau khi đã thử nghiệm và dò thấu vạn vật, rồi tìm thấy trong khối kiến thức và kho tàng vô số thứ đa dạng ấy chẳng có gì là vững chắc hay kiên cố, ngoài sự phù phiếm, liền từ bỏ thói ngạo mạn và thừa nhận điều kiện tự nhiên của mình. Đó là những gì Velleius quở trách Cotta và Cicero: “Rằng họ đã học được từ Philo rằng họ chẳng học được gì cả.” Pherecydes — một trong bảy hiền triết — khi viết thư cho Thales trên giường bệnh của mình, đã nói: “Tôi đã ra lệnh cho người nhà của mình, sau khi tôi tẩm liệm xong, hãy mang những trước tác của tôi giao cho ông. Nếu chúng vừa ý ông và các hiền triết khác, hãy xuất bản chúng; nếu không, hãy hủy bỏ chúng. Chúng không chứa đựng bất kỳ sự chắc chắn nào làm cho chính tôi cảm thấy hài lòng. Tôi cũng không mạo nhận là mình biết được chân lý hay vươn tới được nó. Tôi thà mở ra các vấn đề còn hơn là khám phá chúng.” Nhà hiền triết vĩ đại nhất từng tồn tại, khi được hỏi rằng ông biết những gì, đã đáp rằng: “Ông biết điều này, là ông chẳng biết gì cả.” Qua đó ông đã kiểm chứng cho câu nói rằng phần lớn những gì chúng ta biết chính là phần nhỏ nhất của những gì chúng ta không biết; nghĩa là, ngay cả những gì chúng ta nghĩ rằng mình biết cũng chỉ là một mảnh vụn, và là một mảnh vụn vô cùng nhỏ bé, của sự ngu dốt trong chúng ta. Chúng ta nhận thức vạn vật trong những giấc mơ, Plato nói vậy, và hoàn toàn mù tịt về chúng trong thực tế. Omnes pênè veteres nihil cognosci, nihil percipi, nihil sciri posse dixerunt; angustos sensus, imbecilles animos, brevia curricula vitæ. “Hầu như tất cả các bậc tiền bối đều tuyên bố rằng chẳng có gì để nhận biết, chẳng có gì để cảm nhận hay thấu hiểu; các giác quan thì quá hạn hẹp, tâm trí con người thì quá yếu đuối, và quãng đời thì quá ngắn ngủi.” Và bản thân Cicero — người mang ơn sự học thức của mình cho tất cả những gì ông đang có —, được Valerius tường thuật rằng: “Ông bắt đầu chán ngấy văn chương vào tuổi già; và khi nghiên cứu, ông giữ một thái độ vô cùng độc lập đối với bất kỳ đảng phái nào; cứ theo đuổi những gì ông cho là có xác suất, lúc theo trường phái này, lúc theo trường phái khác, luôn luôn dao động dưới những hoài nghi của Viện hàn lâm.” Dicendum est, sed ita ut nihil affirment, quæram omnia, dubitans plerumque, et mihi diffidens. “Tôi phải nói điều gì đó, nhưng theo cách không khẳng định bất cứ điều gì; tôi truy vấn vạn vật, nhưng hầu hết là trong sự hoài nghi và sự thiếu tin tưởng vào chính bản thân mình.”

Tôi sẽ có một ván bài quá ư sáng sủa nếu đem con người ra xem xét theo cách thông thường và tổng thể của hắn; thế nhưng tôi vẫn có thể làm điều đó dựa trên chính quy luật của hắn — quy luật phán đoán chân lý không bằng trọng lượng, mà bằng số lượng phiếu bầu. Hãy gạt đám đông sang một bên — những kẻ chẳng cảm nhận cũng chẳng phán đoán, và để mặc hầu hết các năng lực tự nhiên của họ ngủ quên; tôi sẽ lấy con người ở điểm cao nhất của hắn. Hãy xem xét hắn trong nhóm người vô cùng ít ỏi đó — những bậc xuất sắc và được tuyển chọn từ phần còn lại —, những kẻ vốn được phú bẩm một năng lực tự nhiên nổi bật và đặc biệt, lại còn tự tôi luyện và mài giũa nó bằng sự chăm sóc, học tập và nghệ thuật, rồi nâng nó lên đỉnh cao tột cùng của sự khôn ngoan mà con người có thể vươn tới. Họ đã điều chỉnh tâm hồn mình cho phù hợp với mọi con đường và mọi khuynh hướng; đã chống đỡ và hỗ trợ chúng bằng mọi sự trợ giúp từ bên ngoài thích hợp cho họ, đồng thời làm giàu và trang hoàng chúng bằng tất cả những gì họ có thể mượn về để mưu cầu lợi ích, cả trong lẫn ngoài thế giới này; chính ở những con người này là nơi đặt để đỉnh cao tối thượng và tuyệt đối mà bản chất con người có thể vươn tới. Họ đã quản lý thế giới bằng các chính sách và luật pháp. Họ đã hướng dẫn nó bằng nghệ thuật và khoa học, cùng tấm gương từ phong cách sống đáng ngưỡng mộ của họ. Tôi sẽ không đếm xỉa đến bất cứ ai ngoại trừ những con người như thế, cùng chứng nhân và kinh nghiệm của họ. Hãy kiểm tra xem họ đã tiến xa đến đâu và dừng chân ở nơi nào. Những lỗi lầm và khiếm khuyết mà chúng ta sẽ tìm thấy ở những con người này là thứ mà thế giới có thể dũng cảm nhận lấy làm của riêng mình.

Bất cứ ai lên đường tìm kiếm bất kỳ thứ gì cuối cùng cũng phải đi đến kết luận sau: hoặc nói rằng mình đã tìm thấy nó, hoặc nói rằng không thể tìm thấy nó, hoặc nói rằng mình vẫn đang trong quá trình tìm kiếm. Toàn bộ triết học đều được chia thành ba loại này; mục đích của nó là truy tìm chân lý, tri thức và sự chắc chắn. Phái Peripatetics, Epicureans, Stoics và những phái khác từng nghĩ rằng họ đã tìm thấy nó. Họ thiết lập nên các ngành khoa học mà chúng ta đang có, và đối xử với chúng như những tri thức chắc chắn. Clitomachus, Carneades và các học giả phái Viện hàn lâm đã tuyệt vọng trong cuộc tìm kiếm của mình, và đi đến kết luận rằng chân lý không thể được nhận thức bởi sự hiểu biết của chúng ta. Hệ quả của nhóm này chính là sự yếu đuối và sự ngu dốt của con người. Trường phái này có số lượng tín đồ đông đảo nhất và cao quý nhất. Pyrrho cùng các nhà hoài nghi khác — những kẻ mà các tín đồ cổ đại cho rằng giáo lý của họ được đúc rút từ Homer, bảy hiền triết, Archilochus và Euripides, và được bổ sung thêm những cái tên như Zeno, Democritus và Xenophanes —, tuyên bố rằng họ vẫn đang trong quá trình truy vấn chân lý. Họ kết luận rằng những kẻ khác — những người nghĩ rằng mình đã tìm ra nó — đã hoàn toàn lầm lạc; và rằng đó là một sự tự phụ quá đỗi táo bạo ở nhóm thứ hai khi xác định rằng lý trí con người không đủ khả năng vươn tới nó; bởi vì việc thiết lập nên một tiêu chuẩn cho năng lực của chúng ta nhằm nhận biết và phán đoán độ khó của sự vật chính là một tri thức vĩ đại và tột cùng, thứ mà họ hoài nghi không biết con người có khả năng đạt được hay không: —

Sự ngu dốt tự nhận thức được, tự phán đoán và lên án chính mình không phải là một sự ngu dốt tuyệt đối; để được như thế, nó buộc phải không nhận thức được chính sự ngu dốt của mình; thế nên tuyên ngôn của phái Pyrrho là dao động, hoài nghi và truy vấn, chứ không tự khẳng định chắc chắn hay chịu trách nhiệm về bất cứ điều gì cho bản thân. Trong ba hành động của tâm hồn — tưởng tượng, thèm muốn và đồng thuận —, họ tiếp nhận hai hành động đầu tiên; còn hành động cuối cùng thì được giữ ở trạng thái mơ hồ, không có khuynh hướng hay sự chuẩn thuận đối với bất cứ điều gì, dẫu cho nó nhẹ nhàng đến thế nào đi nữa. Zeno từng minh họa chuyển động của trí tưởng tượng của mình dựa trên những sự phân chia các năng lực của tâm hồn thế này: “Một bàn tay mở rộng biểu thị sự xuất hiện; một bàn tay khép hờ, các ngón tay hơi cong lại biểu thị sự đồng thuận; một nắm đấm siết chặt biểu thị sự thấu hiểu; khi dùng tay trái đẩy thêm nắm đấm phải siết chặt hơn nữa thì đó là tri thức.” Giờ đây, tư thế phán đoán của họ — thẳng thắn và bất khuất, tiếp nhận mọi đối tượng mà không có sự ứng dụng hay đồng thuận — dẫn dắt họ đến trạng thái ataraxy, tức là một điều kiện sống bình yên, ôn hòa và thoát khỏi những sự xao động mà chúng ta tiếp nhận từ ấn tượng của quan điểm cùng tri thức mà ta nghĩ mình có về vạn vật; từ đó nảy sinh ra nỗi sợ hãi, lòng tham, sự đố kỵ, những ham muốn bất kham, tham vọng, sự kiêu ngạo, mê tín dị đoan, tình yêu sự mới lạ, sự phản loạn, sự bất tuân, tính ngoan cố và phần lớn các chứng bệnh của thể xác; hơn thế nữa, nhờ đó mà họ tránh được sự ghen tuông trong kỷ luật của mình; bởi vì họ tranh luận một cách vô cùng ôn hòa; họ không sợ sự trả đũa trong các cuộc tranh cãi; khi họ khẳng định rằng các vật nặng rơi xuống, họ sẽ rất tiếc nếu được tin tưởng, và thay vào đó lại thích bị phản bác để khơi gợi sự hoài nghi và trạng thái lơ lửng của phán đoán — đó mới là mục đích của họ. Họ chỉ đưa ra các mệnh đề của mình để tranh đấu với những thứ mà họ nghĩ chúng ta đang có trong niềm tin của mình. Nếu quý vị tiếp thu lập luận của họ, họ sẽ sẵn sàng bảo vệ quan điểm ngược lại; đối với họ mọi thứ đều như nhau, họ chẳng có sự lựa chọn nào cả. Nếu quý vị khẳng định rằng tuyết có màu đen, họ sẽ tranh luận ngược lại rằng nó có màu trắng; nếu quý vị nói nó không phải màu này cũng chẳng phải màu kia, họ sẽ duy trì rằng nó là cả hai. Nếu quý vị giữ vững phán đoán chắc chắn rằng mình chẳng biết gì cả, họ sẽ duy trì rằng quý vị có biết. Vâng, và nếu bằng một tiên đề khẳng định, quý vị bảo đảm với họ rằng mình đang hoài nghi, họ sẽ tranh luận ngược lại rằng quý vị không hoài nghi; hoặc rằng quý vị không thể phán đoán và xác định rằng mình đang hoài nghi. Và qua sự cực đoan của sự hoài nghi đó — thứ tự đập đầu vào nhau —, họ tự tách rời và phân chia mình khỏi vô số quan điểm, thậm chí của những thứ họ từng duy trì theo nhiều cách khác nhau, cả về sự hoài nghi lẫn sự ngu dốt. “Tại sao họ lại không được phép hoài nghi,” họ nói, “giống như các tín đồ phái Dogma, khi một kẻ nói màu xanh, kẻ khác lại nói màu vàng? Có bất kỳ điều gì có thể được đề xuất để chúng ta chấp thuận hoặc phủ nhận mà không được phép xem xét như một điều mơ hồ hay không?” Và trong khi những kẻ khác bị cuốn đi, hoặc bởi phong tục của đất nước họ, hoặc bởi sự hướng dẫn của cha mẹ, hoặc bởi sự tình cờ hệt như một cơn bão — không phán đoán và không lựa chọn, thậm chí phần lớn là trước độ tuổi trưởng thành —, đến với một quan điểm nào đó, đến với một trường phái Stoic hay Epicurean nào đó mà họ đã bị ám ảnh, bị biến thành nô lệ và bị trói chặt hệt như một vật không thể rời bỏ: Ad quamcunque disciplinam, velut tempestate, delati, ad eam, tanquam ad saxum, adhærescunt; “mỗi kẻ bám lấy học thuyết mà mình vô tình rơi vào, hệt như một mỏm đá nơi chúng bị bão táp quăng quật vào”; tại sao những kẻ này lại không được phép duy trì quyền tự do của mình và xem xét sự vật mà không có bất kỳ sự ràng buộc hay nô lệ nào? Hoc liberiores et solutiores, quod integra illis est judicandi potestas; “tự do và cởi mở hơn ở điểm này, bởi vì họ có quyền năng phán đoán lớn hơn.” Há chẳng phải là một lợi thế khi được giải thoát khỏi sự tất yếu đang kìm kẹp những kẻ khác hay sao? Há chẳng phải tốt hơn nếu cứ ở trong trạng thái lơ lửng thay vì tự vướng víu vào vô số những sai lầm mà trí tưởng tượng con người sản sinh ra hay sao? Há chẳng phải tốt hơn rất nhiều nếu tạm ngưng sự thuyết phục của mình thay vì dính líu vào những sự chia rẽ đầy tranh chấp và xúi giục này sao? “Tôi nên chọn gì?” — “Bất cứ thứ gì bạn muốn, miễn là bạn chịu chọn.” Một câu trả lời vô cùng ngớ ngẩn; nhưng dường như tất cả các tín đồ phái Dogma đều hướng tới điều đó, và qua đó chúng ta không được phép ngu dốt về những thứ mà ta vốn ngu dốt.

Hãy chọn phe nổi bật nhất, phe có uy tín lớn nhất; nó sẽ chẳng bao giờ chắc chắn đến mức bạn không bị buộc phải tấn công và tranh đấu với hàng trăm, hàng trăm kẻ thù để bảo vệ nó. Há chẳng phải tốt hơn nếu đứng ngoài cái mớ hỗn độn này hay sao? Quý vị được phép ôm ấp các quan điểm của Aristotle về sự bất tử của linh hồn với sự nhiệt thành hệt như danh dự và sinh mạng của mình, đồng thời bác bỏ Plato về vấn đề đó — thế nhưng liệu họ có bị cấm đoán việc hoài nghi về ông ta hay không? Nếu việc Pantius duy trì quan điểm của mình về điềm báo, giấc mơ, sấm truyền, những lời tiên tri — những thứ mà phái Khắc kỷ không hề hoài nghi chút nào — là hợp pháp; tại sao một nhà hiền triết lại không dám làm điều tương tự trong tất cả những điều mà ông dám làm đối với những thứ ông đã học từ các bậc thầy của mình, được thiết lập bởi sự đồng thuận chung của trường phái nơi ông là giáo sư và thành viên? Nếu kẻ phán đoán là một đứa trẻ, hắn không biết đó là cái gì; nếu là một nhà hiền triết, hắn đã bị định kiến xâm chiếm. Họ đã dành riêng cho mình một lợi thế kỳ diệu trong chiến trận khi tự giải thoát khỏi gánh nặng phòng thủ. Nếu quý vị đánh họ, họ chẳng quan tâm, miễn là họ cũng đánh trả, và họ biến mọi thứ thành lợi thế của riêng mình. Nếu họ chiến thắng, lập luận của quý vị bị què cụt; nếu quý vị thắng, lập luận của họ bị què cụt; nếu họ thất bại, họ chứng thực cho sự ngu dốt; nếu quý vị thất bại, chính quý vị làm điều đó; nếu họ chứng minh rằng chẳng có gì là được biết, thì thật tốt; nếu họ không thể chứng minh điều đó, cũng rất tốt: Ut quum in eadem re paria contrariis in partibus momenta inveniuntur, facilius ab utraque parte assertio sustineatur; “Rằng khi những cảm xúc tương tự xuất hiện ủng hộ và chống lại cùng một sự vật, sự đồng thuận ở cả hai phía có thể dễ dàng được tạm ngưng hơn.” Và họ tính toán rằng sẽ tìm ra với sự dễ dàng lớn hơn nhiều lý do tại sao một sự việc là sai lầm thay vì tại sao nó là đúng; cái không tồn tại thay vì cái tồn tại; và những gì họ không tin thay vì những gì họ tin. Cách nói của họ là: “Tôi không khẳng định bất cứ điều gì; nó không phải là thế này nhiều hơn thế kia, hoặc chẳng phải cái này cũng chẳng phải cái kia; tôi không hiểu nó. Các biểu hiện đều ngang nhau ở mọi nơi; quy luật phát biểu, ủng hộ hay chống đối, đều là như nhau. Chẳng có gì có vẻ chân lý mà lại không thể có vẻ sai lầm.” Từ khóa thiêng liêng của họ là nghĩa là “Tôi giữ vững, tôi không nhúc nhích.” Đó là điệp khúc của họ và những thứ tương tự khác. Hệ quả của nó là sự tạm ngưng phán đoán một cách thuần túy, trọn vẹn, hoàn hảo và tuyệt đối. Họ sử dụng lý trí của mình để truy vấn và tranh luận, chứ không phải để cố định và quyết định. Bất cứ ai tưởng tượng ra một sự thú nhận vĩnh viễn về sự ngu dốt, một phán đoán không có sự thiên vị, khuynh hướng hay ngả nghiêng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, sẽ hình thành được một ý niệm chân chính về chủ nghĩa Pyrrho. Tôi diễn tả quan niệm này tốt nhất có thể, bởi vì nhiều người cảm thấy khó mường tượng ra nó, và bản thân các tác giả cũng trình bày nó một cách có phần khác biệt và mơ hồ.

Đối với các hành động của đời sống, họ tuân theo trật tự thông thường. Họ nhượng bộ và phó mặc bản thân cho các khuynh hướng tự nhiên, cho sức mạnh và xung lực của các đam mê, cho hiến pháp của luật pháp và phong tục, cũng như cho truyền thống của các ngành nghệ thuật; Non enim nos Deus ista scire, sed tantummodo uti, voluit. “Bởi vì Thiên Chúa không muốn chúng ta thấu hiểu, mà chỉ muốn chúng ta sử dụng những sự vật đó.” Họ để cho các hành động thông thường của mình được dẫn dắt bởi những điều đó mà không có bất kỳ sự tranh chấp hay phán đoán nào. Chính vì lý do đó mà tôi không thể đồng tình với những gì được kể về Pyrrho bởi những kẻ miêu tả ông là một kẻ nặng nề và bất động, dẫn dắt một thứ đời sống dã man và bất hòa, đứng mặc cho xe cộ va quẹt, đi trên mép những vách đá và từ chối thích nghi với luật pháp. Điều đó là phóng đại kỷ luật của ông lên; ông chưa bao giờ biến mình thành một khúc gỗ hay một hòn đá, ông muốn thể hiện mình là một con người bằng xương bằng thịt, biết bàn luận, lý luận, tận hưởng mọi sự tiện nghi và khoái lạc hợp lý, đồng thời tuyển dụng và sử dụng mọi năng lực thể chất lẫn tinh thần của mình trong khuôn khổ quy luật và lý trí. Những đặc quyền hão huyền, tưởng tượng và sai lầm mà con người từng tiếm quyền nắm giữ để làm chúa tể, để ra lệnh và thiết lập, ông đã hoàn toàn từ bỏ và khước từ. Dẫu vậy, chẳng có trường phái nào là không bị buộc phải cho phép nhà hiền triết của mình tuân theo một số thứ chưa được thấu hiểu, chưa được cảm nhận hoặc chưa được chuẩn thuận, nếu ông ta muốn sinh sống. Và nếu ông ta đi biển, ông thực hiện chuyến đi đó mà không hề biết liệu hải trình của mình có thành công hay không; và chỉ bám vào sự chắc chắn của con thuyền, kinh nghiệm của người lái tàu, sự thuận lợi của thời tiết và những hoàn cảnh có xác suất cao tương tự; sau đó ông buộc phải đi và phó mặc bản thân cho sự dẫn dắt của các biểu hiện, miễn là không có sự trái ngược rõ ràng và hiển nhiên trong đó. Ông có thể xác, ông có linh hồn; các giác quan thúc đẩy họ, tâm trí thúc giục họ. Và dẫu cho ông không tìm thấy ở bản thân dấu hiệu xác thực và độc đáo này của sự phán đoán, và nhận thức được rằng mình không nên dính líu đến sự đồng thuận khi xét thấy có những biểu hiện sai lầm có thể tương đương với những biểu hiện chân chính này, ông vẫn không vì thế mà thất bại trong việc thực hiện các sứ mệnh của cuộc đời mình với sự tự do và tiện nghi lớn lao. Có biết bao nhiêu ngành nghệ thuật tuyên bố rằng chúng bao gồm sự phỏng đoán nhiều hơn là tri thức; không quyết định về đúng sai, và chỉ tuân theo những gì có vẻ như thế! Họ nói rằng: có đúng, có sai, và chúng ta có phương tiện trong người để tìm kiếm nó, nhưng không phải để bắt nó đứng lại khi chúng ta chạm vào nó. Chúng ta thận trọng hơn rất nhiều khi để bản thân được điều tiết bởi trật tự của thế giới mà không cần truy vấn. Một tâm hồn trong sạch khỏi định kiến có một bước tiến kỳ diệu hướng tới sự tĩnh lặng và thảnh thơi. Những kẻ phán đoán và kiểm soát các quan tòa của mình không bao giờ quy phục họ một cách đúng đắn.

Những tâm hồn giản dị và tò mò tỏ ra dễ bảo và dễ điều khiển hơn biết bao — bởi cả luật pháp tôn giáo lẫn chính trị xã hội — so với những bộ óc quá ư cảnh giác, những kẻ cứ thích ba hoa bàn tán về các nguyên nhân thần thánh và nhân thế! Không có phát minh nào của con người mang theo dấu hiệu xác suất và tính tiện ích lớn lao như thế này; nó trưng bày con người trong trạng thái trần trụi và trống rỗng, thú nhận sự yếu đuối tự nhiên của mình, sẵn sàng tiếp nhận một lực lượng từ bên ngoài từ trên cao xuống, không có sự hỗ trợ của con người và do đó càng thích hợp hơn để tiếp nhận tri thức thần thánh, chẳng thèm đếm xỉa đến phán đoán của chính mình để nhường thêm không gian cho đức tin; không hoài nghi cũng như không thiết lập bất kỳ giáo điều nào chống lại các quan sát thông thường; khiêm nhường, vâng phục, có thể kỷ luật và hiếu học; là kẻ thù không đội trời chung của dị giáo; và do đó giải thoát bản thân khỏi những quan niệm hão huyền và vô đạo đức được du nhập bởi các giáo phái sai lầm. Đó là một tờ giấy trắng sẵn sàng tiếp nhận những hình thái từ ngón tay của Thiên Chúa tùy theo cách Ngài muốn viết lên đó. Càng từ bỏ và phó mặc bản thân cho Thiên Chúa, càng chối bỏ chính mình, chúng ta càng có giá trị lớn lao hơn. “Hãy vui vẻ đón nhận,” sách Giảng Viên viết, “những sự vật hiện diện trước mắt bạn, theo cách chúng xuất hiện và mang lại hương vị từ miệng đến tay; phần còn lại nằm ngoài sự hiểu biết của bạn.” Dominus novit cogitationes hominum, quoniam vanæ sunt: “Chúa thấu triệt tâm can loài người, rằng chúng chẳng qua chỉ là sự phù phiếm.”

Do đó, chúng ta thấy rằng trong ba trường phái triết học lớn, có hai trường phái công khai tuyên bố về sự hoài nghi và ngu dốt; và trong trường hợp của phái Dogma, trường phái thứ ba, thật dễ dàng để phát hiện ra rằng phần lớn bọn chúng chỉ khoác lên bộ mặt tự tin và chắc chắn này để tạo ra hiệu ứng tốt hơn;

chúng không hẳn muốn thiết lập bất kỳ sự chắc chắn nào cho chúng ta, mà chỉ muốn cho chúng ta thấy chúng đã tiến xa đến đâu trong cuộc tìm kiếm chân lý: Quam docti fingunt magis quam norunt: “Thứ mà các bậc uyên bác thà bịa ra còn hơn là thấu hiểu.” Timaeus, khi chuẩn bị hướng dẫn Socrates về những gì ông biết về các vị thần, thế giới và con người, ngụ ý sẽ nói chuyện với ông như một con người với một con người; và rằng sẽ là đủ nếu các lập luận của ông có xác suất tương tự như của kẻ khác; bởi vì các lập luận chính xác không nằm trong tầm tay của ông hay bất kỳ kẻ phàm trần nào khác — điều này đã được một trong các môn đệ của ông mô tả lại như thế này: Ut potero, explicabo: nec tamen, ut Pythius Apollo, certa ut sint et fixa quæ dixero; sed, ut homunculus, probabilia conjecturâ sequens: “Tôi sẽ giải thích hết sức có thể; dẫu vậy không phải khẳng định chắc chắn hệt như nhà tiên tri Apollo ở Delphi rằng những gì tôi nói là cố định và chắc chắn, mà giống như một kẻ phàm trần tầm thường, theo đuổi những xác suất bằng sự phỏng đoán.” Và điều này, về chủ đề tự nhiên và quen thuộc là sự khinh miệt cái chết; ông từng dịch lại từ chính những lời của Plato jở một nơi khác: Si forte, de Deorum naturâ ortuque mundi disserentes, minus id quod habemus in animo consequimur, haud erit mirum; æquum est enim meminisse, et me, qui disseram, hominem esse, et vos, qui judicetis, ut, si probabilia dicentur, nihil ultra requiratis? “Nếu chẳng may khi chúng ta bàn luận về bản chất của Thiên Chúa và sự khởi nguyên của thế giới, chúng ta không thể làm điều đó như ý muốn, đó sẽ không phải là điều gì quá ngạc nhiên. Bởi vì thật công bằng khi quý vị ghi nhớ rằng cả tôi — kẻ đang diễn thuyết — lẫn quý vị — những kẻ phán đoán — đều là con người; sao cho nếu những điều có xác suất được trình bày, quý vị sẽ chẳng yêu cầu hay kỳ vọng gì hơn thế.” Aristotle thường chất đống một số lượng lớn các quan điểm và niềm tin của những người khác, để so sánh chúng với quan điểm của riêng mình, và cho chúng ta thấy ông đã tiến xa hơn họ bao nhiêu, cũng như tiến đến gần xác suất của chân lý hơn bao nhiêu; bởi vì chân lý không được phán đoán bằng uy quyền và chứng cứ từ kẻ khác; điều đó đã làm cho Epicurus một cách tôn nghiêm tránh né việc trích dẫn họ trong các trước tác của mình. Đây là hoàng tử của tất cả các nhà Dogma, thế nhưng chúng ta lại được ông kể cho nghe rằng càng biết nhiều chúng ta càng có nhiều không gian để hoài nghi. Thực sự, đôi khi chúng ta thấy ông tự ẩn mình và bọc kín trong một màn sương mù dày đặc và bất khả xâm phạm đến mức chúng ta chẳng tài nào hiểu nổi lời khuyên của ông; thực tế đó là một chủ nghĩa Pyrrho dưới hình thái kiên quyết. Hãy lắng nghe lời tuyên bố của Cicero — kẻ diễn giải quan điểm của người khác bằng chính quan điểm của mình: Qui requirunt quid de quoque re ipsi sentiamus, curiosius id faciunt quam necesse est, . . . Hoc in philosophiâ ratio, contra omnia disserendi, nullamque rem aperte judicandi, profecta a Socrate, repetita ab Arcesilâ, confirmata a Carneade, usque ad nostram viget ætatem . . . Hi sumus, qui omnibus veris falsa quodam adjuncta esse dicamus, tanta similitudine, ut in iis nulla insit certæ judicandi et assentiendi nota: “Những kẻ muốn biết chúng ta nghĩ gì về mọi thứ đang tỏ ra tò mò hơn mức cần thiết... Thực hành này trong triết học — chống lại mọi thứ và không bao giờ kết luận rõ ràng bất cứ điều gì — bắt đầu bởi Socrates, được lặp lại bởi Arcesilas và được xác nhận bởi Carneades, tiếp tục được duy trì cho đến tận thời đại của chúng ta... Chúng ta là những kẻ tuyên bố rằng có một sự hòa trộn quá lớn giữa những điều sai lầm trong tất cả những điều chân chính, và chúng giống nhau đến mức không thể có bất kỳ dấu hiệu chắc chắn nào để hướng dẫn chúng ta phán đoán hoặc đồng thuận.” Tại sao không chỉ Aristotle mà hầu hết các triết gia lại cố tình tạo ra sự khó khăn, nếu không phải để nâng cao giá trị cho sự phù phiếm của chủ đề và làm nguôi ngoai sự tò mò của tâm trí chúng ta bằng cách ném cho nó khúc xương rỗng tuếch và trơ trụi này để gặm nhấm? Clitomachus từng khẳng định “rằng ông không bao giờ có thể khám phá ra qua các trước tác của Carneades rằng ông đứng về quan điểm nào.” Đó là điều đã khiến Epicurus cố tình tỏ ra khó hiểu, và đem lại cho Heraclitus biệt danh [—Hy Lạp—] Sự khó hiểu là đồng tiền mà các bậc uyên bác sử dụng, hệt như những kẻ biểu diễn ảo thuật, để che giấu sự phù phiếm trong nghệ thuật của họ, thứ mà sự ngu xuẩn của con người dễ dàng đón nhận như tiền tệ lưu thông.

Cicero quở trách một số người bạn của mình vì đã dành quá nhiều thời gian cho việc nghiên cứu chiêm tinh, logic học và hình học hơn mức giá trị thực sự của chúng; ông nói rằng họ bị chuyển hướng khỏi các bổn phận của cuộc đời và những ngành nghiên cứu hữu ích, thích hợp hơn bởi những thứ đó. Các triết gia phái Cyrene cũng tương tự, khinh miệt vật lý và logic. Zeno, ngay phần mở đầu trong các cuốn sách về nền cộng hòa, đã tuyên bố tất cả các ngành nghệ thuật tự do đều vô dụng. Chrysippus nói “rằng những gì Plato và Aristotle viết về logic, họ chỉ làm thế để giải trí và tập luyện”; và không thể tin rằng họ lại nói một cách nghiêm túc về một thứ phù phiếm như thế. Plutarch cũng nói điều tương tự về siêu hình học. Và Epicurus cũng sẽ nói điều tương tự về hùng biện, ngữ pháp, thơ ca, toán học — ngoại trừ triết học tự nhiên —, đối với tất cả các ngành khoa học; và Socrates đối với tất cả chúng, ngoại trừ môn nghiên cứu về phong cách sống và cách đối nhân xử thế. Bất cứ điều gì ai đó yêu cầu được hướng dẫn bởi ông, ông đều đòi hỏi trước tiên một bản tường trình về các điều kiện trong cuộc sống hiện tại và quá khứ của kẻ đó, rồi kiểm tra và phán đoán chúng, đánh giá mọi tri thức khác là thứ yếu và thừa thãi: Parum mihi placent eæ litteræ quæ ad virtutem doctoribus nihil profuerunt: “Học thức đó nằm ở vị trí ít được đánh giá cao với tôi, thứ chẳng đem lại lợi ích gì cho chính các đạo sư về mặt đức hạnh.” Hầu hết các ngành nghệ thuật cũng bị bài bác bởi chính thứ kiến thức tương tự; nhưng họ không cân nhắc rằng việc rèn luyện trí tuệ của mình vào những vấn đề không có lợi ích vững chắc là đi ngược lại mục đích.

Về phần còn lại, một số người coi Plato là một nhà Dogma, số khác coi ông là một kẻ hoài nghi, số khác nữa ở một số điểm là thế này, ở một số điểm khác là thế kia. Socrates — người dẫn dắt các cuộc đối thoại của ông — vĩnh viễn đặt ra các câu hỏi và khuấy động tranh chấp, không bao giờ đưa ra quyết định, không bao giờ làm cho người ta thỏa mãn, và tuyên bố mình không có tri thức nào khác ngoài tri thức phản đối chính mình. Homer — tác giả của họ — đã đặt ra nền tảng cho tất cả các trường phái triết học một cách ngang bằng, để cho thấy việc chúng ta chọn con đường nào là hoàn toàn không quan trọng. Người ta nói rằng có tới mười trường phái khác nhau xuất phát từ Plato; thế nhưng theo quan điểm của tôi, chưa từng có một hệ thống hướng dẫn nào lại vấp váp và khựng lại nếu hệ thống của ông không làm thế.

Socrates từng nói rằng các bà mụ, khi đảm nhận nghề giúp kẻ khác sinh nở, đã từ bỏ nghề sinh nở của chính mình; và rằng qua danh hiệu nhà hiền triết được các vị thần ban tặng, ông bị tước bỏ khả năng sinh nở trong tình yêu nam nữ lẫn tinh thần, chỉ bằng lòng giúp đỡ và hỗ trợ những kẻ có thể; để khai mở bản chất của họ, xoa dịu các đường đi và tạo điều kiện cho việc sinh nở của họ; để phán đoán đứa trẻ, làm phép rửa, nuôi dưỡng, gia cố, quấn tã và cắt bao quy đầu — rèn luyện và sử dụng sự hiểu biết của mình vào những hiểm họa và vận mệnh của người khác.

Sự việc cũng diễn ra tương tự với phần lớn loại tác giả thứ ba này, như các bậc tiền bối từng quan sát thấy trong các trước tác của Anaxagoras, Democritus, Parmenides, Xenophanes và nhiều người khác. Họ có một phong cách viết hoài nghi cả về bản chất lẫn mục đích, thiên về truy vấn hơn là giảng dạy, mặc dù họ pha trộn phong cách của mình với một số giai đoạn mang tính giáo điều. Há chẳng phải điều tương tự cũng được nhìn thấy ở Seneca và Plutarch hay sao? Có biết bao nhiêu mâu thuẫn được tìm thấy nếu người ta soi mói chúng một cách kỹ lưỡng! Nhiều đến mức các luật sư chuyên giải quyết tranh chấp lẽ ra phải đi hòa giải từng người trong số họ với chính bản thân họ trước tiên. Plato dường như có ý định tạo ra phương pháp triết lý bằng các cuộc đối thoại này; nhằm mục đích có thể chuyển tải sự đa dạng và phong phú trong những quan niệm của riêng mình một cách đứng đắn hơn từ nhiều cái miệng khác nhau. Việc bàn luận về các sự việc theo nhiều cách khác nhau cũng tốt hệt như việc bàn luận về chúng một cách đồng nhất, và tốt hơn — nghĩa là phong phú hơn và mang lại nhiều lợi ích hơn. Hãy lấy ví dụ từ chính chúng ta: các phán đoán chính là điểm tột cùng của mọi cách phát ngôn mang tính giáo điều và quyết định; dẫu vậy những phán quyết mà nghị viện của chúng ta ban hành cho dân chúng, những phán quyết mang tính gương mẫu nhất và thích hợp nhất để nuôi dưỡng sự tôn kính đối với phẩm giá đó chủ yếu thông qua năng lực của các cá nhân thực hiện, không lấy vẻ đẹp của chúng từ phần kết luận — thứ vốn diễn ra hằng ngày và thông thường đối với mọi thẩm phán —, mà từ sự tranh chấp và sức nóng của các lập luận đa dạng, trái ngược mà vấn đề pháp lý và công lý cho phép. Và lĩnh vực lớn nhất để quở trách mà một số triết gia dành cho những kẻ khác được rút ra từ sự đa dạng và mâu thuẫn nơi mỗi người trong số họ tự vướng vào, hoặc do cố ý để cho thấy sự dao động của tâm trí con người đối với mọi sự vật, hoặc bị buộc phải làm thế một cách vô thức bởi tính bất định và sự bất khả thấu hiểu của vạn vật — đó chính là ý nghĩa của châm ngôn: “Tại nơi trơn trượt và dễ ngã, hãy tạm ngưng niềm tin của chúng ta”; bởi vì như Euripides đã nói: —

Giống như điều mà Empedocles — hệt như bị cuốn đi bởi một cơn cuồng nộ thần thánh, và bị ép buộc bởi chân lý — thường rải rác khắp các trước tác của mình: “Không, không, chúng ta chẳng cảm nhận được gì, chúng ta chẳng nhìn thấy gì; mọi thứ đều bị che giấu khỏi chúng ta; chẳng có lấy một sự vật nào mà chúng ta có thể khẳng định tích cực rằng nó là gì”; phù hợp với lời phán thiêng liêng: Cogitationes mortalium timidæ, et incertæ adinventiones nostræ et providentiæ. “Bởi vì những suy nghĩ của phàm nhân vốn đầy hoài nghi; và những mưu tính của chúng ta chẳng qua chỉ là sự bất định.” Sẽ không là lạ nếu con người, tuyệt vọng trong việc đuổi kịp những gì mình săn đuổi, vẫn không đánh mất niềm vui của cuộc săn; việc học tập tự bản thân nó đã là một công việc vô cùng thú vị; và thú vị đến mức trong số các khoái lạc, phái Khắc kỷ cấm đoán cả khoái lạc xuất phát từ việc rèn luyện tâm trí, bắt nó phải kìm chế và tìm thấy một thứ tính bất kham trong việc biết quá nhiều.

Democritus sau khi ăn vả tại bàn ăn của mình và nhận thấy chúng có vị ngọt của mật ong, liền lập tức ngẫm nghĩ xem những quả vả bất thường đó lấy đâu ra vị ngọt ấy; và để thỏa mãn điều đó, ông toan đứng dậy khỏi bàn ăn để đi xem nơi những quả vả được hái; cô hầu gái nhận thấy điều đó, và sau khi hiểu ra nguyên nhân, mỉm cười bảo rằng “ông không cần phải bận tâm về điều đó, bởi vì cô đã bỏ chúng vào một cái bình từng đựng mật ong.” Ông cảm thấy bực bội trước phát hiện này, vì cô đã tước đi cơ hội truy vấn và cướp mất đề tài để trí tò mò của ông hoạt động: “Hãy đi đi,” ông nói, “ngươi vừa gây tổn thương cho ta; nhưng dẫu vậy, ta vẫn sẽ tìm kiếm nguyên nhân hệt như nó là tự nhiên”; và ông sẵn sàng tìm ra một lý do chân chính nào đó cho một hiệu ứng sai lầm và tưởng tượng. Câu chuyện về một triết gia nổi tiếng và vĩ đại này mô tả một cách vô cùng rõ ràng cho chúng ta thấy niềm đam mê hiếu học đẩy chúng ta dấn thân vào cuộc truy tìm những sự vật mà ta tuyệt vọng trong việc thụ đắc. Plutarch đưa ra một ví dụ tương tự về một kẻ không muốn được thỏa mãn trong điều mà ông ta đang hoài nghi, để không đánh mất niềm vui khi truy vấn về nó; giống như một kẻ không muốn y sĩ làm dịu đi cơn khát của cơn sốt, cốt để không đánh mất niềm vui khi giải khát bằng việc uống nước. Satius est supervacua discere, quam nihil. “Thà học những thứ thừa thãi còn hơn là chẳng học gì cả.” Hệt như trong mọi loại ăn uống, niềm vui khi ăn thường chỉ đứng một mình và đơn độc, và những gì chúng ta nạp vào — dù dễ chịu cho khẩu vị — không phải lúc nào cũng nuôi dưỡng hoặc lành mạnh; thì những gì tâm trí chúng ta chắt lọc từ khoa học cũng không kém phần thú vị, dẫu cho chẳng có chút dinh dưỡng hay sự lành mạnh nào trong đó. Do đó họ nói rằng: “Sự chiêm nghiệm về tự nhiên là một chế độ ăn uống thích hợp cho tâm trí chúng ta, nó nâng bổng và đưa chúng ta lên cao, khiến chúng ta khinh miệt những thứ thấp hèn và trần thế bằng cách so sánh chúng với những thứ thuộc về thiên đàng và cao cả. Sự truy vấn thuần túy vào những điều vĩ đại và huyền bí mang lại niềm vui lớn lao, ngay cả đối với những ai không thu nhận được lợi ích nào khác ngoài sự tôn kính và nỗi sợ hãi khi phán đoán về nó.” Đó là những gì họ tuyên bố. Hình ảnh phù phiếm của sự tò mò bệnh hoạn này càng trở nên rõ ràng hơn trong ví dụ tiếp theo mà họ thường xuyên viện dẫn. “Eudoxus cầu xin các vị thần cho phép ông được một lần nhìn tận mắt mặt trời ở khoảng cách gần, để thấu hiểu hình thái, kích thước và vẻ đẹp của nó; dẫu cho ông có thể ngay lập tức bị thiêu rụi bởi điều đó.” Ông thà đánh đổi sinh mạng của mình để mua lấy một tri thức mà việc sử dụng và sở hữu nó sẽ bị tước đoạt ngay cùng thời điểm đó; và vì tri thức đột ngột vụt tắt này mà đánh mất toàn bộ tri thức khác mà ông đang có hoặc có thể đã thu nhận được sau đó.

Tôi không dễ dàng thuyết phục bản thân rằng Epicurus, Plato và Pythagoras đã trao cho chúng ta các khái niệm nguyên tử, ý niệm và con số của họ như một thứ tiền tệ lưu thông. Họ quá khôn ngoan để thiết lập các điều khoản đức tin dựa trên những thứ quá mức tranh cãi và bấp bênh. Nhưng trong bóng tối và sự ngu dốt mà thế giới chìm đắm lúc bấy giờ, mỗi một trong số những vĩ nhân này đã nỗ lực trình bày một hình ảnh hay sự phản chiếu nào đó của ánh sáng, và vắt óc suy nghĩ để tìm ra những phát minh mang lại vẻ ngoài thú vị và tinh tế; miễn là, dẫu cho là sai lầm, chúng vẫn có thể giữ vững lập trường của mình trước những kẻ muốn chống lại chúng. Unicuique ista pro ingenio finguntur, non ex scientiæ vi: “Những điều này mỗi kẻ tự mượn tư chất của mình để bịa ra, chứ không phải bằng bất kỳ sức mạnh tri thức nào.”

Một trong số các bậc tiền bối — người bị quở trách rằng “ông tuyên bố theo đuổi triết học nhưng trong phán đoán của chính mình lại chẳng đánh giá cao nó” —, đã đáp rằng: “Đó mới thực sự là triết lý.”

Họ muốn xem xét mọi thứ, cân nhắc mọi thứ, và thấy rằng đó là một công việc vô cùng phù hợp với sự tò mò tự nhiên của chúng ta. Một số thứ họ viết vì lợi ích của xã hội công cộng, chẳng hạn như tôn giáo của họ; và xét đến điều đó, việc họ không kiểm tra các quan điểm công khai một cách tận gốc là điều hoàn toàn hợp lý, để không làm xáo trộn sự vâng phục chung đối với luật pháp và phong tục của đất nước họ.

Plato bàn về bí ẩn này với một sự chế giễu đủ rõ ràng; bởi vì nơi nào ông viết theo phương pháp của riêng mình, ông không đưa ra quy luật chắc chắn nào cả. Khi đóng vai nhà lập pháp, ông mượn một phong cách mang tính độc đoán và tích cực, rồi táo bạo nhét vào đó những phát minh quái đản nhất của mình, xem chúng thích hợp để thuyết phục quần chúng, dẫu cho bất khả thi để chính ông tin tưởng; bởi vì ông thừa hiểu chúng ta dễ tiếp nhận mọi loại ấn tượng đến nhường nào, đặc biệt là những thứ quá đà và ngớ ngẩn nhất; thế nhưng trong tác phẩm Luật pháp của mình, ông đặc biệt cẩn trọng đảm bảo rằng không có gì được cất tiếng hát nơi công cộng ngoài thơ ca — thứ có các mối quan hệ hư cấu và thần thoại hướng đến một kết thúc có lợi nào đó; bởi vì việc khắc sâu mọi loại ảo ảnh vào tâm trí con người là quá dễ dàng, đến mức sẽ là bất công nếu không nuôi dưỡng họ bằng những điều không có thật mang tính có lợi thay vì những điều không có thật mang tính vô ích và có hại. Ông nói một cách thẳng thừng trong cuốn Cộng hòa rằng: “Đừng ngần ngại lừa dối con người khi điều đó mang lại lợi ích cho họ.” Thật dễ dàng để phân biệt rằng một số trường phái tuân theo chân lý nhiều hơn, còn số khác tuân theo tính hữu ích — nhờ đó mà nhóm sau giành được uy tín của mình. Đó chính là sự khốn khổ trong điều kiện của chúng ta khi thường xuyên có những thứ xuất hiện trước trí tưởng tượng mang tính chân chính nhất lại không hề tỏ ra hữu ích nhất cho cuộc sống. Những trường phái táo bạo nhất, như Epicurus, Pyrrho và Viện hàn lâm mới, vẫn bị buộc phải khuất phục trước luật pháp dân sự vào cuối chặng đường.

Có những chủ đề khác mà họ lật tung và tung hứng, kẻ bên phải người bên trái, ai nấy đều nỗ lực — đúng hay sai — để ban cho chúng một màu sắc nào đó; bởi vì không tìm thấy thứ gì quá mơ hồ mà họ không dám bàn tới, họ thường xuyên bị buộc phải ngụy tạo ra những phỏng đoán yếu ớt và nực cười — không phải vì chính họ coi đó là nền tảng hay thiết lập nên một chân lý chắc chắn nào, mà thuần túy chỉ để rèn luyện. Non tam id sensisse quod dicerent, quam exercere ingenia materiæ difficultate videntur voluisse: “Họ dường như không hẳn tự mình tin tưởng vào những gì họ nói, mà muốn rèn luyện trí tuệ của mình trong độ khó của vấn đề.” Và nếu chúng ta không hiểu theo cách đó, làm thế nào chúng ta có thể biện minh cho sự bất định, sự đa dạng và sự phù phiếm lớn lao đến thế trong các quan điểm, như chúng ta thấy được sản sinh bởi những con người xuất sắc và đáng ngưỡng mộ đó? Chẳng hạn, có điều gì có thể phù phiếm hơn việc tưởng tượng ra, phỏng đoán về Thiên Chúa thông qua các phép loại suy và phỏng đoán của chúng ta? Để điều khiển và cai quản Ngài cùng thế giới bằng năng lực và luật pháp của chúng ta? Và để phục vụ bản thân với cái chi phí trích từ đấng thần linh — với một phần năng lực ít ỏi mà Ngài đã đoái thương ban phát cho điều kiện tự nhiên của chúng ta — và bởi vì chúng ta không thể mở rộng tầm nhìn đến ngai vàng vinh quang của Ngài, chúng ta lại lôi Ngài giáng hạ xuống sự đồi trụy và những nỗi khốn khổ của mình?

Trong số tất cả các quan điểm phàm trần và cổ xưa về tôn giáo, quan điểm có vẻ hợp lý nhất và dễ được tha thứ nhất đối với tôi là quan điểm công nhận Thiên Chúa như một quyền năng bất khả thấu hiểu, cội nguồn và đấng bảo tồn vạn vật, toàn thiện, toàn bích, đón nhận và hoan hỉ trước sự tôn kính cũng như lòng thành kính mà con người dâng lên Ngài, dưới bất kỳ phương pháp, danh xưng hay nghi lễ nào —

Lòng nhiệt thành này đã được nhìn nhận từ thiên đàng bằng một ánh nhìn đầy ân sủng. Mọi chính phủ đều gặt hái thành quả từ lòng sùng kính của họ; những con người và hành động vô đạo đức luôn có kết quả tương ứng ở khắp mọi nơi. Các trang sử ngoại giáo thừa nhận phẩm giá, trật tự, công lý, những điềm báo và sấm truyền được sử dụng vì lợi ích và sự hướng dẫn của họ trong các tôn giáo thần thoại của họ; Thiên Chúa, qua lòng thương xót của Ngài, đã đoái thương — thông qua những lợi ích tạm thời này — nâng niu những mầm mống mỏng manh của một dạng thức kiến thức thú vật mà lý trí tự nhiên đã ban cho họ về Ngài, thông qua những hình ảnh lừa dối từ những giấc mơ của họ. Không chỉ lừa dối và sai trái, mà còn vô đạo đức và mang tính xúc phạm chính là những thứ do con người tự ngụy tạo ra từ phát minh của riêng mình; và trong số tất cả các tôn giáo mà thánh Phaolô tìm thấy có uy tín tại Athens, tôn giáo được họ dâng hiến “cho vị thần vô danh” có vẻ là thứ dễ được tha thứ nhất.

Pythagoras bóng gió về chân lý một cách gần gũi hơn một chút khi phán đoán rằng tri thức về nguyên nhân đầu tiên và bản thể của các bản thể này phải mang tính bất định, không giới hạn, không tuyên bố; rằng nó chẳng là gì khác ngoài nỗ lực tột cùng của trí tưởng tượng chúng ta hướng tới sự hoàn hảo, mỗi cá nhân tự phóng đại ý niệm tùy theo tài năng trong năng lực của mình. Nhưng nếu Numa mưu toan điều chỉnh lòng sùng kính của dân chúng theo dự án này; gắn kết họ với một tôn giáo thuần túy mang tính tinh thần, không có bất kỳ đối tượng được định sẵn hay sự pha trộn vật chất nào, ông đã thực hiện một công việc vô ích; tâm trí con người không bao giờ có thể tự duy trì nổi khi trôi dạt trong một sự vô tận của những tư tưởng vô hình; cần phải có một hình ảnh xác định nào đó được trưng bày tùy theo mô hình của chính nó. Do đó, sự uy nghiêm thần thánh đã tự cho phép mình bị bao bọc trong những giới hạn thể xác vì lợi ích của chúng ta. Các bí tích siêu nhiên và thiên đàng của Ngài mang những dấu hiệu của điều kiện trần thế chúng ta; sự tôn thờ Ngài được thực hiện bằng các văn phòng và ngôn từ hữu hình; bởi vì chính con người mới là kẻ tin tưởng và cầu nguyện. Tôi sẽ bỏ qua các lập luận khác về chủ đề này; nhưng sẽ rất khó để ai đó làm cho tôi tin rằng cảnh tượng của những cây thánh giá, bức tranh về cuộc khổ nạn của Đấng Cứu Thế, các vật trang trí và chuyển động mang tính nghi lễ trong các nhà thờ của chúng ta, những giọng nói thích ứng với lòng sùng kính trong các suy nghĩ, cùng sự xao động của các giác quan — không làm ấm áp tâm hồn quần chúng bằng một niềm đam mê tôn giáo mang lại hiệu quả vô cùng hữu ích.

Trong số những đối tượng mà người ta gán cho một thân xác, theo sự bức thiết đòi hỏi trong sự mù quáng phổ biến đó, tôi có lẽ sẽ nghiêng về những kẻ tôn thờ mặt trời hơn cả: —

bởi vì bên cạnh sự vĩ đại và vẻ đẹp của nó, đó là mảnh duy nhất của cỗ máy này mà chúng ta khám phá được ở khoảng cách xa xôi nhất; và do đó nó quá ít được biết đến đến mức họ xứng đáng được tha thứ khi bước vào sự ngưỡng mộ và tôn kính lớn lao đối với nó.

Thales — kẻ đầu tiên truy vấn về loại vấn đề này — tin rằng Thiên Chúa là một Linh hồn đã tạo nên vạn vật từ nước; Anaximander tin rằng các vị thần luôn chết đi và bước vào sự sống lại, đồng thời có vô số thế giới; Anaximenes tin rằng không khí chính là Thiên Chúa, Ngài được sinh ra và vô hạn, luôn luôn chuyển động. Anaxagoras — kẻ đầu tiên — có quan điểm rằng sự mô tả và cách thức của vạn vật được điều khiển bởi quyền lực và lý trí của một linh hồn vô hạn. Alcmaeon ban phát tính thần thánh cho mặt trời, mặt trăng, các vì sao và linh hồn. Pythagoras biến Thiên Chúa thành một linh hồn được trải rộng khắp bản chất của vạn vật, từ đó linh hồn của chúng ta được trích xuất; Parmenides xem Ngài là một vòng tròn bao quanh bầu trời và hỗ trợ thế giới bằng sức nóng của ánh sáng. Empedocles tuyên bố bốn nguyên tố — từ đó vạn vật được cấu thành — chính là các vị thần; Protagoras chẳng có gì để nói về việc liệu chúng có tồn tại hay không, hay chúng là cái gì; Democritus lúc thì có quan điểm rằng các hình ảnh và sự tuần hoàn của chúng là các vị thần; lúc khác thì cho rằng bản chất phóng thích ra những hình ảnh đó; rồi đến tri thức và sự thông hiểu của chúng ta. Plato phân chia niềm tin của mình thành nhiều quan điểm; ông nói trong tác phẩm Timaeus rằng Cha đẻ của Thế Giới không thể được đặt tên; trong tác phẩm Luật pháp rằng con người không được phép tìm hiểu về bản thể của Ngài; và ở một nơi khác, ngay trong chính những cuốn sách đó, ông biến thế giới, bầu trời, các vì sao, mặt đất và linh hồn của chúng ta thành các vị thần; hơn thế nữa, chấp nhận cả những vị thần được tiếp nhận bởi thể chế cổ xưa trong mỗi nước cộng hòa.

Xenophon tường thuật một sự bối rối tương tự trong học thuyết của Socrates; lúc thì cho rằng con người không được phép tìm hiểu hình thái của Thiên Chúa, rồi ngay sau đó lại bảo vệ quan điểm rằng mặt trời là Thiên Chúa, linh hồn là Thiên Chúa; rằng chỉ có một vị Thiên Chúa duy nhất, rồi lại bảo có rất nhiều vị. Speusippus — cháu trai của Plato — xem Thiên Chúa là một quyền lực nào đó cai quản vạn vật, và Ngài có một linh hồn. Aristotle lúc thì nói đó là linh hồn, lúc thì là thế giới; lúc thì ban cho thế giới một vị chủ nhân khác, lúc thì biến Thiên Chúa thành sức nóng của bầu trời. Xenocrates tạo ra tám vị thần, năm vị được đặt tên trong số các hành tinh; vị thứ sáu được cấu thành từ tất cả các vì sao cố định hệt như vô số bộ phận; vị thứ bảy và thứ tám là mặt trời và mặt trăng. Heraclides Ponticus chẳng làm gì ngoài việc trôi dạt trong quan điểm của mình, và cuối cùng tước đi tri giác của Thiên Chúa rồi bắt Ngài chuyển từ hình thái này sang hình thái khác, để rồi cuối cùng kết luận đó là bầu trời và mặt đất. Theophrastus lang thang trong sự bất định tương tự giữa các quan niệm của ông, quy quyền giám sát thế giới lúc thì cho sự thông hiểu, lúc thì cho bầu trời, lúc thì cho các vì sao. Strato nói đó là tự nhiên, bởi vì nàng sở hữu quyền năng sinh sản, gia tăng và suy giảm mà không có hình thái lẫn cảm xúc. Zeno nói đó là luật lệ của tự nhiên, ra lệnh điều thiện và cấm đoán điều điều ác — luật lệ đó chính là một sinh vật; và ông tước bỏ các vị thần quen thuộc như Jupiter, Juno và Vesta. Diogenes Apolloniates nói đó là không khí. Xenophanes xem Thiên Chúa là hình tròn, có thể nhìn và nghe, không thở, và chẳng có điểm gì chung với bản chất con người. Aristo nghĩ rằng hình thái của Thiên Chúa là bất khả thấu hiểu, tước đi tri giác của Ngài, và không biết Ngài là một sinh vật hay thứ gì khác; Cleanthes lúc thì giả định đó là lý trí, lúc thì là thế giới, lúc thì là linh hồn của tự nhiên, rồi đến sức nóng tối cao cuộn tròn và bao quanh vạn vật. Perseus — môn đệ của Zeno — có quan điểm rằng con người đã ban phát danh hiệu các vị thần cho những ai hữu ích và đem lại bất kỳ lợi ích đáng kể nào cho đời sống con người, thậm chí cho cả những thứ hữu ích. Chrysippus tạo ra một đống hỗn độn từ tất cả các lý thuyết trước đó, và liệt kê trong số hàng ngàn hình thái thần linh mà ông tạo ra cả những con người đã được phong thần. Diagoras và Theodorus thẳng thừng phủ nhận sự tồn tại của bất kỳ vị thần nào. Epicurus tạo ra các vị thần rực rỡ, trong suốt và có thể xuyên thấu, được tá túc hệt như giữa hai pháo đài, giữa hai thế giới, được an toàn khỏi các cú đòn, khoác lên mình hình thái con người và với những bộ phận hệt như chúng ta — những bộ phận hoàn toàn vô dụng đối với họ: —

Hãy tin vào triết học của quý vị đi, thưa các bậc thầy; và khoác lác rằng quý vị đã tìm thấy hạt đậu trong chiếc bánh khi nhìn thấy cái mớ hỗn độn này với vô số các bộ óc triết học! Sự bối rối của ngần ấy hình thái trần thế đã thu hút tôi ở điểm này: những phong cách sống và quan điểm trái ngược với tôi không làm tôi khó chịu bằng việc chúng dạy bảo tôi; chúng không làm tôi kiêu ngạo nhiều bằng việc làm tôi khiêm nhường khi so sánh chúng. Và bất kỳ sự lựa chọn nào khác ngoài thứ xuất phát từ bàn tay trực tiếp và rõ ràng của Thiên Chúa đều đối với tôi là một sự lựa chọn có rất ít đặc quyền. Các hệ thống chính trị trên thế giới này không hề đối lập nhau ít hơn về chủ đề này so với các trường phái triết học, qua đó chúng ta có thể hiểu rằng ngay cả số phận cũng không biến đổi và bất định hơn, cũng không mù quáng và vô tâm hơn lý trí của chúng ta. Những thứ ít được biết đến nhất lại là những thứ thích hợp nhất để được phong thần; do đó việc tự biến mình thành các vị thần, như người xưa từng làm, vượt qua cả sự yếu đuối tột cùng của nhận thức. Tôi thà đi theo những kẻ tôn thờ con rắn, con chó hay con bò; bởi vì bản chất và bản thể của chúng ít được chúng ta biết đến hơn, và chúng ta có nhiều không gian hơn để mường tượng ra những gì mình muốn về những con vật đó, cũng như gán cho chúng những năng lực phi thường. Nhưng việc biến những con người có cùng điều kiện với chúng ta thành các vị thần — những kẻ mà lẽ ra chúng ta phải biết rõ các khiếm khuyết của họ; rồi gán cho họ ham muốn, sự giận dữ, sự trả thù, hôn nhân, sinh sản, liên minh, tình yêu, sự ghen tuông, các bộ phận và xương cốt của chúng ta, những cơn sốt và khoái lạc cùng cái chết và tang lễ của chúng — điều đó chắc chắn phải xuất phát từ một sự say xỉn kỳ diệu trong nhận thức của con người:

Formæ, ætates, vestitus, ornatus noti sunt; genera, conjugia, cognationes, omniaque traducta ad similitudinem imbecillitatis humanæ: nam et perturbatis animis inducuntur; accipimus enim deorum cupiditates, ægritudines, iracundias; “Hình thái, độ tuổi, y phục, trang sức của họ đều đã rõ: nguồn gốc, hôn nhân, họ hàng, và tất cả đều được thích ứng theo sự mô phỏng sự yếu đuối của con người: bởi vì họ được miêu tả với những tâm tư lo âu; và chúng ta đọc được về những ham muốn, bệnh tật và sự giận dữ của các vị thần”; như thể việc gán tính thần thánh không chỉ cho đức tin, đức hạnh, danh vọng, sự hòa hợp, tự do, chiến thắng và lòng sùng kính; mà còn cho cả sự khoái lạc, sự lừa dối, cái chết, sự đố kỵ, tuổi già, sự khốn khổ; cho sự sợ hãi, cơn sốt, vận rủi và những tai họa khác của kiếp sống phỏng chừng và tạm bợ của chúng ta: —

Người Ai Cập, với một sự thận trọng trơ trẽn, cấm đoán dưới hình phạt treo cổ việc bất kỳ ai dám nói rằng các vị thần của họ — Serapis và Isis — từng là con người; thế nhưng chẳng ai là không biết họ từng là như thế; và những pho tượng của họ, được miêu tả với ngón tay đặt lên miệng, biểu thị — theo Varro — sắc lệnh huyền bí đó cho các tư tế của họ nhằm che giấu nguồn gốc phàm trần của họ, bởi vì điều đó sẽ làm tiêu tan toàn bộ sự tôn kính được dâng lên cho họ theo hệ quả tất yếu. Thấy rằng con người quá khao khát được san bằng mình với Thiên Chúa, Cicero nói rằng hắn thà làm tốt hơn khi thu hút những điều kiện thần thánh đó về phía mình và kéo chúng xuống tận cõi dưới, còn hơn là đẩy sự đồi trụy và khốn khổ của mình lên cao tột đỉnh; nhưng nếu nói cho đúng, hắn đã thực hiện cả hai điều đó theo nhiều cách, với cùng một sự phù phiếm trong quan điểm.

Khi các triết gia mổ xẻ một cách tỉ mỉ hệ thống tôn ti trật tự của các vị thần của họ, và làm ầm ĩ lên trong việc phân biệt các mối liên minh, chức vụ và quyền lực của chúng, tôi không thể tin rằng họ nói đúng như những gì họ nghĩ. Khi Plato mô tả khu vườn của Pluto cho chúng ta, cùng những sự tiện nghi thể xác hoặc nỗi đau đớn chờ đợi chúng ta sau sự sụp đổ và tiêu diệt của thể xác, rồi thích ứng chúng với cảm giác mà chúng ta có trong đời sống này: —

khi Mahomet hứa hẹn với các tín đồ của mình một thiên đường được treo thảm, dát vàng và tráng men bằng vàng lẫn đá quý, được trang bị những cô nàng đẹp tuyệt trần, rượu vang hiếm và những món ăn tinh tế; người ta dễ dàng nhận ra đó là những kẻ lừa đảo thích ứng các lời hứa của chúng với tính nhục dục của chúng ta, để thu hút và quyến rũ chúng ta bằng những hy vọng và quan điểm phù hợp với ham muốn phàm trần của mình. Dẫu vậy, một số kẻ trong chúng ta cũng sa vào sai lầm tương tự khi hứa hẹn với bản thân sau sự phục sinh một cuộc đời trần thế và tạm bợ, đi kèm với đủ loại tiện nghi và khoái lạc trần gian. Liệu chúng ta có thể tin rằng Plato — con người có những khái niệm thiên đàng nhường ấy, và vô cùng am hiểu về Thần Tính đến mức từ đó mang lại danh xưng Plato Thần Thánh — từng nghĩ rằng sinh vật tội nghiệp con người lại có bất kỳ thứ gì trong mình áp dụng được cho quyền lực bất khả thấu hiểu đó hay không? Và rằng ông tin tưởng những nắm bắt yếu ớt mà chúng ta có thể làm được là đủ khả năng, hay sức mạnh trí tuệ của chúng ta là đủ để tham gia vào phúc lạc hoặc những cực hình vĩnh cửu? Chúng ta khi ấy nên nói với ông từ lý trí con người rằng: “Nếu những khoái lạc mà ông hứa hẹn với chúng ta ở thế giới bên kia có cùng loại với những gì tôi từng tận hưởng ở cõi dưới này, điều đó chẳng có điểm gì chung với sự vô tận; dẫu cho tất cả năm giác quan tự nhiên của tôi có được chất ngập khoái lạc, và linh hồn tôi tràn đầy mọi sự thỏa mãn mà nó có thể hy vọng hoặc khao khát, chúng ta đều biết tất cả những điều đó rốt cuộc là gì, tất cả những thứ đó sẽ chẳng là gì cả; nếu có bất kỳ điều gì của tôi ở đó, sẽ chẳng có gì mang tính thần thánh; nếu đây không là gì hơn những gì có thể thuộc về điều kiện hiện tại của chúng ta, nó không thể có bất kỳ giá trị nào. Mọi sự thỏa mãn của phàm nhân đều là phàm trần. Ngay cả tri thức về cha mẹ, con cái và bạn bè của chúng ta, nếu điều đó có thể tác động và làm chúng ta thích thú ở thế giới bên kia, nếu đó vẫn tiếp tục là một sự thỏa mãn đối với chúng ta ở đó, chúng ta vẫn mãi mắc kẹt trong những tiện nghi trần thế và hữu hạn. Chúng ta không thể thấu hiểu một cách đúng đắn sự vĩ đại của những lời hứa hẹn cao cả và thiêng liêng này, nếu chúng ta có thể phần nào thấu hiểu chúng; để có một trí tưởng tượng xứng đáng về chúng, chúng ta phải tưởng tượng ra chúng là điều bất khả mường tượng, bất khả giải thích và bất khả thấu hiểu, và hoàn toàn là một thứ khác biệt so với những trải nghiệm khốn khổ của chúng ta.” Thánh Phaolô đã nói: “Mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe, và lòng người chưa từng mường tượng nổi những gì Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Ngài.” Và nếu, để làm cho chúng ta đủ điều kiện, bản thể của chúng ta được cải tổ và thay đổi (như ông nói, hệt như Plato, thông qua các cuộc thanh tẩy của ông), thì đó phải là một sự thay đổi hoàn toàn và triệt để đến mức theo học thuyết vật lý, đó không còn là chúng ta nữa: —

đó phải là một thứ gì đó khác tiếp nhận những phần thưởng đó: —

Bởi vì trong học thuyết luân hồi của Pythagoras, và sự thay đổi nơi ở mà ông mường tượng ở các linh hồn, liệu chúng ta có thể tin rằng con sư tử — nơi linh hồn của Caesar bị giam cầm — lại ôm ấp những đam mê của Caesar, hay con sư tử chính là Caesar? Bởi vì nếu đó vẫn là Caesar, những kẻ tranh luận quan điểm này với Plato sẽ hoàn toàn có lý khi quở trách ông rằng người ta có thể nhìn thấy con trai cưỡi lên người mẹ đã biến thành một con lừa, và những điều phi lý tương tự. Và liệu chúng ta có thể tin rằng trong các cuộc biến đổi được thực hiện trên thể xác của muông thú thành những thể xác khác cùng loài, những kẻ đến sau không phải là những kẻ khác so với những kẻ tiền nhiệm hay sao? Từ tro tàn của một con phượng hoàng, người ta nói rằng một con sâu được sinh ra, và từ đó sinh ra một con phượng hoàng khác; ai có thể tưởng tượng rằng con phượng hoàng thứ hai này chính là con đầu tiên? Chúng ta thấy những con tằm của mình dường như chết đi và héo mòn; và từ thể xác héo mòn đó một con bướm được sản sinh; và từ đó lại một con sâu khác; thật là nực cười biết bao khi tưởng tượng rằng đó vẫn là con đầu tiên! Thứ một khi đã chấm dứt sự tồn tại sẽ không còn nữa: —

Và Plato, khi ông nói ở một nơi khác rằng phần tâm linh của con người sẽ là thứ tham gia vào sự thụ hưởng phần thưởng của đời sau, ông đang nói với chúng ta một điều có rất ít vẻ ngoài của sự thật: —

bởi vì theo cách tính này, sẽ không còn là con người, và do đó không phải là chúng ta, là những kẻ tham gia vào sự thụ hưởng đó; bởi vì chúng ta được cấu thành từ hai bộ phận cốt lõi chủ chốt, sự tách rời giữa chúng chính là cái chết và sự hủy diệt đối với bản thể của chúng ta: —

chúng ta không thể nói rằng con người phải chịu đau khổ khi lũ giun sán gặm nhấm các bộ phận của hắn, và đất đai tiêu thụ chúng: —

Hơn thế nữa, dựa trên nền tảng công lý nào mà các vị thần có thể lưu tâm đến hoặc khen thưởng con người sau cái chết và những hành động đức hạnh của hắn, khi chính họ là kẻ đẩy hắn vào con đường và ý định thực hiện chúng? Và tại sao họ lại phải phẫn nộ với hắn hoặc trừng phạt hắn vì những tội lỗi, khi chính họ đã tạo ra trong hắn một điều kiện mong manh đến thế, và khi chỉ với một cái liếc nhìn từ ý chí của mình, họ có thể ngăn chặn hắn sa ngã? Há Epicurus, với một cơ sở lý trí con người vô cùng rõ ràng, không thể phản đối điều này với Plato sao, nếu ông không thường xuyên tự cứu mình bằng câu nói này: “Rằng việc thiết lập bất kỳ điều gì chắc chắn về bản chất bất tử thông qua bản chất phàm trần là điều bất khả thi”? Bản chất phàm trần chẳng làm gì ngoài những sai lầm xuyên suốt, nhưng đặc biệt là khi nó nhúng tay vào các vấn đề thần thánh. Ai là kẻ nhận thức điều này rõ ràng hơn chúng ta? Bởi vì dẫu cho chúng ta đã ban cho nó những nguyên tắc chắc chắn và không thể sai lầm; và dẫu cho chúng ta đã soi rọi các bước đi của nó bằng ngọn đèn thiêng liêng của chân lý mà Thiên Chúa đã đoái thương truyền đạt cho chúng ta, chúng ta vẫn hằng ngày chứng kiến rằng nếu nó chệch hướng dù chỉ một chút ít so với con đường thông thường; và nếu nó lạc lối hoặc đi lang thang ra khỏi con đường được vạch ra và san lấp bởi giáo hội, nó sẽ nhanh chóng đánh mất, làm rối tung và trói buộc chính mình, lăn lộn và trôi dạt trong biển lớn, hỗn loạn và bấp bênh của các quan điểm con người, không có sự kiềm chế và không có bất kỳ cái kết xác định nào; ngay khi nó đánh mất con đường vĩ đại và chung đó, nó bước vào một mê cung với hàng ngàn lối đi khác nhau.

Con người không thể là bất cứ thứ gì khác ngoài những gì hắn đang là, cũng không thể mường tượng vượt quá giới hạn năng lực của mình. Plutarch nói: “Đó là một sự kiêu ngạo lớn lao hơn ở những kẻ phàm trần khi mưu toan bàn luận và diễn ngôn về các vị thần và á thần, so với một kẻ hoàn toàn ngu dốt về âm nhạc lại đi đưa ra ý kiến về ca hát; hay một kẻ chưa từng nhìn thấy chiến trại lại đi tranh cãi về vũ khí và các vấn đề quân sự, tự mạo nhận qua một vài phỏng đoán nhẹ nhàng để thấu hiểu các hiệu ứng của một nghệ thuật mà hắn hoàn toàn xa lạ.” Cổ đại, tôi tin rằng, từng nghĩ đến việc nịnh nọt và thêm thắt chút gì đó vào sự vĩ đại thần thánh bằng cách đồng hóa nó với con người, khoác lên nó các năng lực của hắn, và trang hoàng nó bằng những thói hư tật xấu cùng những nhu cầu đáng xấu hổ nhất của hắn; dâng lên nó thức ăn của chúng ta để thưởng thức, trình bày trước nó các điệu nhảy, trò hề và trò hề để giải trí cho nó; mang áo quần của chúng ta để che thân cho nó, và những ngôi nhà của chúng ta để nó trú ngụ, nịnh nọt nó bằng mùi hương của trầm hương và âm thanh của âm nhạc, với những vòng hoa và chùm hoa; đồng thời thích ứng nó với các đam mê tội lỗi của chúng ta, vỗ về công lý của nó bằng những màn trả thù tàn bạo, và bằng sự hủy diệt lẫn tiêu tán của những sự vật do chính nó tạo ra và bảo tồn — hệt như Tiberius Sempronius, kẻ từng thiêu rụi những chiến lợi phẩm và vũ khí phong phú mà ông giành được từ kẻ thù ở Sardinia để làm vật hiến tế dâng lên Vulcan; và Paulus Aemilius, những chiến lợi phẩm từ Macedonia dâng lên cho thần Mars và Minerva; và Alexander, khi đặt chân đến Ấn Độ Dương, đã ném nhiều bình vàng lớn xuống biển để vinh danh Thetis; hơn thế nữa còn chất đầy lên các bàn thờ của Ngài những cuộc tàn sát không chỉ của những loài động vật vô tội mà còn của cả con người — như một số quốc gia, và của chúng ta trong số đó, từng quen làm; và tôi tin rằng chẳng có quốc gia nào dưới ánh mặt trời lại chưa từng làm điều tương tự: —

Người Getae tự cho mình là bất tử, và cái chết của họ chẳng qua chỉ là một cuộc hành trình đến gặp vị thần Zamolxis của họ. Cứ mỗi năm năm, họ lại cử một người trong số họ đi gặp thần để cầu xin những nhu cầu mà họ đang thiếu thốn. Sứ thần này được chọn bằng cách bốc thăm, và hình thức tiễn đưa ông ta — sau khi ông được hướng dẫn bằng lời nói về những gì phải chuyển đạt — là những người trợ giúp sẽ cầm ba ngọn giáo, và phần còn lại sẽ dùng toàn bộ sức lực ném thân thể ông vào đó. Nếu ông ta vô tình bị thương vào một bộ phận chí mạng và ngã xuống chết ngay lập tức, đó được xem là bằng chứng chắc chắn cho sự sủng ái của thần thánh; nhưng nếu ông ta may mắn trốn thoát, ông sẽ bị xem là một kẻ tồi tệ và đáng nguyền rủa, và một kẻ khác sẽ được phái đi thay thế theo cùng cách thức đó. Amestris — mẹ của Xerxes —, khi tuổi đã cao, từng sai chôn sống một lúc mười bốn thanh niên thuộc các gia đình xuất sắc nhất của Ba Tư, theo tôn giáo của đất nước, để làm vui lòng một vị thần âm phủ nào đó. Và ngay cho đến tận ngày nay, các bức tượng thần ở Themixtitan vẫn được kết dính bằng máu của những đứa trẻ thơ ngây, và chúng chẳng thích thú với bất kỳ vật hiến tế nào ngoài những linh hồn thuần khiết và thơ dại đó; một thứ công lý khát khao dòng máu vô tội: —

Người Carthaginians từng thiêu sống chính những đứa con của mình để dâng lên thần Saturn; và những ai không có con phải đi mua con của người khác, trong khi cha mẹ chúng buộc phải đứng nhìn buổi lễ với một gương mặt vui tươi và mãn nguyện.

Thật là một ý nghĩ kỳ quặc khi cho rằng ta có thể làm hài lòng lòng nhân từ của thần linh bằng những nỗi thống khổ của chính mình; chẳng khác chi người Lacedemonia, những kẻ khoản đãi vị thần Diana của họ bằng cách tra tấn những cậu thiếu niên, bắt các em phải chịu roi vọt vì nữ thần, và rất thường xuyên đánh đến chết.

Đó là một tâm lý man rợ khi tưởng tượng rằng có thể làm vui lòng bậc kiến trúc sư bằng cách phá sụp công trình của ngài, và nghĩ rằng có thể gột rửa hình phạt vốn dành cho kẻ có tội bằng cách trừng phạt kẻ vô tội; và rằng nàng Iphigenia tội nghiệp, tại cảng Aulis, phải dùng cái chết và sự hiến tế của mình để tạ ơn Chúa, cứu chuộc toàn bộ quân đội Hy Lạp khỏi mọi tội ác mà họ đã gây ra;

và rằng hai tâm hồn cao cả và quảng đại của hai cha con nhà Decii, để lay chuyển các vị thần ban ân sủng cho vận mệnh của thành Rome, đã lao đầu vào giữa vòng vây dày đặc của kẻ thù: Quo fuit tanta deorum iniquitas, ut placari populo Romano non possent, nisi tales viri occidissent? “Thật là một sự bất công lớn lao biết bao từ các vị thần khi họ không thể nguôi giận trước nhân dân Rome nếu những con người như thế không ngã xuống!” Thêm vào đó, kẻ phạm tội không được phép tự minh chịu đòn roi theo ý mức và thời gian của chính mình, mà việc đó hoàn toàn thuộc về vị thẩm phán — người không xem điều gì là hình phạt ngoại trừ mức án do chính ông định đoạt, và không thể gọi những hành động phát xuất từ sự đồng thuận của kẻ chịu trận là hình phạt.

Sự báo thù của thần linh vốn mặc nhiên đòi hỏi sự bất đồng tuyệt đối từ phía chúng ta, cả về mặt công lý lẫn hình phạt dành cho mình. Thế nên, đó là một tâm lý lố bịch của Polycrates, bạo vương xứ Samos — kẻ muốn ngắt quãng chuỗi may mắn liên tục của mình và cân bằng lại nó, nên đã đem ném món trang sức quý giá và thân thiết nhất xuống biển, với niềm tin rằng qua tai hoạ tự nguyện và định sẵn trước này, hắn có thể hối lộ và thoả mãn sự xoay vần cùng biến đổi của vận mệnh; nhưng vận mệnh, để chế nhạo sự ngu ngốc của hắn, đã sắp đặt để chính món trang sức ấy quay trở lại tay hắn trong bụng một con cá.

Và rồi, mục đích của những hành động tự cào xé, phanh thây nơi các tín đồ Corybantes, Maenades, và vào thời đại chúng ta, là những kẻ theo đạo Hồi tự rạch mặt, ngực và chân tay để làm vừa lòng vị tiên tri của họ, rốt cuộc để làm gì, khi mà tội lỗi nằm ở ý chí chứ không phải ở lồng ngực, đôi mắt, bộ phận sinh dục, vóc dáng, đôi vai hay cổ họng? Tantus est perturbatio mentis, et sedibus suis pulso, furor, ut sic dii placentur, quemadmodum ne homines quidem saeviunt. “Cơn cuồng nộ và điên dại của những tâm trí rối loạn một khi đã bị đánh bật khỏi ngai vàng lý trí thật lớn lao biết bao, cứ như thể các vị thần đòi hỏi được xoa dịu bằng những điều mà ngay cả con người cũng chẳng đủ tàn nhẫn để chấp thuận.”

Công dụng của tạo hình tự nhiên này không chỉ liên quan đến bản thân chúng ta, mà còn phục vụ cho Thiên Chúa và đồng loại; việc chúng ta tự nguyện làm tổn thương hay hủy hoại nó cũng bất công chẳng khác nào việc tự sát dưới bất kỳ cái cớ nào; đó dường như là sự hèn nhát và phản bội lớn lao khi dùng sự tàn ác để hành hạ và phá hủy các chức năng vô tri và phục tùng của cơ thể, chỉ để miễn cho tâm hồn khỏi bận tâm cai quản chúng theo lý trí: Ubi iratos deos timent, who sic propitios habere merentur? In regis libidinis voluptatem castrati sunt quidam; sed nemo sibi, ne vir esset, jubente domino, manus intulit. “Họ sợ cơn thịnh nộ của các vị thần đến mức nào để mà đánh đổi lấy ân huệ của các ngài với cái giá ấy? Quả thực, một số kẻ đã bị thiến để phục vụ dục vọng của các bậc quân vương; nhưng chẳng có ai, dù theo lệnh chủ, lại tự tay tước đi nam tính của chính mình.” Cứ thế, họ làm vẩn đục tôn giáo của mình bằng đủ thứ hệ quả sai quấy:—

Giờ đây, không có bất kỳ thứ gì thuộc về chúng ta lại có thể sánh hay ví với bản tính thần thánh theo bất kỳ cách nào mà không làm tổn hại và vấy bẩn nó bằng vô vàn sự bất toàn.

Làm sao vẻ đẹp, quyền năng và lòng nhân ái vô biên ấy lại có thể dung thứ cho bất kỳ sự tương đồng hay sánh ví nào với những tạo vật hèn mọn như chúng ta, mà không mang lại sự xúc phạm cực độ và nỗi nhục nhã rành rành cho sự vĩ đại thần thánh của ngài? Infirmum dei fortius est hominibus; et stultum dei sapientius est hominibus. “Bởi vì sự điên rồ của Thiên Chúa còn khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối của Thiên Chúa còn mạnh mẽ hơn loài người.”

Khi triết gia Stilpo bị hỏi rằng: “Liệu các vị thần có lấy làm thích thú trước những lời ca tụng và lễ vật hy sinh của chúng ta hay không?” — Ông đáp: “Anh thật thiếu tế nhị; chúng ta hãy ra chỗ khác nếu muốn bàn về những chuyện như thế.” Mặc dù vậy, chúng ta vẫn vạch ra cho ngài những giới hạn, chúng ta vây hãm quyền năng của ngài bằng lý lẽ của chính mình (tôi gọi những lời lảm nhảm và giấc mơ của chúng ta là lý lẽ, theo sự châm chước của triết học — thứ vốn cho rằng “kẻ ác, và thậm chí kẻ ngốc, cũng phát điên bằng lý lẽ, nhưng là một dạng lý lẽ đặc biệt”), chúng ta muốn bắt ngài phải phục tùng những biểu hiện hão huyền và yếu đuối của trí tuệ chúng ta — ngài, đấng đã tạo ra cả chúng ta lẫn sự hiểu biết của chúng ta.

Bởi vì không có gì được tạo ra từ hư vô, nên Thiên Chúa vì thế không thể tạo ra thế giới nếu thiếu đi vật chất. Sao cơ! Phải chăng Thiên Chúa đã trao vào tay chúng ta những chiếc chìa khóa và cỗ máy tối mật của quyền năng ngài? Phải chăng ngài buộc phải không được vượt quá giới hạn hiểu biết của chúng ta? Giả sử đi, hỡi con người! rằng anh đã có thể ghi nhận lại ở đây một vài dấu vết từ các tác hành của ngài; liệu anh có vì thế mà nghĩ rằng ngài đã dùng hết mọi khả năng có thể, và đã nhồi nhét tất cả các khuôn mẫu cùng ý niệm của ngài vào công trình này chăng?

Anh chẳng nhìn thấy gì ngoài trật tự và sự quay vòng của cái hang nhỏ bé nơi anh đang trú ngụ, nếu quả thực anh nhìn thấy được chừng đó; trong khi tính thần thánh của ngài có một quyền tài phán vô tận vượt ra ngoài xa lắc. Phần này chẳng là gì so với toàn thể vũ trụ:—

Đó chỉ là một thứ luật lệ địa phương mà anh đang viện dẫn, còn anh nào có biết gì về luật pháp phổ quát. Hãy ràng buộc bản thân vào những gì thuộc về thẩm quyền của anh, chứ đừng ràng buộc ngài; ngài không phải là huynh đệ, không phải là đồng bào, cũng chẳng phải là chiến hữu của anh. Nếu ngài có bộc lộ phần nào bản thân với anh đi nữa, thì đó cũng không phải là để hạ mình xuống mức độ nhỏ nhoi của anh, hay để biến anh thành kẻ kiểm soát quyền năng của mình; cơ thể con người không thể bay lên mây xanh; những quy tắc ấy là dành cho anh.

Mặt trời vẫn thực hiện quỹ đạo thường ngày của nó; ranh giới của biển và đất liền không thể bị đảo lộn; nước vốn lỏng lẻo và không có sự vững chắc; một bức tường, trừ khi bị đập vỡ, vốn không thể bị xuyên thủng bởi một vật thể đặc; con người không thể duy trì sự sống trong ngọn lửa; anh ta không thể vừa ở trên trời vừa ở dưới đất, và hiện thân ở hàng ngàn nơi cùng một lúc. Chính vì anh mà ngài đã định ra những quy tắc này; chính anh mới là kẻ liên quan đến chúng; ngài đã tỏ cho những người theo đạo Thiên Chúa thấy rằng ngài hoàn toàn tự do khỏi tất cả những giới hạn ấy bất cứ khi nào ngài muốn.

Và quả thực, ngài quyền năng vô hạn như thế, hà cớ gì lại phải gò bó quyền năng của mình trong những giới hạn nhất định nào đó? Vì ân huệ của ai mà ngài phải từ bỏ đặc quyền của mình? Lý trí của anh chẳng có điểm nào hợp lý và có cơ sở hơn là điểm này: nó thuyết phục anh rằng có một sự đa hướng của các thế giới:—

Những bộ tuệ kiệt xuất của thời cổ đại đã tin như vậy; và một số người vào thời đại của chúng ta, bị thuyết phục bởi những biểu hiện của lý trí con người, cũng làm điều tương tự; bởi vì trong cỗ máy mà chúng ta đang chiêm ngưỡng này không có gì là đơn độc và duy nhất,

và tất cả các loài đều được nhân lên theo một số lượng nào đó; nhờ đó, dường như thật khó lòng mà tin rằng Thiên Chúa lại chỉ tạo ra riêng công trình này mà không có lấy một kẻ đồng hành, và rằng nguyên liệu của hình thái này đã bị vắt kiệt hoàn toàn trong một cá thể đơn lẻ này.

Đặc biệt là nếu nó là một sinh vật sống — điều mà những chuyển động của nó khiến cho người ta càng có cơ sở để tin tưởng, đến mức Plato đã khẳng định điều đó, và rất nhiều người trong chúng ta hoặc xác nhận, hoặc không dám phủ nhận nó; cũng giống như quan điểm cổ xưa cho rằng bầu trời, các vì sao và các thành phần khác của thế giới là những sinh vật được cấu thành từ thể xác và tâm hồn, hữu hạn về mặt cấu tạo, nhưng bất tử nhờ sự định đoạt của Đấng Sáng Tạo.

Giờ đây, nếu có nhiều thế giới, như Democritus, Epicurus và hầu hết triết học từng tin tưởng, làm sao chúng ta biết được rằng các nguyên tắc và quy tắc của thế giới chúng ta đây cũng đồng thời chi phối những thế giới còn lại? Rất có thể chúng sở hữu một hình thái khác và một thể chế chính trị khác. Epicurus cho rằng chúng hoặc giống nhau, hoặc khác nhau.

Chúng ta nhìn thấy trong thế giới này sự khác biệt và đa dạng vô tận chỉ bằng khoảng cách giữa các vùng miền; lúa mì, rượu vang hay bất kỳ loài động vật nào của chúng ta đều không thể tìm thấy ở vùng đất mới được phát hiện bởi tổ tiên chúng ta; mọi thứ ở đó hoàn toàn khác biệt; và hãy ngẫm xem, trong quá khứ, đã có bao nhiêu nơi trên thế giới này hoàn toàn không biết gì về Bacchus hay Ceres.

Nếu tin theo Pliny và Herodotus, thì tại một số nơi có những chủng loài con người chẳng giống chúng ta là bao, với những hình hài lai tạp và mơ hồ, đứng giữa bản tính con người và dã thú; có những xứ sở mà con người sinh ra không có đầu, miệng và mắt nằm ở trước ngực; nơi mà tất cả đều là lưỡng tính; nơi họ đi bằng cả tứ chi; nơi trên trán chỉ có một con mắt duy nhất và cái đầu giống chó hơn là giống chúng ta;

nơi nửa thân dưới là cá và sống dưới nước; nơi phụ nữ sinh con năm năm tuổi và chỉ sống đến tuổi tám mươi; nơi da đầu cứng đến mức gươm giáo không thể đâm thủng mà chỉ nảy ngược trở lại; nơi đàn ông không có râu; những quốc gia không biết dùng lửa; những kẻ khác lại phóng ra tinh dịch có màu đen.

Chúng ta sẽ nói gì về những kẻ tự nhiên biến mình thành sói, thành ngựa tơ rồi lại hóa thành người? Và nếu đúng như Plutarch nói rằng ở một nơi nào đó thuộc Ấn Độ có những con người không có miệng, tự nuôi sống bản thân bằng mùi hương của một số loài hoa, thì có bao nhiêu mô tả của chúng ta là sai sự thật?

Hắn khi ấy không còn là sinh vật biết cười, và có lẽ cũng chẳng còn khả năng tư duy và sống trong xã hội nữa. Bản chất và nguyên nhân cấu thành nội tại của chúng ta khi ấy phần lớn sẽ trở nên vô ích và chẳng để làm gì.

Hơn nữa, có biết bao nhiêu điều nằm trong tầm hiểu biết của chúng ta lại mâu thuẫn với những quy tắc tốt đẹp mà chúng ta đã vạch ra và áp đặt cho tự nhiên? Thế mà chúng ta lại còn dám cả gan định đoạt giới hạn cho chính Thiên Chúa! Có bao nhiêu điều chúng ta gọi là kỳ diệu và trái tự nhiên? Mọi quốc gia và mọi con người đều làm thế, tùy theo mức độ dốt nát của họ.

Có bao nhiêu thuộc tính huyền bí và tinh chất ẩn giấu mà chúng ta khám phá ra mỗi ngày? Bởi vì đối với chúng ta, việc hành động “theo tự nhiên” chẳng qua chỉ là hành động “theo sự hiểu biết của mình,” chừng nào trí tuệ còn theo kịp và chừng nào mắt ta còn nhìn thấy được; ngoài giới hạn đó ra thì tất cả đều bị coi là quái dị và bất thường.

Nhưng tính theo cách này, mọi thứ sẽ trở nên quái dị đối với những kẻ khôn ngoan và hiểu biết nhất; bởi vì lý trí con người đã thuyết phục họ rằng chẳng hề có chút căn cứ hay nền tảng nào để dám chắc ngay cả việc tuyết có màu trắng, trong khi Anaxagoras khẳng định nó có màu đen; rằng rốt cuộc có hay không có vạn vật; có hay không sự hiểu biết hay sự dốt nát — điều mà Metrodorus xứ Chios từng phủ nhận rằng con người có khả năng phán quyết; hay việc chúng ta đang sống đây — liệu cuộc sống chúng ta đang trải qua có thực sự là sự sống, hay cái mà ta gọi là cái chết mới chính là sự sống, [—Hy Lạp—] và nhận định ấy không phải là không có bề ngoài hợp lý.

Bởi vì tại sao chúng ta lại gán danh hiệu sự tồn tại cho khoảnh khắc này — thứ vốn chỉ là một tia chớp trong dòng chảy vô tận của đêm trường vĩnh cửu, một khoảng gián đoạn ngắn ngủi của trạng thái vĩnh viễn và tự nhiên của chúng ta, khi mà cái chết chiếm hữu toàn bộ khoảng thời gian trước và sau thời điểm này, thậm chí cả một phần lớn của chính khoảnh khắc đó? Những kẻ khác thề rằng hoàn toàn không có chuyển động nào cả, như những môn đồ của Melissus, và rằng chẳng có gì dịch chuyển.

Bởi vì nếu chỉ có một thực thể duy nhất, thì chuyển động hình cầu ấy cũng chẳng thể có ích gì cho nó, và sự dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác cũng vậy, như Plato đã chứng minh: “Rằng trong tự nhiên không hề có sự sinh thành cũng chẳng có sự diệt vong.” Protagoras nói rằng trong tự nhiên không có gì ngoài sự nghi ngờ; rằng người ta có thể tranh luận ngang nhau về mọi vấn đề; và thậm chí ngay cả về vấn đề này: liệu người ta có thể tranh luận ngang nhau về mọi vấn đề hay không;

Nausiphanes cho rằng trong các sự vật có vẻ tồn tại, không có gì thực sự tồn tại nhiều hơn là không tồn tại; rằng không có gì chắc chắn ngoại trừ sự bất định; Parmenides cho rằng trong những thứ có vẻ hiện hữu, không có bất kỳ một sự vật chung nào; rằng chỉ có duy nhất một thực thể; Zeno cho rằng một thực thể giống hệt thì không tồn tại, và chẳng có gì tồn tại cả; nếu có một vật, nó hoặc phải nằm trong vật khác, hoặc nằm trong chính nó; nếu ở trong vật khác, chúng là hai; nếu ở trong chính nó, chúng vẫn là hai: cái bao hàm và cái bị bao hàm.

Theo những học thuyết này, bản chất của vạn vật chẳng qua chỉ là một chiếc bóng, hoặc là giả trá, hoặc là hão huyền.

Cách ăn nói như vậy ở một người theo đạo Thiên Chúa vẫn luôn tỏ ra rất thiếu suy nghĩ và bất kính đối với tôi. “Thiên Chúa không thể chết; Thiên Chúa không thể mâu thuẫn với chính mình; Thiên Chúa không thể làm điều này hay điều nọ.” Tôi không thích quyền năng thần thánh lại bị gò bó bởi luật lệ từ cửa miệng của con người; và ý niệm hiện lên trong chúng ta qua những mệnh đề ấy cần phải được diễn đạt một cách thành kính và tôn nghiêm hơn.

Lời ăn tiếng nói của chúng ta cũng có những thiếu sót và khiếm khuyết giống như mọi thứ khác trên đời. Hầu hết các nguyên nhân gây ra sự bất ổn trên thế giới đều xuất phát từ ngữ pháp; các vụ kiện tụng của chúng ta chỉ nảy sinh từ những tranh chấp về việc giải thích luật pháp; và phần lớn các cuộc chiến tranh bắt nguồn từ sự bất lực của các sứ thần trong việc diễn đạt rõ ràng các hiệp ước và thỏa thuận hòa bình giữa các bậc quân vương.

Đã có bao nhiêu cuộc cãi vã với tầm quan trọng lớn lao nhường ấy sinh ra chỉ vì sự mơ hồ về ý nghĩa của âm tiết này — hoc,* thế chứ lị? Hãy xét đến kết luận rõ ràng nhất mà chính logic học mang lại cho chúng ta: nếu bạn nói “Trời đẹp,” và bạn nói đúng, thì khi ấy trời đẹp.

Đó chẳng phải là một hình thức diễn đạt vô cùng chắc chắn hay sao? Thế nhưng nó vẫn sẽ đánh lừa chúng ta; và để thấy điều đó xảy ra thế nào, hãy theo dõi ví dụ sau: Nếu bạn nói “Tôi đang nói dối,” và nếu bạn nói đúng, thì quả thực bạn đang nói dối. Nghệ thuật, lý lẽ và sức nặng của kết luận trong trường hợp này cũng y hệt như trường hợp trước, thế mà chúng ta vẫn bị mắc kẹt.

Tôi thấy các triết gia phái Pyrrho không thể diễn đạt quan niệm chung của họ bằng bất kỳ kiểu ngôn ngữ nào; bởi vì họ cần một thứ ngôn ngữ hoàn toàn mới dành riêng cho mình; ngôn ngữ của chúng ta toàn được cấu thành từ các mệnh đề khẳng định, vốn hoàn toàn trái ngược với họ; đến mức khi họ thốt lên “Tôi nghi ngờ,” họ lập tức bị bóp cổ để bắt họ phải thừa nhận rằng ít nhất họ cũng biết và chắc chắn rằng họ đang nghi ngờ.

Bởi thế, họ buộc phải nương náu dưới sự so sánh mang tính y học này — nếu thiếu nó, thái độ của họ sẽ không tài nào giải thích nổi: khi họ thốt lên “Tôi không biết,” hoặc “Tôi nghi ngờ,” họ nói rằng mệnh đề này tự loại trừ chính nó cùng với những mệnh đề còn lại, chẳng khác gì rễ cây đại hoàng — thứ vừa tống khứ các dịch mật xấu ra ngoài, vừa tự cuốn theo những chất ấy khi thải ra. Ý niệm này sẽ càng được lĩnh hội chắc chắn hơn thông qua câu hỏi: “Tôi biết gì đây?” — giống như cách tôi mang nó theo biểu tượng chiếc cân.

Hãy xem họ lợi dụng lối nói bất kính này ra sao: trong các cuộc tranh luận hiện nay về tôn giáo của chúng ta, nếu bạn dồn ép các đối thủ của nó quá mạnh, họ sẽ thẳng thừng tuyên bố với bạn rằng “Thiên Chúa không có quyền năng làm cho cơ thể ngài vừa ở trên thiên đàng vừa ở dưới trinh địa, lại vừa ở nhiều nơi cùng một lúc.”

Và hãy xem, kẻ chế giễu thời cổ đại đã trục lợi từ điều này như thế nào. “Ít nhất,” hắn nói, “đó cũng là một sự an ủi không nhỏ cho con người khi thấy rằng Thiên Chúa không thể làm được mọi thứ; bởi vì ngài không thể tự kết liễu đời mình dù ngài có muốn đi nữa — đó lại là đặc quyền lớn nhất mà chúng ta có được trong hoàn cảnh của mình; ngài không thể biến kẻ phải chết thành bất tử, cũng không thể làm cho người chết sống lại; không thể làm cho kẻ đã sống trở thành chưa từng sống; hay kẻ từng có vinh quang trở thành chưa từng có; khi mà ngài chẳng có quyền năng nào đối với quá khứ ngoài sự lãng quên.”

Và để sự so sánh giữa con người và Thiên Chúa có thể được tiếp tục chứng minh bằng những ví dụ mang tính cợt nhả: “Ngài không thể sắp đặt,” hắn nói, “để hai lần mười không bằng hai mươi.” Đó là những gì hắn nói, và là điều mà một tín đồ Thiên Chúa phải hết sức cẩn trọng để chúng không sổng ra khỏi bờ môi mình.

Trong khi ngược lại, có vẻ như con người đang cố tình nghiên cứu cái thói kiêu ngạo ngốc nghếch trong ngôn từ này để ép Thiên Chúa phải vừa vặn với chiếc thước đo của chính họ:—

Khi chúng ta nói rằng sự vô tận của thời gian, cả quá khứ lẫn tương lai, đối với Thiên Chúa chỉ là một khoảnh khắc; rằng lòng nhân từ, sự khôn ngoan và quyền năng của ngài đồng nhất với bản thể của ngài; miệng chúng ta thốt ra điều đó, nhưng trí tuệ chúng ta nào có thấu hiểu; thế mà, với cái thói tự phụ hão huyền về bản thân, chúng ta cứ phải bắt Đấng Tối Cao chui qua cái sàng của chính mình; và từ đó sinh ra tất cả những giấc mơ cùng sai lầm ngập tràn thế gian, khi chúng ta thu hẹp và cân đo trên chiếc cân của mình một thứ vốn vượt quá tầm với của chúng ta đến nhường nào.

Mirum quo procedat improbitas cordis humani, parvulo aliquo intritata successu. “Thật kỳ diệu thay sự gian ác trong tim con người có thể tiến xa đến mức nào, một khi được tôi luyện chút ít bởi thành công.”

Epicurus đã quở trách các triết gia phái khắc kỷ một cách hách dịch và ngạo mạn làm sao, chỉ vì họ duy trì quan điểm cho rằng trạng thái thực sự tốt đẹp và hạnh phúc chỉ thuộc về Thiên Chúa, còn bậc hiền triết thì chỉ có được cái bóng và hình thái tương tự của nó mà thôi!

Họ đã trói buộc Thiên Chúa vào định mệnh một cách liều lĩnh biết bao (một điều mà, nếu tôi được phép, không một ai mang danh nghĩa tín đồ Thiên Chúa nào sẽ tái phạm lần nữa!); và cả Thales, Plato lẫn Pythagoras đều bắt ngài phải làm nô lệ cho sự tất yếu.

Sự kiêu ngạo dám dùng đôi mắt trần để dò xét Thiên Chúa này đã là nguyên nhân khiến một nhân vật lỗi lạc trong chúng ta gán cho Đấng Tối Cao một hình hài thể xác; và đó cũng là lý do vì sao mỗi ngày chúng ta vẫn thường gán cho Thiên Chúa những sự kiện lớn lao thông qua một sự phân định cụ thể nào đó. Bởi vì những sự kiện ấy có trọng lượng đối với chúng ta, họ kết luận rằng chúng cũng có trọng lượng đối với ngài, và rằng ngài dành sự quan tâm chú ý và cảnh giác cho chúng nhiều hơn là cho những thứ ít quan trọng hơn đối với chúng ta hoặc diễn ra theo nhịp điệu thông thường:

Magna Dii curant, parva negligunt: “Các vị thần quan tâm đến những việc lớn, nhưng phớt lờ những việc nhỏ.” Hãy lắng nghe hắn; hắn sẽ làm sáng tỏ điều này cho bạn bằng lý lẽ của mình: Nec in regnis quidem reges omnia minima curant: “Thực ra các vị vua khi cai trị cũng đâu có bận tâm đến tất cả những tiểu tiết nhỏ nhặt nhất.” Cứ như thể đối với Vị Vua của muôn vua, việc lật đổ một vương quốc hay việc lay động một chiếc lá cây lại có sự hơn kém; hoặc cứ như thể sự quan phòng của ngài hành động theo một cách nào khác khi định đoạt kết quả của một trận chiến so với một cú nhảy của con bọ chét vậy.

Bàn tay cai quản của ngài đặt lên vạn vật theo cùng một cách thức, với cùng một quyền năng và trật tự; lợi ích của chúng ta chẳng có chút tác động nào đến điều đó; xu hướng và thước đo của chúng ta chẳng thể lay chuyển được ngài một ly. Deus ita artifex magnus in magnis, ut minor non sit in parvis: “Thiên Chúa là một bậc thầy kiến tạo trong những điều lớn lao, đến mức ngài cũng không hề kém cạnh trong những điều nhỏ nhất.”

Sự kiêu ngạo của chúng ta cứ liên tục đặt sự so sánh mang tính phạm thượng này trước mặt chúng ta. Vì công việc của chúng ta vốn là một gánh nặng đối với chính mình, Strato đã rộng lượng miễn trừ cho các vị thần khỏi mọi công vụ, giống như các tư tế của họ; ông để cho tự nhiên tự sản sinh và duy trì vạn vật; và bằng sức nặng cùng chuyển động của tự nhiên để tạo nên các phần khác nhau của thế giới, qua đó giải phóng bản tính con người khỏi nỗi sợ hãi trước các phán quyết thần thánh: Quod beatum aeternumque sit, id nec habere negotii quicquam, nec exhibere alteri: “Thứ gì đã ban sơ và vĩnh hằng thì tự thân nó không có bất kỳ bận tâm nào, cũng chẳng gây phiền hà cho kẻ khác.”

Tự nhiên muốn rằng trong những sự vật giống nhau phải có một mối quan hệ tương đương. Do đó, số lượng vô hạn của những kẻ phàm trần cũng ngầm định một số lượng tương tự những kẻ bất tử; vô số những sự vật tẻ nhạt và hủy diệt cũng ngầm giả định bấy nhiêu thứ gìn giữ và mang lại lợi ích.

Cũng như linh hồn của các vị thần, không cần lưỡi, mắt hay tai, tự mỗi người trong số họ vẫn cảm nhận được những gì kẻ khác cảm nhận, và phán xét những suy nghĩ của chúng ta; thì linh hồn con người, khi được tự do và thoát khỏi thể xác, dù thông qua giấc ngủ hay trạng thái xuất thần, cũng có thể tiên tri, dự báo và nhìn thấy những điều mà khi còn gắn kết với thể xác, họ không tài nào nhìn thấy nổi. “Con người,” thánh Paul nói, “tự xưng mình là khôn ngoan, nhưng lại hóa thành kẻ ngu ngốc; và đổi vinh quang của Thiên Chúa không thể hư nát thành hình tượng giống như con người hay hư nát.”

Hãy chú ý đến những trò bịp bợm trong các nghi lễ phong thần thời cổ đại. Sau buổi lễ tang trang trọng và vĩ đại, ngay khi ngọn lửa bắt đầu bốc lên đỉnh ngọn tháp và bén vào chiếc giường nơi thi hài nằm, họ đồng thời thả ra một con đại bàng; con đại bàng bay vút lên cao biểu thị rằng linh hồn đã đi về cõi thiên đàng.

Chúng ta có hàng ngàn tấm huy chương, đặc biệt là huy chương của người phụ nữ đáng kính Faustina, trong đó con đại bàng này được khắc họa đang cõng những linh hồn được phong thần bay lên trời với tư thế chúc đầu xuống dưới. Thật đáng tiếc khi chúng ta cứ tự chuốc lấy trò hề bằng chính những điều nhảm nhí và phát minh của mình,

giống như những đứa trẻ bị dọa sợ bởi chính cái mặt nạ do bạn tụi nó bôi bẩn và vẽ vời lên:

Quasi quicquam infelicius sit homine, cui sua figmenta dominantur:

“Cứ như thể chẳng có gì bất hạnh hơn con người — kẻ bị chính trí tưởng tượng của mình hành hạ.” Thật sai lầm biết bao khi vinh danh kẻ đã tạo ra chúng ta bằng cách đi tôn thờ thứ do chính chúng ta tạo ra. Augustus có nhiều đền thờ hơn cả Jupiter, và được phụng thờ với ngông cuồng tôn giáo và lòng tin vào phép màu chẳng kém gì.

Dân Thrace, để đáp lại những ân huệ mà họ nhận được từ Agesilaus, đã đến báo cho ông biết rằng họ đã phong thánh cho ông: “Liệu quốc gia của các ông,” ông bảo họ, “có quyền phong thần cho bất kỳ ai họ muốn hay không? Xin hãy phong thần cho một ai đó trong số các ông trước đã, và khi nào ta thấy được lợi ích mà kẻ đó nhận được từ việc ấy, ta sẽ cảm ơn nhã ý của các ông.”

Con người quả thực hoàn toàn điên rồ; đến một con giun dế anh ta cũng chẳng làm nổi, thế mà lại cứ thích đẻ ra các vị thần bằng bốc. Hãy lắng nghe Trismegistus ca ngợi năng lực của chúng ta: “Trong tất cả những điều kỳ diệu, điều phi thường nhất vượt lên trên tất cả chính là việc con người có thể phát hiện ra bản tính thần thánh và tự tay tạo ra nó.”

Và đây là những luận điểm của chính mái trường triết học:—

“Nếu có một vị thần, ngài là một sinh vật sống; nếu ngài là một sinh vật sống, ngài có tri giác; và nếu ngài có tri giác, ngài phải chịu sự diệt vong. Nếu ngài không có thể xác, ngài không có tâm hồn, và do đó không có hành động; còn nếu ngài có thể xác, nó sẽ phải tàn lụi.”

Đó chẳng phải là một chiến thắng vang dội hay sao? Chúng ta không có khả năng tự tạo ra thế giới; vậy thì chắc chắn phải có một bản tính ưu việt nào đó đã nhúng tay vào công trình này. Thật là một sự kiêu ngạo ngu ngốc và lố bịch khi tự coi mình là sinh vật hoàn hảo nhất trong vũ trụ.

Vậy thì nhất định phải có một thứ gì đó tốt đẹp hơn, và đó chính là Thiên Chúa. Khi bạn nhìn thấy một công trình kiến trúc nguy nga và đồ sộ, dù bạn không biết ai là chủ nhân của nó, bạn vẫn sẽ kết luận rằng nó không phải được xây lên để cho loài chuột ở.

Còn kiến trúc thần thánh này — cung điện thiên đàng mà chúng ta đang chiêm ngưỡng, chẳng lẽ chúng ta không có lý do để tin rằng nó là nơi ngự trị của một chủ nhân vĩ đại hơn chúng ta rất nhiều hay sao? Chẳng lẽ Đấng Tối Cao không phải lúc nào cũng là đấng đáng tôn kính nhất hay sao? Nhưng chúng ta chỉ đang ở bậc học thấp nhất.

Không có thứ gì thiếu linh hồn và lý trí mà lại có thể sản sinh ra một sinh vật sống có khả năng lý luận. Thế giới sinh ra chúng ta, vậy thế giới có linh hồn và lý trí. Mọi phần trên cơ thể chúng ta đều nhỏ hơn chính chúng ta. Chúng ta là một phần của thế giới, do đó thế giới được phú bẩm sự khôn ngoan và lý trí, lại còn dồi dào hơn cả chúng ta.

Việc cai quản một đế chế lớn là một điều tuyệt vời; vậy thì việc cai quản thế giới ắt thuộc về một bản tính hạnh phúc nào đó. Các vì sao không làm hại chúng ta; vậy thì chúng ngập tràn sự lương thiện. Chúng ta cần dưỡng chất; vậy thì các vị thần cũng thế, và họ nuôi sống bản thân bằng hơi nước từ mặt đất.

Của cải trần gian không phải là của cải đối với Thiên Chúa; do đó chúng cũng chẳng phải là của cải đối với chúng ta; việc xúc phạm và bị xúc phạm đều là những bằng chứng cho thấy sự yếu hèn; do đó việc sợ hãi Thiên Chúa là một sự ngu ngốc. Thiên Chúa tốt lành theo bản tính của ngài; con người tốt lành bằng sự nỗ lực của mình, điều đó còn cao hơn.

Sự khôn ngoan của thần thánh và của con người chỉ khác nhau ở chỗ cái thứ nhất là vĩnh hằng; nhưng sự trường tồn không phải là phần thưởng thêm cho sự khôn ngoan, thế nên chúng ta là bạn đồng hành. Chúng ta có sự sống, lý trí và tự do; chúng ta coi trọng lòng tốt, bác ái và công lý; vậy những phẩm chất ấy cũng có ở nơi ngài.

Tựu trung lại, việc tạo dựng và hủy diệt — những đặc tính của Đấng Tối Cao — được con người nhào nặn tùy theo sự liên hệ của chúng với chính bản thân mình. Quả là một tấm gương và một hình mẫu tuyệt vời làm sao! Cứ kéo giãn, cứ nâng cao và thổi phồng các phẩm chất của con người lên chừng nào chúng ta còn muốn; hỡi con người tội nghiệp, hãy cứ tự phình to ra nữa, nữa đi, và mãi mãi nữa:—

Profecto non Deum, quem cogitare non possunt, sed semetipsos pro illo cogitantes, non illum, sed seipsos, non illi, sed sibi comparant?

“Quả thực, họ không hề tưởng tượng về Thiên Chúa — Đấng mà họ không tài nào tưởng tượng nổi; mà họ lại tưởng tượng ra chính bản thân mình để thay thế cho ngài; họ không so sánh ngài, mà so sánh chính mình, không phải với ngài, mà là với bản thân họ.” Trong các sự vật tự nhiên, các tác động chỉ phản ánh một nửa nguyên nhân của chúng. Điều đó thì dính líu gì?

Bản trạng của ngài vượt lên trên trật tự tự nhiên, quá cao siêu, quá xa vời và quá quyền năng, không cho phép bản thân bị trói buộc và cùm gông bởi những kết luận của chúng ta. Không phải qua con đường của chính mình mà chúng ta vươn tới được nơi chốn đó; những lối đi của chúng ta quá thấp kém.

Chúng ta chẳng hề đến gần thiên đàng hơn khi đứng trên đỉnh núi Cenis so với khi ở dưới đáy biển; hãy đo khoảng cách đó bằng chiếc thước trắc tinh của anh xem nào.

Họ hạ thấp Thiên Chúa xuống tận sự hiểu biết xác thịt với phụ nữ, qua ngần ấy lần và ngần ấy thế hệ. Paulina, vợ của Saturninus — một nữ quý tộc có tiếng tăm lừng lẫy tại Rome, cứ đinh ninh rằng mình đang ngủ với thần Serapis, rốt cuộc lại thấy mình nằm trong vòng tay của một gã nhân tình nhờ sự dắt mối của các tư tế trong đền thờ ngài.

Varro — kẻ uyên bác và tinh tế nhất trong số các tác giả La Mã, đã viết trong cuốn sách về thần học của mình rằng người gác đền của Hercules, khi đang tung xúc xắc một tay cho mình và tay kia cho Hercules, đã đánh bạc với vị thần về một bữa tối và một ả đàn cô; nếu thắng, sẽ lấy tiền từ các lễ vật; nếu thua, sẽ tự bỏ tiền túi. Người gác đền thua cược, và phải trả tiền bữa tối lẫn ả đào.

Cô ta tên là Laurentina, người vào ban đêm đã nhìn thấy vị thần này trong vòng tay mình, và hơn thế nữa, vị thần còn dặn rằng người đầu tiên cô gặp vào ngày hôm sau sẽ ban cho cô một phần thưởng từ thiên đàng; hóa ra đó lại là Taruncius — một thanh niên giàu có, kẻ đã đưa cô về nhà và sau này để lại toàn bộ gia tài cho cô làm người thừa kế.

Đổi lại, nghĩ rằng mình phải làm một điều gì đó để làm hài lòng vị thần, cô đã để cho nhân dân Rome làm người thừa kế tài sản của mình; và do đó, những vinh quang thần thánh đã được gán cho cô. Cứ như thể việc Plato có dòng dõi xuất thân từ các vị thần qua hai nhánh gia phả và có thần Neptune là tổ chung vẫn chưa đủ, người ta còn đinh ninh tại Athens rằng Aristo, khi muốn ân ái với nàng Perictione xinh đẹp nhưng không thể làm được, đã được thần Apollo cảnh báo trong một giấc mơ hãy để cô được trọn vẹn tinh khôi và không bị xâm phạm cho đến khi cô sinh nở. Đó chính là cha và mẹ của Plato.

Có biết bao nhiêu câu chuyện lố bịch về những vụ cắm sừng tương tự do các vị thần gây ra cho những người phàm trần tội nghiệp! Và có biết bao nhiêu người chồng bị mang tiếng oan uổng chỉ để tôn vinh những đứa trẻ! Trong đạo Hồi, người ta cũng tìm thấy không ít những nhân vật như Merlin theo niềm tin của quần chúng; nghĩa là những đứa trẻ không cha, mang tính tâm linh, được thụ thai một cách thần thánh trong cung lòng các trinh nữ, và mang những cái tên biểu thị ý nghĩa đó trong ngôn ngữ của họ.

Chúng ta phải lưu ý rằng đối với vạn vật, không có gì thân thuộc và đáng quý hơn chính sự tồn tại của nó (sư tử, đại bàng, cá heo — chẳng có loài nào quý trọng thứ gì hơn chính giống loài của mình); và rằng mọi sự vật đều đồng hóa các phẩm chất của tất cả các vật khác theo những phẩm chất đặc thù của riêng nó — điều mà chúng ta quả thực có thể kéo giãn ra hoặc thu hẹp lại, nhưng chỉ có thế mà thôi; bởi vì vượt ra ngoài mối quan hệ và nguyên tắc ấy, trí tưởng tượng của chúng ta không thể vươn tới đâu được nữa, không thể phỏng đoán bất cứ điều gì khác, cũng chẳng tài nào thoát ra khỏi đó hay vươn ra xa hơn thế.

Từ đó nảy sinh những kết luận cổ xưa sau: trong tất cả các hình thái, đẹp nhất là hình thái con người; do đó Thiên Chúa bắt buộc phải mang hình thái đó. Không ai có thể hạnh phúc nếu thiếu đi đức hạnh, cũng như đức hạnh không thể tồn tại mà không có lý trí, và lý trí không thể trú ngụ ở bất cứ đâu ngoài hình hài con người; vì thế Thiên Chúa được khoác lên một hình hài con người.

Ita est informatum et anticipatum mentibus nostris, ut homini, quum de Deo cogitet, forma occurrat humana. “Điều đó đã hằn sâu vào tâm trí chúng ta, và trí tưởng tượng đã bị tiêm nhiễm sẵn đến mức khi con người nghĩ về Thiên Chúa, một hình hài con người luôn hiện lên trong tâm trí.”

Đó là lý do vì sao Xenophanes từng châm chọc rằng: “Nếu loài thú tự nặn ra các vị thần cho riêng chúng, như rất có thể chúng vẫn làm, thì chắc chắn chúng sẽ tạo ra những vị thần giống y như loài của chúng và tự hào về điều đó hệt như chúng ta. Bởi vì tại sao một con ngỗng lại không thể nói thế này: ‘Tất cả các phần của vũ trụ này đều có phần lợi ích của ta trong đó; mặt đất phục vụ cho ta đi lại; mặt trời chiếu sáng cho ta; các vì sao ảnh hưởng đến ta; ta nhận được ngần ấy lợi ích từ những cơn gió và ngần ấy từ nguồn nước; không có thứ gì trên vòm trời kia nhìn ngắm mọi vật với vẻ trìu mến bằng ta; ta là đứa con cưng của tự nhiên! Chẳng phải con người vẫn đang nuôi dưỡng, cho ta trú ngụ và phục vụ ta đó sao? Chính vì ta mà hắn cày cấy và xay xát; nếu hắn ăn thịt ta, hắn cũng làm điều tương tự với đồng loại của mình, và ta cũng làm thế với những con giun đang giết và nuốt chửng hắn.’”

Một con sếu cũng có thể nói điều tương tự, thậm chí với sự tự tin lớn hơn, dựa vào sự tự do bay lượn của nó và quyền sở hữu vùng trời cao đẹp đẽ ấy. Tam blanda conciliatrix, et tam sui est lena ipsa natura. “Tự nhiên quả là một mụ mai mối ngọt ngào, nịnh bợ và tự cưng chiều chính mình biết bao.”

Giờ đây, theo hệ quả tương tự đó, định mệnh được sinh ra là dành cho chúng ta; thế giới này là vì chúng ta; nó tỏa sáng, nó sấm sét là vì chúng ta; đấng sáng tạo và các tạo vật, tất cả đều vì chúng ta; đó là đích nhắm và cột mốc mà sự phổ quát của vạn vật hướng tới.

Hãy nhìn vào những biên niên sử mà triết học đã lưu giữ trong hơn hai ngàn năm qua về các sự việc trên thiên đàng; suốt ngần ấy thời gian, các vị thần chẳng hề hành động hay cất lời vì bất kỳ ai ngoài con người. Triết học không cho phép họ có bất kỳ sự tham khảo hay bận tâm nào khác.

Hãy nhìn họ ở đây đứng về phía chúng ta trong chiến tranh:—

Và ở đây bạn sẽ thấy họ dự phần vào những rắc rối của chúng ta, để đáp lễ việc chúng ta đã từng rất nhiều lần chia sẻ rắc rối của họ:—

Người Caunians, vì ghen tị với quyền uy của các vị thần xứ mình, đã cầm vũ khí vào những ngày cử hành tín ngưỡng, chạy khắp lãnh hạt của họ và vung gươm chém gió tứ phía để xua đuổi và ban cấm mọi vị thần ngoại lai khỏi lãnh thổ của họ.

Quyền năng của các vị thần bị giới hạn tùy theo bệnh dịch, bệnh ghẻ lở, bệnh lao; vị này chữa loại ngứa này, vị kia chữa loại khác: Adeo minimis etiam rebus prava religio inserit Deos? “Tôn giáo sai quấy đã nhét các vị thần vào ngay cả những việc vô bổ nhất với mức độ như thế sao?”

Vị này làm cho nho mọc, vị kia làm cho hành sinh sôi; vị này cai quản dâm ô, vị kia cai quản buôn bán; có thần dành cho mọi loại thợ thủ công; vị này có địa hạt và uy danh ở phương Đông, vị kia ở phương Tây:—

tùy theo nhu cầu của chúng ta; vị này chữa bệnh cho ngựa, vị kia chữa cho người,

Vị này chỉ sở hữu một thị trấn hoặc một dòng họ; vị kia sống độc thân; người thì sống tập thể, hoặc tự nguyện, hoặc do hoàn cảnh bắt buộc:—

Trong số đó có những vị khốn khổ và hèn mọn đến mức (vì tổng số lượng lên tới ba mươi sáu ngàn vị) phải túm tụm năm sáu vị lại với nhau mới làm nổi một bông lúa, rồi từ đó nhận những cái tên riêng biệt; ba vị cho một cái cửa — thần tấm ván, thần bản lề và thần ngưỡng cửa. Bốn vị cho một đứa trẻ — những đấng bảo hộ cho dải khăn quấn tã, thức uống, thức ăn và bầu sữa của nó.

Có những vị chắc chắn, có những vị bấp bênh mơ hồ, và có những vị vẫn chưa bước chân vào thiên đàng:—

Trong số đó có các y sĩ, nhà thơ và luật gia. Có những kẻ đứng ở ranh giới giữa bản tính thần thánh và con người; làm trung gian giữa Thiên Chúa và chúng ta, được tô điểm bằng một dạng tôn kính thứ cấp và thu nhỏ; vô số danh hiệu và chức vụ; kẻ thiện, người ác; kẻ già nua lẩm cẩm, người thì hữu hạn phán sinh. Bởi vì Chrysippus có quan điểm rằng trong trận hỏa hoạn cuối cùng của thế giới, tất cả các vị thần sẽ chết hết ngoại trừ Jupiter.

Con người tạo ra hàng ngàn mối thâm giao tốt đẹp giữa Thiên Chúa và mình; chẳng lẽ ngài không phải là đồng hương của anh ta hay sao?

Và đây là lời bào chữa mà, khi suy ngẫm về chủ đề này, Scaevola — một vị đại tư tế, và Varro — một nhà thần học lớn trong thời đại của họ, đã đưa ra cho chúng ta: “Rằng dân chúng cần thiết phải ngu dốt trước nhiều điều có thật, và phải tin vào nhiều điều giả dối.” Quum veritatem qua liberetur inquirat credatur ei expedire quod fallitur. “Xét thấy anh ta đang tìm kiếm chân lý — thứ sẽ mang lại tự do cho mình, thật phải lẽ khi để anh ta bị lừa dối.”

Mắt phàm không thể nhận thức các sự vật ngoại trừ thông qua những hình thái mà chúng biết; và chúng ta không nhớ nổi cú ngã thảm hại cỡ nào của Phaethon khi hắn cả gan định điều khiển cỗ xe của cha mình bằng đôi tay phàm trần. Tâm trí con người cũng rơi vào một hố sâu tương tự, và bị nghiền nát, vỡ vụn theo cùng một cách bởi sự liều lĩnh của chính nó.

Nếu bạn hỏi triết học rằng bầu trời và mặt trời được cấu thành từ vật chất gì? Cô ta sẽ trả lời ra sao, nếu không phải là sắt, hoặc theo Anaxagoras, là đá, hay một thứ vật chất nào khác mà cô ta bịa ra? Nếu ai đó hỏi Zeno bản chất là gì? “Một ngọn lửa,” ông đáp, “một người thợ thủ công, thích hợp cho sự sinh sôi, và tiến hành một cách có trật tự.”

Archimedes — bậc thầy của ngành khoa học tự hào đứng đầu tất cả các môn khác về tính chân lý và sự chắc chắn — đã nói: “Mặt trời là một khối sắt nung đỏ.” Đó chẳng phải là một ý tưởng tuyệt vời được rút ra từ tính tất yếu không thể chối cãi của các chứng minh hình học hay sao?

Tuy nhiên, nó lại không hề tất yếu và hữu ích đến mức Socrates cho rằng chỉ cần biết hình học vừa đủ để đo đạc mảnh đất người ta mua hay bán là đủ; và Polyaenus — người từng là một học giả lớn và nổi tiếng trong môn này, đã khinh bỉ nó vì thấy nó đầy rẫy sự dối trá và hư danh hiển hách, sau khi ông đã nếm thử những trái ngọt thanh tao trong khu vườn hoang dã của Epicurus.

Socrates trong tác phẩm của Xenophon, khi bàn về vấn đề này, đã nói về Anaxagoras — kẻ được người xưa đồn đại là uyên bác hơn tất cả những người khác trong các vấn đề thiên văn và thần thánh: “Hắn đã bị lú lẫn, hệt như tất cả những kẻ khác, những kẻ quá mức say mê tìm kiếm những triết lý chẳng dính dáng gì đến họ”; khi hắn cho mặt trời là một hòn đá cháy ngừng ngực, hắn đã không tính đến việc hòn đá không hề phát sáng trong lửa; và tồi tệ hơn là nó sẽ bị tiêu hủy trong đó; và khi đánh đồng mặt trời với lửa, hắn quên rằng lửa chiếu sáng không làm cho da dẻ đen đi; rằng chúng ta có thể nhìn chằm chằm vào lửa; và rằng lửa giết chết cỏ cây thực vật.

Đó là quan điểm của Socrates, và cũng là của tôi: cách phán đoán tốt nhất về thiên đàng là hoàn toàn không phán đoán gì về nó cả. Plato, khi có dịp bàn về các vị thần linh trong tác phẩm Timaeus, đã nói: “Nhiệm vụ này vượt quá khả năng của tôi.”

Do đó, chúng ta phải tin vào những bậc hiền triết cổ đại từng nói rằng họ được sinh ra từ các vị thần; thật trái với mọi lẽ phải khi từ chối tin tưởng vào những hậu duệ của các vị thần, ngay cả khi những gì họ nói không được chứng minh bằng bất kỳ lý lẽ tất yếu hay hợp lý nào; bởi vì họ đang dấn thân bàn về những vấn đề gia đình và quen thuộc.

Hãy xem chúng ta có sáng sủa hơn chút nào trong việc thấu hiểu các vấn đề của con người và tự nhiên hay không. Chẳng phải là một nỗ lực lố bịch khi chúng ta cố tình nhào nặn cho những đấng mà — theo chính sự thừa nhận của chúng ta — trí tuệ không thể vươn tới, một thân xác khác, và gán cho họ một hình thái giả tạo do chính chúng ta phát minh ra hay sao; như đã thấy rõ trong chuyển động của các hành tinh — thứ mà trí óc chúng ta hoàn toàn không thể chạm tới, cũng không tài nào lý giải được nguyên lý vận hành tự nhiên của chúng, nên chúng ta bèn gán cho chúng những cỗ lò xo vật chất, nặng nề và vững chắc do chính ta bịa ra để chúng chuyển động:—

Người ta sẽ phải thốt lên rằng chúng ta có những người thợ đóng xe, thợ mộc và thợ sơn từng leo lên tận chốn mây xanh để chế tạo ra những cỗ máy với đủ mọi chuyển động, rồi sắp xếp hệ thống bánh xe cùng các khớp nối của các thiên thể với muôn vàn màu sắc xoay quanh trục của định mệnh, theo quan điểm của Plato:—

Tất cả những thứ đó chỉ là những giấc mơ và sự cuồng tín hoang tưởng. Tại sao tự nhiên lại không chịu một lần mở toang lồng ngực cho chúng ta thấy, và vạch trần rõ ràng phương thức cùng cách thức chuyển động của bà, rồi dọn dẹp đôi mắt chúng ta để chiêm ngưỡng chúng nhỉ?

Lạy Chúa, chúng ta sẽ vạch ra biết bao nhiêu sự sai lầm và nhầm lẫn trong nền khoa học nghèo nàn của mình! Tôi xin chịu đòn nếu cái triết lý yếu ớt kia của chúng ta nắm giữ nổi dẫu chỉ một sự vật đúng như bản chất thực sự của nó, và tôi sẽ rời khỏi thế gian này trong sự dốt nát về mọi thứ khác, vượt qua cả sự vô minh của chính bản thân mình.

Tôi chưa từng đọc được ở Plato câu nói thần thánh này sao: “Tự nhiên chẳng qua chỉ là một thứ thơ ca đầy ẩn ngữ!” Cứ như thể người ta có thể nhìn thấy một bức tranh được che đậy và mờ ảo, chớp lóe ở chỗ này hay chỗ khác bằng muôn vàn thứ ánh sáng giả tạo nhằm làm rối trí những phỏng đoán của chúng ta: Latent ista omnia crassis occultata et circumfusa tenebris; ut nulla acies humani ingenii tanta sit, quae penetrare in coelum, terram intrare, possit.

“Tất cả những điều đó đều ẩn giấu và bao bọc trong một lớp bóng tối mịt mờ đến mức không một mũi nhọn nào của trí tuệ con người có thể sắc bén đến độ đâm thủng bầu trời hay thấu nhập vào lòng đất.”

Và quả thực, triết học chẳng qua cũng chỉ là một thứ thi ca trá hình. Các nhà văn cổ đại trích dẫn tài liệu của họ từ đâu, nếu không phải từ các nhà thơ? Bản thân những người đi đầu trong số họ cũng là nhà thơ và viết văn theo lối đó. Plato chẳng qua chỉ là một nhà thơ bị lột trần.

Timon mỉa mai gọi ông là “một kẻ chuyên bịa đặt phép màu quái dị.” Mọi khoa học siêu phàm đều sử dụng phong cách thi vị. Giống như phụ nữ dùng răng ngà giả khi răng thật rụng mất, và thay vì màu da thật, họ dùng các chất liệu nhân tạo để tô điểm; giống như họ độn bông để trông đỗi đặn, rồi trước mặt mọi người, họ trang điểm, chấm vá và chưng diện bằng một vẻ đẹp giả tạo và mượn vá; khoa học cũng làm y như thế (và ngay cả luật pháp của chúng ta cũng vậy, người ta nói rằng nó có những hư cấu hợp pháp để làm nền tảng cho sự công lý của mình);

nó ném cho chúng ta như một tiền đề, như thứ tiền mặt lưu hành, những điều mà chính nó cũng thừa nhận là do tự bịa ra; bởi vì những đường ngoại luân, tâm sai và đồng tâm mà chiêm tinh học sử dụng để duy trì chuyển động của các vì sao, đều được nó dâng hiến như những thứ tốt nhất mà nó có thể chế ra về chủ đề đó;

cũng như trong tất cả các vấn đề còn lại, triết học không dâng hiến cho chúng ta thứ thực sự tồn tại, hay thứ mà nó thực sự tin tưởng, mà là thứ được nó nhào nặn với mức độ hợp lý và ra dáng sự thật nhất cùng phát minh tinh vi nhất.

Plato, khi bàn luận về trạng thái của cơ thể con người và loài vật, đã nói: “Tôi sẽ biết chắc những gì mình nói là sự thật, nếu tôi có được sự xác nhận từ một nhà tiên tri; nhưng điều này tôi dám khẳng định, rằng những gì tôi nói là hợp lý nhất trong số những điều tôi có thể thốt ra.”

Đâu phải chỉ có thiên đường mới bị nghệ thuật giăng dây, thả cỗ máy và bánh xe; hãy cùng xem nghệ thuật nói gì về chính chúng ta và về cấu trúc của con người.

Chẳng có sự thụt lùi, dao động, tiến tới, lùi lại hay bàng hoàng nào ở các vì sao và thiên thể lại lớn hơn những gì họ tìm thấy trong cơ thể bé nhỏ tội nghiệp này của con người. Quả thực, họ hoàn toàn có lý khi gọi nó là tiểu vũ trụ, bởi vì họ đã huy động biết bao nhiêu là công cụ và bộ phận để dựng nên nó.

Để hỗ trợ cho những chuyển động họ quan sát thấy ở con người, và vô số chức năng diễn ra trong chính chúng ta, họ đã chia tâm hồn thành bao nhiêu phần, nhếch nó vào bao nhiêu nơi? Họ đã phân loại nó thành bao nhiêu cấp bậc, và nâng cỗ máy con người tội nghiệp này lên bao nhiêu tầng lầu, ngoài những tầng tự nhiên có thể nhận thức được? Và họ đã gán cho nó biết bao nhiêu chức vụ cùng sứ mệnh?

Họ biến nó thành một thực thể cộng đồng tưởng tượng. Đó là một đề tài nằm trong tay họ để nhào nặn; và họ được trao toàn quyền để mổ xẻ, đặt để, thuyên chuyển, chắp vá và nhồi nhét nó, ai nấy đều theo sở thích riêng của mình, thế mà rốt cuộc họ vẫn chẳng tài nào nắm bắt nổi nó.

Họ không thể — không chỉ trong thực tế, mà ngay cả trong giấc mơ — cai quản nó sao cho không có một âm vận hay tiếng động nào sổng ra ngoài cấu trúc kiến trúc to lớn của họ, dẫu cho nó đồ sộ đến đâu và bị chắp vá bởi hàng ngàn mảnh vải dối trá, hoang đường thế nào đi nữa.

Và thật không hợp lý khi cứ mãi bào chữa cho họ; bởi vì mặc dù chúng ta tha thứ cho các họa sĩ khi họ vẽ bầu trời, mặt đất, biển cả, núi non và những hòn đảo xa xôi, vì họ chỉ cung cấp cho chúng ta một vài dấu hiệu mờ nhạt, và giống như những thứ chưa từng biết đến, chúng ta bằng lòng với một mô tả nhạt nhòa và tối tăm; thế nhưng khi họ vẽ chân dung chúng ta hoặc bất kỳ sinh vật nào quen thuộc đối với chúng ta, chúng ta lại đòi hỏi ở họ một sự tái hiện hoàn hảo và chính xác đến từng đường nét lẫn màu sắc, và sẽ khinh bỉ họ nếu họ làm hỏng việc đó.

Tôi rất thích cô gái xứ Miletus nọ, khi thấy triết gia Thales lúc nào cũng mải miết chiêm ngưỡng vòm trời và ngước mắt nhìn lên cao, đã đặt một vật cản đường để ông vấp ngã, nhằm nhắc nhở ông rằng tốt hơn hết là hãy bận tâm đến những thứ đang ở dưới chân mình trước khi nghĩ tới những chuyện trên mây xanh.

Chắc chắn cô đã khuyên ông đúng — thà lo cho chính mình còn hơn là ngước nhìn bầu trời; bởi vì, như Democritus đã nói qua lời của Cicero:—

Nhưng hoàn cảnh của chúng ta lại trớ trêu thay, sự hiểu biết về những gì đang nằm ngay trong tầm tay lại xa vời với chúng ta, và nằm trên mây xanh chẳng kém gì tri thức về các vì sao.

Như Socrates đã nói trong tác phẩm của Plato: “Bất cứ kẻ nào dấn thân vào triết học cũng sẽ bị quở trách hệt như Thales bị người phụ nữ nọ quở trách: hắn chẳng thấy gì ở ngay trước mắt mình cả. Bởi vì mọi triết gia đều dốt nát trước việc hàng xóm của họ đang làm gì; ừ thì, thậm chí dốt nát cả việc chính mình đang làm gì, và chẳng biết cả hai đứa chúng nó là dã thú hay con người.”

Những kẻ cho rằng luận điểm của Sebond quá yếu ớt, những kẻ không dốt nát bất cứ điều gì, những kẻ cai quản thế giới và thông thuộc mọi thứ:—

liệu có khi nào trong các trước tác của mình, họ cất lên tiếng kêu cứu trước những khó khăn khi muốn thấu hiểu chính bản chất của họ hay ngón tay cử động, bàn chân bước đi, một vài bộ phận tự động thực hiện các chuyển động theo ý muốn mà không cần sự đồng thuận của chúng ta, trong khi những bộ phận khác lại hành động theo sự chỉ đạo của ta; rằng một dạng nhận thức nào đó gây ra đỏ mặt, dạng khác gây ra tái nhợt; một ý niệm thế này chỉ tác động lên lá lách, ý niệm khác lại tác động lên não bộ; cái này gây ra tiếng cười, cái kia gây ra giọt nước mắt; cái nọ làm tê liệt và bàng hoàng toàn bộ các giác quan, làm ngưng trệ chuyển động của tất cả các chi; trước một sự vật, dạ dày sẽ buồn nôn, trước sự vật khác, một bộ phận nằm thấp hơn sẽ phản ứng — nhưng làm thế nào mà một ấn tượng tinh thần lại có thể xâm nhập sâu vào một khối thể đặc và chắc như thế, cùng bản chất của mối liên kết và cấu trúc giữa những cỗ máy và chuyển động tuyệt vời này, thì cho đến nay chưa một ai từng thấu hiểu: Omnia incerta ratione, et in naturae majestate abdita.

“Tất cả đều bất định trong lý lẽ, và ẩn giấu trong sự uy nghiêm của tự nhiên,” Pliny đã nói thế. Và Thánh Augustine: Modus quo corporibus adhaerent spiritus... omnino mirus est, nec comprehendi ab homine potest; et hoc ipse homo est.

“Phương thức mà linh hồn bám lấy thể xác quả thực là điều kỳ diệu tột cùng, con người không tài nào lĩnh hội nổi; và chính điều đó tạo nên con người.”

Thế mà điều đó thậm chí còn chẳng mảy may bị hoài nghi; bởi vì các quan niệm của con người được tiếp nhận theo niềm tin cổ xưa, thông qua uy quyền và sự tín nhiệm, cứ như thể đó là tôn giáo và luật pháp vậy. Nó được đón nhận như một thứ ngôn ngữ bập bẹ được nói hằng ngày; chân lý này, cùng với toàn bộ đống luận điệu và chứng cứ lộn xộn của nó, được dung nạp như một khối thể vững chắc, không thể lay chuyển thêm được nữa, cũng chẳng cần phải phán xét lại; trái lại, ai nấy đều tùy theo tài năng của mình, củng cố và gia cố cho niềm tin đã được tiếp nhận này bằng toàn bộ sức mạnh lý trí — một thứ công cụ mềm dẻo, dễ uốn nắn, có thể thích nghi với bất kỳ hình thù nào; và cứ thế, thế giới ngập tràn những lời dối trá và trò nhảm nhí.

Lý do khiến con người nghi ngờ đủ thứ chuyện chính là vì họ chưa bao giờ kiểm tra những ấn tượng thông thường; họ không đào sâu tới tận gốc rễ — nơi những sai sót và khiếm khuyết trú ngụ; họ chỉ tranh cãi trên mấy cái cành; họ không kiểm tra xem một sự việc nào đó có thực sự đúng hay không, mà chỉ xem nó đã được hiểu theo cách đó hay chưa; người ta không thắc mắc xem Galen có nói điều gì ra hồn không, mà chỉ hỏi xem ông ta nói thế này hay thế nôi.

Quả thực, việc chiếc xiềng xích kìm hãm sự tự do phán xét và sự độc tài đối với các ý kiến này được mở rộng ra đến các trường học và ngành nghệ thuật là hoàn toàn có cơ sở. Vị thần của triết học kinh viện chính là Aristotle; việc chất vấn bất kỳ sắc lệnh nào của ông ta bị coi là tội bất kính, hệt như luật lệ của Lycurgus ở Sparta; học thuyết của ông ta là một thứ luật lệ mang tính mệnh lệnh — thứ mà rất có thể cũng sai bét như bất kỳ học thuyết nào khác.

Tôi chẳng hiểu tại sao mình lại không sẵn lòng ôm ấp các ý niệm của Plato, các nguyên tử của Epicurus, thế giới đặc hay khoảng không của Leucippus và Democritus, nguồn nước của Thales, sự vô tận tự nhiên của Anaximander, không khí của Diogenes, những con số và sự đối xứng của Pythagoras, sự vô tận của Parmenides, thực thể Đơn Nhất của Musaeus, nước và lửa của Apollodorus, các phần tử tương đồng của Anaxagoras, sự bất hòa và tình bạn của Empedocles, ngọn lửa của Heraclitus, hay bất kỳ quan điểm nào khác trong mớ hỗn độn vô tận gồm các ý kiến và quyết định mà lý trí con người tinh tế này sản sinh ra thông qua sự chắc chắn và nhãn quan sắc sảo của nó trong mọi vấn đề mà nó nhúng tay vào — cũng như việc tôi ôm ấp quan điểm của Aristotle về chủ đề các nguyên tắc của vạn vật tự nhiên; những nguyên tắc mà ông ta xây dựng từ ba mảnh — vật chất, hình thái và sự thiếu vắng.

Và còn điều gì hoang đường hơn việc biến chính sự trống rỗng thành nguyên nhân sinh ra vạn vật? Sự thiếu vắng chỉ là một khái niệm phủ định; vậy thì bằng cách nào ông ta lại có thể biến nó thành nguyên nhân và cội nguồn của những thứ đang hiện hữu? Và thế là, điều đó sẽ chẳng có gì đáng để tranh cãi nếu không phải để luyện tay nghề cho logic học; chẳng có điểm nào bị tranh luận ở đây nhằm đưa nó vào vòng nghi vấn, mà chỉ để bảo vệ tác giả của trường phái trước những lời chỉ trích từ bên ngoài; uy quyền của ông ta chính là ranh giới “không được tiến xa hơn” — vượt qua đó, việc dò hỏi là điều bị cấm đoán.

Thật quá dễ dàng để dựa trên những nền tảng được chuẩn thuận nhằm xây dựng bất cứ thứ gì chúng ta muốn; bởi vì theo luật lệ và trình tự của phần khởi đầu này, các phần còn lại của cấu trúc sẽ dễ dàng được thi công mà không gặp bất kỳ sự sụp đổ nào. Bằng cách này, chúng ta thấy lý trí của mình có nền tảng vững chắc và tha hồ luận bàn một cách bừa bãi; bởi vì các bậc thầy của chúng ta đã chiếm lĩnh và thâu tóm trước trong niềm tin của chúng ta một khoảng không gian vừa đủ để sau đó họ có thể kết luận bất cứ điều gì họ thích, giống như cách các nhà hình học làm với những yêu cầu được chấp thuận trước — sự đồng thuận và tán thành mà chúng ta dành cho họ đã cung cấp cho họ phương tiện để lôi kéo chúng ta sang phải sang trái và xoay vần chúng ta theo ý muốn.

Bất cứ thứ gì nảy mầm từ những tiền đề này đều trở thành bậc thầy và vị thần của chúng ta; ông ta sẽ căn chỉnh nền tảng của mình thật rộng rãi và dễ dãi đến mức nhờ chúng, ông ta có thể đưa chúng ta lên tận mây xanh nếu ông ta muốn. Trong hoạt động và giao dịch này của khoa học, chúng ta đã mặc nhiên coi câu nói của Pythagoras — “Mọi chuyên gia đều xứng đáng được tin tưởng trong lĩnh vực của họ” — như tiền mặt lưu hành.

Nhà logic học đẩy nghĩa của từ ngữ sang cho nhà ngữ pháp; nhà hùng biện mượn trạng thái lập luận từ nhà logic học; nhà thơ mượn nhịp điệu từ nhạc sĩ; nhà hình học mượn tỷ lệ từ nhà số học, và các nhà siêu hình học lấy các phỏng đoán vật lý làm nền tảng cho mình; bởi vì mỗi ngành khoa học đều có một tiền đề được mặc định sẵn, nhờ đó phán quyết của con người luôn bị kìm giữ ở khắp mọi nơi.

Nếu bạn xông vào đụng độ với rào chắn nơi cội nguồn sai lầm ngự trị, họ sẽ ngay lập tức phun ra câu này: “Không thể tranh luận với những kẻ phủ nhận các nguyên tắc.” Giờ thì con người chẳng thể có nguyên tắc nào nếu chúng không được mạc khải bởi đấng thần linh; đối với tất cả những thứ còn lại, điểm đầu, điểm giữa và điểm cuối chẳng là gì ngoài những giấc mơ và hơi nước.

Đối với những kẻ tranh luận dựa trên tiền đề, trái lại, chúng ta phải áp đặt trước cho họ chính cái tiên đề mà cuộc tranh luận đang xoay quanh. Bởi vì mọi tiền đề và tuyên bố của con người đều có trọng lượng ngang bằng nhau, nếu lý trí không tạo ra sự khác biệt. Do đó, tất cả chúng phải được đặt lên bàn cân, trước hết là những quy luật chung và những kẻ đang thống trị chúng ta.

Sự quả quyết về tính chắc chắn chính là bằng chứng xác thực cho sự ngu ngốc và tính bất định tột độ; và chẳng có loại người nào ngu ngốc hơn, kém làm triết gia hơn những kẻ sùng bái ý kiến (Philodoxes) trong tác phẩm của Plato; chúng ta phải chất vấn xem lửa có thực sự nóng hay không? tuyết có thực sự trắng hay không? trong tầm hiểu biết của chúng ta có thực sự tồn tại cái gọi là cứng hay mềm hay không?

Và đối với những câu trả lời vốn được họ biến thành chuyện cổ tích, như kẻ từng nghi ngờ sự tồn tại của sức nóng bị họ bảo hãy tự nhảy vào lửa; và kẻ phủ nhận cái lạnh của băng bị họ bảo hãy nhét băng vào ngực — đó chỉ là những điều thảm hại, không xứng đáng với sứ mệnh của triết học.

Nếu họ để yên cho chúng ta sống trong bản tính tự nhiên, để tiếp nhận bề ngoài của các sự vật bên ngoài theo đúng cách chúng hiện diện trước các giác quan của mình, và cho phép chúng ta tuân theo những bản năng tự nhiên được chi phối bởi hoàn cảnh sinh nở của mình, thì họ có lẽ đã có lý khi nói năng theo kiểu đó; thế nhưng chính từ họ, chúng ta đã học được cách tự biến mình thành quan tòa phán xét thế giới; chính từ họ mà chúng ta nảy sinh ảo tưởng rằng “lý trí con người là tổng tư lệnh kiểm soát mọi thứ bên trong lẫn bên ngoài vòm trời; thứ thấu hiểu mọi thứ, có thể làm được mọi thứ; và nhờ nó, vạn vật được nhận thức và thấu triệt.”

Câu trả lời này sẽ rất hợp lý đối với những người ăn thịt người — những kẻ đang tận hưởng hạnh phúc của một cuộc sống lâu dài, yên bình và tĩnh lặng mà không cần đến các precepts của Aristotle, không cần biết đến tên gọi của vật lý học; câu trả lời này có lẽ còn có giá trị và sức nặng lớn hơn tất cả những thứ họ mượn từ lý trí và phát minh của mình; về điều này, tất cả loài vật, và mọi nơi mà sức mạnh của luật tự nhiên vẫn còn thuần khiết và đơn sơ, cũng sẽ có năng lực giống như chúng ta, nhưng đối với họ, họ đã từ bỏ nó rồi.

Họ không cần phải bảo chúng ta rằng: “Đó là sự thật, vì anh nhìn thấy và cảm nhận được nó là như vậy”; họ phải nói cho tôi biết liệu tôi có thực sự cảm nhận được những gì mình nghĩ là mình đang cảm nhận hay không; và nếu tôi thực sự cảm nhận được nó, họ phải giải thích tại sao tôi lại cảm nhận được nó, bằng cách nào, ra sao và là gì; hãy cho tôi biết tên gọi, nguồn gốc, các bộ phận và khớp nối của sức nóng và cái lạnh, các phẩm chất của tác nhân và thụ nhân; hoặc nếu không, hãy dẹp bỏ cái nghề của họ đi — thứ vốn không được phép thừa nhận hay chuẩn thuận bất kỳ điều gì ngoài con đường lý trí; đó chính là bài trắc nghiệm của họ trong mọi phép thử; nhưng chắc chắn, đó là một bài trắc nghiệm ngập tràn sự dối trá, sai lầm, yếu đuối và khiếm khuyết.

Còn cách nào tốt hơn để chứng minh điều đó ngoài chính bản thân nó? Nếu chúng ta không nên tin vào lý trí khi nó bàn về chính mình, thì người ta khó có thể coi nó là kẻ thích hợp để phán xét những thứ ngoại lai; nếu nó biết bất kỳ điều gì, thì ít nhất đó phải là bản thể và nơi trú ngụ của chính nó; nó nằm trong tâm hồn, hoặc là một phần, hoặc là hệ quả của tâm hồn; bởi vì lý trí đích thực và thiết yếu — thứ mà chúng ta mượn tên gọi một cách sai quấy — thực ra ngự trị trong lồng ngực của Đấng Tối Cao; đó là nơi ở và chốn nghỉ ngơi của nó; chính từ nơi đó nó truyền ra những tia sáng của mình, khi Thiên Chúa ban ơn truyền một tia sáng nào đó xuống cho nhân loại, giống như Pallas vọt ra từ đỉnh đầu cha mình để thông tỏ bản thân với thế giới.

Giờ hãy xem lý trí con người nói gì về chính nó và về tâm hồn — không phải bàn về tâm hồn nói chung (thứ mà hầu hết triết học đều cho rằng các thể thiên thể và nguyên thủy cùng dự phần), cũng không phải thứ tâm hồn mà Thales gán cho những vật thể vốn được coi là vô tri, bị lôi kéo bởi hiện tượng nam châm; mà là thứ thuộc về chúng ta, và là thứ chúng ta cần phải thấu hiểu rõ nhất:—

Crates và Dicaearchus có quan điểm rằng hoàn toàn không có tâm hồn nào cả, mà cơ thể chỉ chuyển động nhờ một vận động tự nhiên; Plato cho rằng nó là một thực thể tự chuyển động; Thales — một bản tính không bao giờ nghỉ ngơi; Asclepiades — sự thực hành của các giác quan; Hesiod và Anaxamander — một thứ được cấu thành từ đất và nước; Parmenides — từ đất và lửa; Empedocles — từ máu:—

Posidonius, Cleanthes và Galen cho rằng nó là hơi ấm hoặc một thể tạng nóng:—

Hippocrates — một thứ linh khí lan tỏa khắp cơ thể; Varro — không khí được hít vào qua đường miệng, được làm nóng trong phổi, làm ẩm trong tim và lan tỏa khắp cơ thể; Zeno — tinh chất của bốn nguyên tố; Heraclides Ponticus — ánh sáng; Xenocrates và người Ai Cập — một con số di động; người Chaldean — một quyền lực không có hình thù xác định:—

Chúng ta đừng quên Aristotle — kẻ cho rằng tâm hồn là thứ tự nhiên khiến cơ thể chuyển động, mà ông ta gọi là entelechia, với một phát minh nhạt nhẽo chẳng kém gì những kẻ khác; bởi vì ông ta chẳng hề đả động gì đến bản chất, nguồn gốc hay bản tính của tâm hồn, mà chỉ ghi nhận hệ quả của nó.

Lactantius, Seneca và hầu hết các nhà giáo điều đều thừa nhận rằng đó là một thứ vượt quá sự hiểu biết của họ; sau toàn bộ danh sách các quan điểm ấy: Harum sententiarum qua vera sit, Deus aliquis viderit: “Trong số những quan điểm này, đâu là sự thật, hãy để vị thần nào đó phân định,” Cicero nói vậy. “Tôi tự hiểu qua chính mình,” Thánh Bernard nói, “rằng Thiên Chúa khó hiểu đến nhường nào, khi mà ngay cả các bộ phận của bản thể chính mình tôi cũng chẳng tài nào thấu hiểu nổi.”

Heraclitus — người cho rằng mọi thực thể đều ngập tràn các linh hồn và thần linh — dẫu vậy vẫn duy trì quan điểm rằng không ai có thể tiến sâu vào việc thấu hiểu tâm hồn để mà chạm tới nó; bản chất của nó quá đỗi thâm sâu.

Cũng chẳng có ít hơn những tranh cãi và bàn cãi xung quanh vị trí trú ngụ của nó. Hippocrates và Hierophilus đặt nó ở tâm thất của não bộ; Democritus và Aristotle cho rằng nó nằm ở khắp cơ thể:—

Epicurus đặt nó ở dạ dày;

Phái Khắc Kỷ đặt nó ở xung quanh và bên trong trái tim; Erasistratus — vùng giáp ranh màng da đầu; Empedocles — trong máu; và Moses cũng vậy, đó là lý do vì sao ông cấm ăn máu của loài vật, bởi vì tâm hồn trú ngụ ở đó; Galen cho rằng mọi bộ phận của cơ thể đều có tâm hồn riêng; Strato đặt nó ở giữa hai lông mày: Quo facie quidem sit animus, aut ubi habitet, ne quaerendum quidem est: “Tâm hồn có hình thù gì, hay nó trú ngụ ở bộ phận nào, thậm chí còn không cần phải đem ra tra hỏi,” Cicero nói.

Tôi rất sẵn lòng nhường lại tác giả này cho các bạn bằng chính ngôn từ của ông; bởi vì nếu tôi cải biên thì hóa ra là đánh cắp sự hùng biện của chính nó hay sao? Hơn nữa, ăn cắp nội dung các phát minh của ông ta chẳng phải là món hời lớn gì; chúng không mấy phổ biến, cũng chẳng có trọng lượng lớn, và ai nấy đều biết rõ rồi.

Nhưng lý do tại sao Chrysippus lập luận rằng tâm hồn nằm quanh tim, giống như tất cả các môn đệ khác của giáo phái đó, là một điều không thể bỏ qua: “Đó là,” ông ta nói, “bởi vì khi chúng ta muốn khẳng định bất cứ điều gì, chúng ta đặt tay lên ngực; và khi chúng ta muốn phát âm từ ‘egô,’ nghĩa là ‘tôi,’ chúng ta thả hàm dưới trôi xuống phía dạ dày.”

Đoạn này không thể bỏ qua mà không đưa ra một lời nhận xét về sự phù phiếm của một vĩ nhân như thế; bởi vì ngoài việc những cân nhắc này tự thân chúng vô cùng hời hợt, thì luận điểm sau chỉ là một chứng minh áp dụng riêng cho người Hy Lạp rằng linh hồn của họ trú ngụ ở vùng đó mà thôi.

Chẳng có phán quyết nào của con người lại lanh lẹ và tỉnh táo đến mức không có lúc ngủ quên. Tại sao chúng ta lại phải ngại ngùng khi nói ra cơ chứ? Phái Khắc Kỷ — những người cha đẻ của sự khôn ngoan nhân loại — cho rằng linh hồn của một con người bị nghiền nát dưới đống đổ nát sẽ phải vật lộn và cố gắng vẫy vùng để thoát ra, hệt như một con chuột sa bẫy, trước khi nó có thể tự giải thoát mình khỏi gánh nặng đó.

Một số kẻ cho rằng thế giới được tạo ra là để cung cấp thể xác nhằm trừng phạt những linh hồn sa ngã — do lỗi lầm của chính họ — khỏi sự thanh khiết mà họ từng được tạo dựng, bởi vì sự sáng tạo ban đầu vốn là phi vật thể; và rằng tùy theo việc họ sa đọa khỏi tính linh thiêng ít hay nhiều, họ sẽ bị giam cầm vào thể xác một cách vui vẻ hoặc nặng nề tương ứng; và từ đó sinh ra toàn bộ sự đa dạng của vật chất đã tạo sinh.

Nhưng linh hồn vì hình phạt mà bị khoác lên thể xác của mặt trời chắc chắn phải sở hữu một mức độ biến đổi vô cùng hiếm hoi và đặc biệt.

Tột cùng của sự dò xét của chúng ta đều rơi vào sự bàng hoàng và mù lòa; giống như Plutarch nói về chứng cứ của lịch sử rằng theo các biểu đồ và bản đồ, những biên giới tận cùng của các xứ sở được biết đến đều bị chiếm chỗ bởi đầm lầy, những khu rừng rậm không thể xuyên thủng, sa mạc và những vùng đất không thể sinh sống; đó là lý do vì sao những lời lảm nhảm thô lỗ và ngây ngô nhất lại xuất hiện nhiều nhất ở những tác giả bàn về các chủ đề cao siêu nhất và tiến xa nhất trong đó, để rồi tự lạc lối trong chính sự tò mò và tự phụ của bản thân.

Khởi đầu và kết thúc của tri thức đều ngu ngốc như nhau; hãy quan sát tầm bay vút của Plato trong những đám mây thi vị của ông; hãy chú ý đến thứ ngôn ngữ bập bẹ của các vị thần ở đó; nhưng rốt cuộc ông đã mơ tưởng cái gì khi định nghĩa con người là “một sinh vật hai chân không có lông vũ — qua đó trao cho những kẻ thích chế nhạo ông một cơ hội béo bở; bởi vì họ đã nhổ trụi lông một con gà trống sống, rồi đem đi khắp nơi hô hào rằng đó chính là con người theo định nghĩa của Plato.”

Và các nhà tư tưởng phái Epicurus đã nghĩ gì, xuất phát từ sự ngây thơ nào mà họ lần đầu tiên tưởng tượng ra rằng các nguyên tử — thứ mà họ gọi là những thể có trọng lượng và chuyển động tự nhiên hướng xuống dưới — đã tạo ra thế giới; cho đến khi họ được các đối thủ nhắc nhở rằng theo mô tả này, việc chúng kết hợp và gắn chặt vào nhau là điều bất khả thi, vì cú rơi của chúng quá thẳng đứng và tạo ra quá nhiều đường song song xuyên suốt?

Đó là lý do tại sao họ buộc phải bổ sung thêm một chuyển động ngẫu nhiên và theo chiều ngang, và hơn thế nữa, họ còn phải trang bị cho các nguyên tử của mình những chiếc đuôi có móc để chúng có thể bám vào và níu lấy nhau.

Và ngay cả khi đó, những kẻ tấn công họ dựa trên cân nhắc thứ hai này chẳng phải đã dồn họ vào chân tường đó sao? “Nếu các nguyên tử tình cờ tạo ra vô số loại hình thù như vậy, tại sao chưa từng có lần nào chúng tình cờ tạo ra một ngôi nhà hay một chiếc giày? Tại sao với tốc độ tương tự, chúng ta lại không tin rằng một số lượng vô hạn các chữ cái Hy Lạp rải rác ở một nơi nào đó có thể tự rơi vào cấu trúc của bộ sử thi Iliad?”

“Bất cứ thứ gì có khả năng lý luận,” Zeno nói, “đều tốt hơn thứ không có khả năng ấy; không có gì tốt hơn thế giới; do đó thế giới có khả năng lý luận.” Cotta, thông qua lối lập luận này, biến thế giới thành một nhà toán học; và thế giới cũng được biến thành một nhạc sĩ và một nghệ sĩ chơi đàn ống bởi một luận điểm khác của Zeno: “Toàn thể luôn lớn hơn một phần; chúng ta có khả năng khôn ngoan, và chúng ta là một phần của thế giới; do đó thế giới khôn ngoan.”

Có vô số ví dụ tương tự, không chỉ về những luận điểm sai lầm về mặt bản chất, mà còn ngớ ngẩn, không đứng vững được trên đôi chân của chính mình, và tố cáo tác giả của chúng — không phải là những kẻ dốt nát mà là thiếu thận trọng — qua những lời lởm chởm mà các triết gia ném vào mặt nhau dựa trên sự bất đồng giữa các giáo phái và quan điểm của họ.

Bất kỳ ai gom góp lại được một bó củi thật chắc chắn gồm những trò hề của sự khôn ngoan nhân loại hẳn sẽ tạo ra được những kỳ quan. Tôi xin tự nguyện tập hợp một vài ví dụ làm mẫu này, bởi vì xét theo một ý nghĩa nào đó, việc nghiền ngẫm chúng cũng mang lại lợi ích chẳng kém gì những lời giáo huấn vững chãi và điều độ nhất.

Hãy nhìn vào đó để phán xét xem chúng ta nên có quan điểm thế nào về con người, về tri giác và lý trí của anh ta, khi mà ngay ở những nhân vật vĩ đại từng nâng tầm kiến thức nhân loại lên cao đến thế, người ta vẫn tìm thấy vô số sai lầm thô lỗ và rành rành những lỗi lầm hiển nhiên.

Về phần mình, tôi có xu hướng tin rằng họ đã bàn về tri thức một cách ngẫu hứng và như một món đồ chơi bằng cả hai tay; họ tranh luận về lý trí hệt như một công cụ hão huyền và phù phiếm, tung ra đủ mọi thứ ý tưởng và phát minh, lúc thì gân guốc, lúc thì yếu ớt.

Chính vị Plato này — kẻ định nghĩa con người cứ như thể hắn là một con gà trống — đã phát biểu ở một chỗ khác, theo lời Socrates: “Rằng thực ra ông không biết con người là gì, và hắn là một thành phần của thế giới khó thấu hiểu nhất.” Thông qua sự đa dạng và bất ổn của các quan điểm này, họ ngầm dẫn dắt chúng ta, tựa như cầm tay chỉ việc, đi đến kết luận về sự bất định của chính họ.

Họ không phải lúc nào cũng tuyên bố trần trụi và rõ mồn một các quan điểm của mình cho chúng ta; đôi khi họ ngụy trang chúng trong những chiếc bóng thần thoại của thơ ca, đôi khi lại khoác lên một chiếc mặt nạ khác; bởi vì sự bất toàn của chúng ta cũng mang theo điều này: món ăn thô không phải lúc nào cũng thích hợp cho dạ dày của chúng ta; chúng ta phải phơi khô, biến đổi và trộn lẫn nó; họ cũng làm y như vậy; đôi khi họ che giấu các quan điểm và phán quyết thực sự của mình, rồi bóp méo chúng để thích nghi với cách dùng chung của công chúng.

Họ không muốn công khai tuyên bố sự dốt nát và tính bất năng của lý trí con người, cốt để không làm trẻ con hoảng sợ; nhưng họ bộc lộ điều đó với chúng ta một cách đầy đủ dưới vỏ bọc của một ngành khoa học rối loạn và bất định.

Tôi từng khuyên một người ở Ý — kẻ rất có hứng thú muốn nói tiếng Ý, rằng miễn là anh ta chỉ có mong muốn làm sao để người ta hiểu mình, chứ không ôm tham vọng vượt trội nào khác — cứ việc sử dụng từ ngữ đầu tiên xuất hiện ở đầu lưỡi, dù đó là tiếng Latinh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha hay tiếng Gascon, và chỉ cần gắn thêm đuôi tiếng Ý vào, chắc chắn anh ta sẽ vớ được một phương ngữ nào đó của xứ sở, hoặc Tuscan, Roman, Venetian, Piedmontese hay Neapolitan, và nhờ thế mà lọt vào một trong số rất nhiều hình thức ấy.

Tôi cũng nói điều tương tự về Triết học; cô ta có quá nhiều gương mặt, quá nhiều sự đa dạng và đã nói quá nhiều điều, đến mức mọi giấc mơ và lời lảm nhảm của chúng ta đều có thể tìm thấy ở đó. Trí tưởng tượng của con người không thể hình dung ra bất cứ thứ gì tốt hay xấu mà không có sẵn ở đó: Nihil tam absurde dici potest, quod non dicatur ab aliquo philosophorum.

“Không có điều gì ngớ ngẩn đến mấy đi nữa mà lại chưa từng được thốt ra trước đó bởi một triết gia nào đó.”

Và tôi lại càng sẵn lòng phơi bày những trò tùy hứng của mình trước công chúng; bởi vì dẫu cho chúng được dệt nên từ chính tôi và không theo bất kỳ khuôn mẫu nào, tôi biết chúng sẽ được tìm thấy là có liên quan đến một tâm lý cổ xưa nào đó, và sẽ có kẻ không ngần ngại thốt lên: “Kìa, xem hắn mượn nó từ đâu kìa!”

Tác phong của tôi hoàn toàn tự nhiên, tôi chưa từng viện đến sự trợ giúp của bất kỳ kỷ luật nào để dựng nên chúng; nhưng dẫu yếu ớt đến đâu, khi tôi nảy ý định phơi bày chúng ra trước ánh mắt thế gian, và để chưng diện chúng dưới một vẻ bề ngoài đoan trang hơn một chút, tôi đã đi tô điểm chúng bằng lý lẽ và ví dụ, để rồi chính tôi cũng phải ngạc nhiên khi tình cờ nhận ra chúng hoàn toàn phù hợp với vô số các trước tác và ví dụ triết học.

Tôi chưa từng biết cuộc đời mình tuân theo chế độ nào cho đến khi nó sắp mòn mỏi và tàn lụi; một nhân vật mới — một triết gia bất đắc dĩ và chưa từng được trù tính trước.

Nhưng xin quay trở lại với tâm hồn. Vì Plato đã đặt lý trí ở não bộ, sự giận dữ ở trái tim, và ham muốn xác thịt ở gan; rất có thể đó chỉ là cách diễn giải về các chuyển động của tâm hồn, hơn là việc ông có ý định phân chia và tách rời nó thành nhiều bộ phận giống như thể xác.

Và quan điểm hợp lý nhất trong số các quan điểm của họ là: nó vẫn luôn là một tâm hồn duy nhất, thông qua năng lực của mình, suy ngẫm, ghi nhớ, thấu hiểu, phán xét, khao khát và thực hiện mọi hoạt động khác thông qua các công cụ khác nhau của cơ thể; cũng như người lái tàu điều khiển con thuyền theo kinh nghiệm của mình, lúc thì kéo căng hay chùng dây thừng, lúc thì giương buồng chính, hoặc bẻ lái, bằng chính một quyền lực duy nhất mà tạo ra nhiều tác động khác nhau; và nó ngự trị trong não bộ — điều này được thể hiện rõ qua việc những vết thương và tai nạn tác động vào bộ phận đó sẽ ngay lập tức làm tổn hại đến các chức năng của tâm hồn; và việc nó lan tỏa từ đó ra các bộ phận khác của cơ thể cũng chẳng có gì là bất hợp lý cả:—

Cũng như mặt trời rọi ánh sáng và ảnh hưởng của nó từ thiên đàng, rồi lấp đầy thế giới bằng những thứ đó:—

Một số người đã cho rằng có một linh hồn chung, tựa như một thân thể lớn, nơi mọi linh hồn cá thể được rút ra và rồi lại quay về đó, luôn tự phục hồi vào nguyên thể vũ trụ ấy:—

Những người khác cho rằng chúng chỉ tái hợp và đoàn tụ với nguyên thể; kẻ khác lại cho rằng chúng được sản sinh từ bản thể thần thánh; kẻ khác nữa thì cho rằng do các thiên thần lửa và không khí tạo ra; có người bảo chúng đã có từ ngàn xưa; và một số người cho rằng chúng được tạo ra đúng vào thời điểm cơ thể cần đến chúng; những người khác lại bắt chúng xuất phát từ quỹ đạo mặt trăng rồi quay trở lại đó; đa số người cổ đại tin rằng chúng được sinh ra từ cha sang con theo một cách tương tự, và được sản sinh cùng với tất cả các sinh vật tự nhiên khác; lấy luận điểm từ sự giống nhau giữa con cái với cha mẹ:—

Và từ đó công lý thần thánh được xây dựng nên, trừng phạt tội lỗi của cha ông lên đầu con cái; bởi vì sự lây nhiễm từ các thói hư tật xấu của người cha ít nhiều được khắc sâu vào tâm hồn đứa trẻ, và sự cai quản sai quấy trong ý chí của họ kéo dài đến đời con cháu; hơn nữa, nếu linh hồn có nguồn gốc nào khác ngoài hệ quả tự nhiên, và nếu chúng từng là một thứ gì đó nằm ngoài thể xác, chúng ắt phải giữ lại một chút ký ức về sự tồn tại ban đầu của mình, xét đến các năng lực tự nhiên vốn có của chúng như luận bàn, suy luận và ghi nhớ:—

Bởi vì, để biến trạng thái của linh hồn thành như chúng ta muốn, chúng ta phải giả định rằng chúng vốn thông tuệ mọi thứ, ngay cả trong sự đơn sơ và thanh khiết tự nhiên của chúng; qua những phương tiện đó, khi được tự do khỏi nhà tù thể xác, chúng sẽ y hệt như thế cả trước khi bước vào, lẫn như chúng ta hy vọng sau khi bước ra; và từ sự hiểu biết đó, khi đã chui vào trong thể xác, chúng phải nhớ lại mọi thứ, như Plato từng nói: “Những gì chúng ta học chẳng qua chỉ là sự hồi tưởng về những gì ta đã biết từ trước”; một điều mà bất kỳ ai cũng có thể thực tế chứng minh là sai lầm.

Bởi vì, trước hết, chúng ta không hề nhớ chính xác bất cứ điều gì ngoài những gì đã được dạy, và nếu ký ức thực sự làm tròn nhiệm vụ của nó, ít nhất nó phải gợi ý cho chúng ta một điều gì đó vượt hơn những gì ta đã học. Thứ hai, những gì nó từng biết khi còn ở trong trạng thái thanh khiết là một chân lý đích thực, thấu hiểu vạn vật đúng như bản chất của chúng nhờ trí tuệ thần thánh; trong khi ở đây, chúng ta bắt nó tiếp nhận sự dối trá và thói hư tật xấu khi ta dạy dỗ nó; trong đó nó không thể vận dụng sự hồi tưởng của mình, vì hình ảnh và ý niệm đó chưa từng được gieo trồng trong nó.

Nói rằng nhà tù thể xác bóp nghẹt các năng lực tự nhiên của nó đến mức chúng bị triệt tiêu hoàn toàn, trước hết là đi ngược lại với niềm tin kia — niềm tin thừa nhận quyền năng của nó quá vĩ đại, và các tác động của nó mà con người có thể cảm nhận rõ ràng trong đời này quá tuyệt vời, đến mức từ đó người ta đã kết luận về sự thần thánh, sự vĩnh hằng trong quá khứ và sự bất tử trong tương lai:—

Hơn nữa, chính ở nơi chúng ta đây chứ không phải ở đâu khác, sức mạnh và các tác động của linh hồn mới cần phải được xem xét; tất cả những sự hoàn hảo khác của nó đều vô ích và vô dụng đối với chính nó; chính nhờ trạng thái hiện tại này mà mọi sự bất tử của nó sẽ được đền bù và trả công, và nó chỉ phải giải trình về cuộc đời của con người mà thôi.

Thật là bất công khi tước đoạt phương tiện và quyền năng của nó; tước vũ khí của nó trong thời gian nó bị giam cầm và cầm tù trong da thịt, đổ lỗi cho sự yếu đuối và bệnh tật của nó vào lúc nó bị ép buộc và thống trị, để rồi đưa ra một bản án và sự kết án vĩnh viễn, kéo dài vô tận, trong khi lại chỉ chăm chăm cân nhắc một khoảng thời gian quá ngắn ngủi — có lẽ chỉ một hai giờ, hoặc cùng lắm là một thế kỷ — thứ chẳng có tỷ lệ nào so với sự vĩnh cửu ngoài một khoảnh khắc; trong khoảng thời gian chớp nho้าง này mà định đoạt và phán quyết dứt khoát về toàn bộ bản thể của nó; đó là một sự bất cân xứng vô lý khi ấn định một phần thưởng vĩnh hằng để đổi lấy một cuộc đời quá đỗi ngắn ngủi.

Plato, để tự biện hộ cho sự bất cập này, muốn các phán quyết trả ơn trong tương lai bị giới hạn trong thời hạn một trăm năm, tương quan với thời lượng sinh tồn của con người; và ngay trong chúng ta cũng có không ít kẻ từng ấn định những giới hạn tạm thời cho chúng.

Qua đó, họ phán đoán rằng sự sinh ra của linh hồn tuân theo điều kiện chung của vạn vật con người, cũng như cuộc đời của nó, theo quan điểm của Epicurus và Democritus — quan điểm được đón nhận nhiều nhất; dựa trên những biểu hiện tốt đẹp này: họ thấy nó sinh ra, và khi cơ thể ngày càng phát triển, họ thấy nó cũng gia tăng sinh lực theo đà lớn lên của thể xác; sự yếu ớt của nó thời thơ ấu là điều hiển nhiên, rồi theo thời gian là sức mạnh và sự trưởng thành tốt hơn, để rồi sau đó là sự suy tàn, tuổi già, và cuối cùng là sự lẩm cẩm:

Họ nhận thấy nó có khả năng mang các cảm xúc khác nhau, và bị lay động bởi những chuyển động đau đớn khác nhau, từ đó rơi vào trạng thái mệt mỏi và bứt rứt; có khả năng thay đổi và biến hóa, vui vẻ, đần độn hay uể oải, và dễ mắc các bệnh tật cùng tổn thương hệt như dạ dày hay bàn chân;—

bị làm cho lóa mắt, choáng váng bởi hơi men của rượu, bị đánh bật khỏi ngai vàng bởi hơi nước của một cơn sốt dữ dội, bị chuốc cho chìm vào giấc ngủ bởi một số dược phẩm và bị đánh thức bởi những thứ khác:—

họ thấy nó bàng hoàng và lật nhào trong mọi chức năng chỉ bởi vết cắn của một con chó dại, và trong trạng thái đó không còn chút sự ổn định nào của lý trí, không còn năng lực, không còn đức hạnh, không còn sự kiên định triết học, không một sức kháng cự nào có thể miễn dịch nó khỏi sự chi phối của những tai nạn đó; bọt mép của một con chó cỏ hèn mọn vương trên tay Socrates cũng đủ làm rung chuyển toàn bộ sự khôn ngoan của ông cùng tất cả những tưởng tượng vĩ đại và có trật tự của ông, rồi tiêu diệt chúng, đến mức chẳng còn chút dấu vết nào sót lại từ kiến thức trước đó của ông,—

và thứ độc dược ấy không gặp phải sự kháng cự nào lớn hơn trong tâm hồn vĩ đại đó so với một đứa trẻ bốn tuổi; một chất độc đủ sức làm cho mọi triết học, nếu nó hóa thân thành người, phải nổi điên và cuồng loạn; đến mức Cato — kẻ từng khinh bỉ cái chết và vận mệnh — cũng không chịu nổi khi nhìn vào gương hay nhìn thấy nước, ngập tràn trong sự kinh hoàng và sợ hãi trước ý nghĩ rơi vào căn bệnh mà các y sĩ gọi là chứng sợ nước (hydrophobia):—

Giờ thì, về mặt này, triết học đã trang bị đầy đủ cho con người để đối mặt với tất cả các tai nạn khác — hoặc bằng sự kiên nhẫn, hoặc nếu cái giá của việc tìm kiếm sự kiên nhẫn ấy quá đắt, thì bằng một sự đánh bại không thể sai lầm, đó là tước bỏ hoàn toàn mọi giác quan ở bản thân; nhưng những biện pháp này chỉ hữu ích đối với một tâm hồn đang ở trạng thái bình thường, với toàn bộ quyền năng, có khả năng suy ngẫm và đắn đo; chứ hoàn toàn không thích hợp cho rắc rối này, nơi mà trong một triết gia, tâm hồn lại biến thành tâm hồn của một kẻ điên, bị quấy rối, lật nhào và đánh mất chính mình; điều mà rất nhiều hoàn cảnh có thể gây ra — chẳng hạn như một sự dao động quá dữ dội mà bất kỳ cảm xúc bạo liệt nào cũng có thể tự sinh ra trong tâm hồn; hoặc một vết thương ở một bộ phận nào đó trên cơ thể; hay hơi nước từ dạ dày — bất kỳ điều nào trong số đó cũng có thể làm tê liệt trí tuệ và làm đảo lộn não bộ.

Tôi có cảm giác các triết gia không đả động nhiều đến dây đàn này, cũng chẳng kém gì một dây đàn khác có tầm quan trọng tương đương; họ cứ nhai đi nhai lại cái thế lưỡng nan này để an ủi tình cảnh phàm trần của chúng ta: “Linh hồn hoặc là hữu hạn, hoặc là bất tử; nếu hữu hạn, nó sẽ chẳng chịu đau đớn gì; nếu bất tử, nó sẽ chuyển sang một trạng thái tốt hơn.” Họ không bao giờ đụng đến nhánh còn lại: “Nhưng lỡ nó chuyển sang trạng thái tồi tệ hơn thì sao?” và đành để mặc những lời đe dọa về các cực hình tương lai cho các nhà thơ. Nhưng qua đó, họ tự chuốc lấy một trò vui cho mình. Đó là hai sự thiếu sót mà tôi thường bắt gặp trong các bài thuyết giảng của họ. Tôi xin quay lại với điểm đầu tiên.

Tâm hồn này đánh mất đi công dụng của điều thiện tối cao theo phái Khắc Kỷ — thứ vốn vô cùng kiên định và vững chắc. Sự khôn ngoan nhân loại tốt đẹp của chúng ta lúc này buộc phải chịu thua và buông vũ khí. Về phần còn lại, họ cũng nhận thức được, thông qua sự phù phiếm của lý trí con người, rằng việc dung hợp và kết hợp của hai thứ trái ngược nhau như cái hữu hạn và cái bất tử là điều không tài nào tưởng tượng nổi:—

Hơn nữa, họ nhận thấy tâm hồn cũng đang hướng đến cái chết chẳng kém gì thể xác:—

điều mà theo Zeno, hình ảnh của giấc ngủ thể hiện rõ cho chúng ta thấy; bởi vì ông nhìn nhận giấc ngủ “như một sự ngất lịm và sa ngã của tâm hồn cũng như của thể xác”: Contrahi animum et quasi labi putat atque decidere: và điều mà họ nhận thấy ở một số người — rằng tâm hồn vẫn duy trì sinh lực và sức mạnh cho đến hơi thở cuối cùng — được họ quy cho sự khác biệt của các bệnh tật, cũng như việc người ta quan sát thấy ở những kẻ đang ở ranh giới cận kề cái chết, rằng một số người giữ lại được giác quan này, kẻ khác giữ lại giác quan khác; người giữ được thính giác, kẻ giữ được khứu giác, mà không gặp bất kỳ sự suy giảm hay biến đổi nào; và rằng không có sự tước đoạt nào mang tính phổ quát đến mức không còn lại một vài bộ phận nào vẫn giữ được sự sung sức và nguyên vẹn:—

Tầm nhìn của phán quyết chúng ta đối với chân lý cũng giống như đôi mắt của con cú đối với ánh sáng rực rỡ của mặt trời, Aristotle đã nói thế. Còn cách nào tốt hơn để thuyết phục ông ta, ngoài sự mù lòa thô lỗ ấy ngay giữa một ánh sáng rành rành? Đối với quan điểm ngược lại về tính bất tử của tâm hồn — thứ mà theo Cicero cho biết, ít nhất là theo chứng cứ từ sách vở, lần đầu tiên được giới thiệu bởi Pherecydes

Syrius vào thời Vua Tullus (dù một số người quy nó cho Thales, số khác cho những người khác) — đó là phần thuộc về khoa học nhân loại được bàn luận với sự hoài nghi và dè dặt lớn nhất.

Những nhà giáo điều quả quyết nhất cũng buộc phải — đặc biệt là trong vấn đề này — tìm đến nơi nương náu của Viện Hàn lâm. Không ai hoài nghi những gì Aristotle đã thiết lập về chủ đề này, cũng như tất cả những người cổ đại nói chung — những kẻ bàn về nó với một niềm tin dao động: Rem gratissimam promittentium magis quam probantium: “Một điều dễ được đón nhận ở những kẻ hứa hẹn hơn là ở những kẻ chứng minh.” Ông ta ẩn mình trong những đám mây ngôn từ mang ý nghĩa khó hiểu, mơ hồ, và để lại cho các môn đồ của giáo phái mình một cuộc tranh cãi lớn về phán quyết của ông ta chẳng kém gì về chính bản thân vấn đề đó.

Có hai điều khiến quan điểm này có vẻ hợp lý đối với họ; một là, nếu thiếu đi tính bất tử của linh hồn, sẽ chẳng có gì làm nền tảng cho những hy vọng hão huyền về vinh quang — một cân nhắc có uy tín tuyệt vời trên thế giới; hai là, đó là một ấn tượng vô cùng có lợi, như Plato đã nói, rằng các thói hư tật xấu, khi thoát khỏi sự phát hiện và nhận diện của công lý con người, vẫn nằm trong tầm với của công lý thần thánh — thứ sẽ truy đuổi chúng ngay cả sau cái chết của kẻ có tội.

Con người vô cùng tha thiết trong việc kéo dài sự tồn tại của mình, và đã tận dụng tối đa khả năng để chuẩn bị cho điều đó; có những đài tưởng niệm để bảo tồn thể xác, và vinh quang để gìn giữ tên tuổi. Anh ta huy động toàn bộ sự khôn ngoan và quan điểm của mình để tái thiết lập bản thân, tỏ ra thiếu kiên nhẫn trước vận mệnh của mình, và tự chống đỡ bằng các phát minh của bản thân.

Tâm hồn, vì sự lo lắng và bất lực của chính mình, không thể tự đứng vững được, nên cứ lang thang khắp nơi để tìm kiếm sự an ủi, hy vọng, những nền tảng và hoàn cảnh xa lạ để bám víu và neo đậu; và dẫu cho những phát minh ấy có hời hợt hay hoang đường đến đâu đi nữa, nó vẫn sẵn sàng và tự tin nương tựa vào chúng hơn là vào chính bản thân mình.

Nhưng thật kỳ diệu khi quan sát thấy những kẻ bảo vệ kiên định và ngoan cố nhất cho niềm tin chính đáng và trong sáng này về tính bất tử của tâm hồn lại tỏ ra hụt hẫng nhường nào, và các luận điểm của họ yếu ớt ra sao khi họ cố gắng chứng minh nó bằng lý trí con người: Somnia sunt non docentis, sed optantis: “Đó là những giấc mơ, không phải của người dạy, mà là của kẻ hoang tưởng,” một người cổ đại đã nói thế.

Thông qua chứng cứ đó, con người có thể nhận ra rằng anh ta nợ chân lý mà chính mình tìm ra là nhờ vận may và sự tình cờ; bởi vì ngay cả khi nó đã rơi vào tay anh ta, anh ta cũng chẳng có gì trong tay để nắm giữ và duy trì nó, và lý trí của anh ta không đủ sức mạnh để tận dụng nó. Mọi thứ do sự chiêm nghiệm và trí tuệ của chính chúng ta sản sinh ra — dù đúng hay sai — đều phải chịu sự bất định và tranh cãi.

Chính để trừng phạt sự kiêu ngạo của chúng ta, và để giáo dục về tình trạng khốn cùng cùng sự bất lực của chúng ta, mà Thiên Chúa đã tạo ra sự rối rắm và hỗn loạn của tòa tháp Babel. Bất cứ điều gì chúng ta đảm nhận mà không có sự trợ giúp của ngài, bất cứ điều gì chúng ta nhìn thấy mà không có ngọn đèn ân sủng của ngài, thì chỉ là sự hão huyền và ngu ngốc.

Chúng ta làm vẩn đục chính bản chất của chân lý — thứ vốn đồng nhất và kiên định — bằng sự yếu đuối của mình, khi vận may trao nó vào tay chúng ta. Dù con người có chọn con đường nào đi nữa, Thiên Chúa vẫn để mặc cho nó đi đến sự hỗn loạn tương tự — hình ảnh mà ngài đã thể hiện rất sống động qua sự trừng phạt chính đáng khi ngài đè bẹp sự kiêu ngạo của Nimrod và làm phá sản nỗ lực hão huyền trong cấu trúc kiêu ngạo của hắn; Perdam sapientiam sapientium, et prudentiam prudentium reprobabo. “Ta sẽ tiêu hủy sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan, và sẽ vứt bỏ sự hiểu biết của kẻ minh triết.”

Sự đa dạng của các thứ tiếng và ngôn ngữ mà ngài dùng để làm rối loạn công trình này, nào có khác gì sự biến đổi và bất hòa vô tận, vĩnh viễn của các quan điểm cùng lý lẽ vốn đi kèm và làm hoang mang tòa nhà hão huyền của sự khôn ngoan nhân loại; và điều đó lại mang lại hiệu quả rất tốt; bởi vì nếu chúng ta có lấy dù chỉ một hạt giống tri thức, điều gì sẽ kìm chân chúng ta lại được cơ chứ?

Vị thánh này đã làm ơn rất lớn cho tôi: Ipsa veritatis occultatio aut humilitatis exercitatio est, aut elationis attritio. “Chính việc che giấu chân lý hoặc là một bài tập rèn luyện sự khiêm nhường, hoặc là sự mài mòn thói kiêu ngạo.” Chúng ta nâng tầm sự mù lòa và ngu ngốc của mình lên đến mức độ kiêu ngạo và xấc xược nào cơ chứ!

Nhưng xin quay trở lại với chủ đề của tôi. Quả thực rất có lý khi chúng ta chỉ mang ơn Thiên Chúa và ân sủng của ngài đối với tính chân lý của một niềm tin cao cả như thế, bởi vì chính từ lòng nhân từ duy nhất của ngài mà chúng ta nhận được hoa trái của sự bất tử — thứ bao gồm sự tận hưởng niềm phúc lạc vĩnh hằng.

Hãy thành thật thừa nhận rằng chỉ có Thiên Chúa mới đọc tụng điều đó cho chúng ta, và cả đức tin nữa; bởi vì đó không phải là bài học của tự nhiên và lý trí của chính chúng ta. Và bất cứ ai muốn tra vấn về bản thể và quyền năng của chính mình, cả bên trong lẫn bên ngoài, mà không có đặc quyền thần thánh này; bất cứ ai quan sát con người một cách vô tư và không nịnh bọt, sẽ chẳng thấy ở anh ta bất kỳ hiệu năng hay năng lực nào phảng phất bất cứ thứ gì ngoài cái chết và đất cát.

Càng dâng hiến và thừa nhận rằng chúng ta nợ và phải đáp đền Thiên Chúa bao nhiêu, chúng ta lại càng hành xử với tinh thần Kitô giáo bấy nhiêu. Điều mà triết gia Phái Khắc Kỷ này nói rằng ông ta nắm giữ từ sự đồng thuận ngẫu hứng của tiếng nói đại chúng; há chẳng phải sẽ tốt hơn nếu ông ta nắm giữ nó từ Thiên Chúa sao? Cum de animarum aeternitate disserimus, non leve momentum apud nos habet consensus hominum aut timentium inferos, aut colentium. Utor hac publica persuasione.

“Khi chúng ta bàn về tính bất tử của linh hồn, sự đồng thuận của những con người hoặc sợ hãi hoặc tôn sùng các quyền năng âm phủ có trọng lượng không nhỏ đối với chúng ta. Tôi tận dụng niềm tin công cộng này.”

Giờ thì sự yếu đuối trong các luận điểm của con người về chủ đề này được thể hiện rõ rệt nhất qua những chi tiết thần thoại mà họ đã gieo rắc thêm như những hệ quả của quan điểm này, để tìm hiểu xem tính bất tử của chúng ta có trạng thái ra sao.

Hãy gạt phăng phái Khắc Kỷ sang một bên (usuram nobis largiuntur tanquam cornicibus; diu mansuros aiunt animos; semper, negant. “Họ ban cho chúng ta một cuộc đời dài, y như cách họ làm với loài quạ; họ nói linh hồn chúng ta sẽ tồn tại lâu dài, nhưng phủ nhận việc nó sẽ tồn tại mãi mãi”), những kẻ ban cho linh hồn một cuộc đời sau kiếp này, nhưng là một cuộc đời hữu hạn.

Ý niệm phổ biến và được đón nhận nhiều nhất, kéo dài tận đến thời đại chúng ta ở nhiều nơi khác nhau, chính là ý niệm do Pythagoras làm tác giả; không phải vì ông là kẻ phát minh ra nguyên bản, mà bởi vì nó nhận được rất nhiều trọng lượng và uy tín nhờ sự chuẩn thuận của ông: “Rằng các linh hồn, khi rời bỏ chúng ta, chẳng làm gì ngoài việc chuyển từ thể xác này sang thể xác khác, từ con sư tử sang con ngựa, từ con ngựa sang vị vua, cứ liên tục hành trình từ nơi trú ngụ này sang nơi trú ngụ khác như thế”; và chính ông từng nói rằng ông nhớ mình từng là Thalides, rồi sau đó là Euphorbus, tiếp đến là Hermotimus, và cuối cùng từ Pyrrhus chuyển sang Pythagoras; giữ được ký ức về bản thân trong vòng hai trăm lẻ sáu năm.

Và một số người còn bổ sung thêm rằng chính những linh hồn này đôi khi bay lên thiên đàng rồi lại đi xuống:—

Origen cho rằng chúng vĩnh viễn đi đi về về từ một trạng thái tốt đẹp hơn sang trạng thái tồi tệ hơn.

Quan điểm mà Varro đề cập đến là sau chu kỳ bốn trăm bốn mươi năm, chúng sẽ được đoàn tụ với thể xác ban đầu của mình; Chrysippus cho rằng điều này sẽ xảy ra sau một khoảng thời gian nhất định không rõ và không giới hạn.

Plato — kẻ tuyên bố đã tiếp thu niềm tin này từ Pindar và các nhà thơ cổ đại rằng chúng ta phải trải qua vô số chu kỳ biến đổi, mà linh hồn được chuẩn bị cho điều đó, không có hình phạt hay phần thưởng nào ở thế giới bên kia ngoài những thứ mang tính tạm thời, hệt như cuộc đời của nó ở đây chỉ là tạm thời — kết luận rằng nó có một sự hiểu biết đặc biệt về các vấn đề trên thiên đàng, dưới địa ngục, trên thế giới, qua tất cả những nơi mà nó đã đi qua, đi lại và dừng chân trong nhiều chuyến hành trình — đó là những vấn đề dành cho ký ức của nó.

Hãy quan sát tiến trình của nó ở một chỗ khác: “Linh hồn nào sống tốt sẽ được đoàn tụ với các vì sao mà nó được chỉ định; kẻ nào sống tồi sẽ chuyển vào một người phụ nữ, và nếu ở đó nó vẫn không cải tà quy chính, nó sẽ lại bị chuyển tiếp vào một loài thú có điều kiện phù hợp với thói hư tật xấu của mình, và sẽ không thấy tận cùng của những hình phạt cho đến khi nó quay trở lại bản tính tự nhiên của mình, và đã dùng sức mạnh của lý trí để tẩy rửa sạch sẽ những phẩm chất thô tục, đần độn và sơ khai mà nó từng bị vấy bẩn.”

Nhưng tôi không thể bỏ qua lời phản đối mà phái Epicurus đưa ra chống lại sự luân hồi từ thể xác này sang thể xác khác; đó là một lời phản đối khá thú vị; họ hỏi rằng người ta sẽ tìm ra giải pháp gì nếu số lượng những kẻ chết đi tình cờ lại lớn hơn số lượng những kẻ đang bước vào trần gian.

Bởi vì các linh hồn, bị tống cổ khỏi nơi ở cũ, sẽ xô đẩy và tranh giành nhau xem ai được quyền chiếm lấy chỗ ở mới trước tiên; và họ còn hỏi thêm rằng chúng sẽ giết thời gian bằng cách nào trong lúc chờ đợi những khu nhà mới được chuẩn bị sẵn sàng cho chúng?

Hoặc ngược lại, nếu số lượng động vật sinh ra nhiều hơn số chết đi, thể xác, họ nói, sẽ lâm vào hoàn cảnh tồi tệ khi phải mỏi mắt chờ đợi một linh hồn được thổi vào mình; và khi ấy sẽ xảy ra chuyện một số thể xác chết đi trước khi chúng kịp có sự sống.

Những kẻ khác thì giữ chân linh hồn lại bên trong thể xác của người đã khuất, để qua đó làm hoạt hoạ loài rắn, sâu bọ và những con vật khác — thứ được cho là sinh ra từ sự phân hủy của các bộ phận trên cơ thể chúng ta, thậm chí từ tro cốt của ta; những người khác lại chia linh hồn thành hai phần: một phần hữu hạn, phần kia bất tử; có kẻ lại cho nó mang tính thể xác dẫu vẫn bất tử.

Vài kẻ khác biến nó thành bất tử nhưng không có tri giác hay hiểu biết. Thậm chí ngay cả trong số chúng ta cũng có những kẻ từng tin rằng ác quỷ được tạo ra từ linh hồn của những kẻ bị kết án đọa đày; giống như Plutarch nghĩ rằng các vị thần được tạo ra từ những kẻ được cứu rỗi; bởi vì có rất ít điều mà tác giả đó tỏ ra quả quyết như trong vấn đề này, trong khi ở những chỗ khác, ông lại duy trì một cách diễn đạt mơ hồ và lưỡng lự.

“Người ta bảo chúng ta,” ông nói, “và chúng ta nên kiên định tin rằng linh hồn của những người đức hạnh — cả theo tự nhiên lẫn công lý thần thánh — sẽ trở thành các vị thánh, rồi từ thánh nhân hóa thành bán thần, và từ bán thần, sau khi họ đã được tẩy rửa và thanh lọc hoàn toàn giống như trong các buổi lễ hy sinh chuộc tội, được giải thoát khỏi mọi tính dễ bị tổn thương và mọi sự hữu hạn, họ sẽ trở thành — không phải bằng bất kỳ sắc lệnh dân sự nào, mà bằng chân lý thực sự và theo mọi phỏng đoán hợp lý của lý trí — những vị thần trọn vẹn và hoàn hảo, khi nhận được một kết thúc vô cùng hạnh phúc và vinh quang.”

Nhưng ai muốn nhìn thấy ông ta — một con người vốn vẫn là kẻ điềm đạm và chừng mực nhất trong toàn bộ băng đảng triết học — vung tay múa chân với sự bạo dạn lớn hơn, và kể lại những phép màu của ông ta về chủ đề này, tôi xin giới thiệu đến chuyên luận của ông về Mặt Trăng, và về Thần Hộ Mệnh của Socrates, nơi ông có thể — rõ ràng chẳng kém bất kỳ nơi nào khác — thỏa mãn bản thân rằng các bí nhiệm của triết học có rất nhiều điều kỳ lạ chung với thơ ca; trí tuệ con người tự đánh mất chính mình khi cố gắng dò la và tìm kiếm vạn vật đến tận cùng; hệt như chúng ta, mệt mỏi và kiệt sức sau một chặng đường đời dài đằng đẵng, lại quay trở về với tuổi thơ ấu và sự lẩm cẩm.

Kìa hãy xem những lời giáo huấn tốt đẹp và chắc chắn mà chúng ta rút ra từ tri thức nhân loại liên quan đến tâm hồn.

Cũng chẳng có ít hơn sự liều lĩnh trong những gì họ dạy chúng ta chạm đến các bộ phận thể xác của mình. Hãy chọn ra một hoặc hai ví dụ; bởi vì nếu không, chúng ta sẽ tự lạc lối trong đại dương mênh mông và hỗn độn của những sai lầm y học này.

Trước hết, hãy xem liệu ít nhất họ có đồng tình về vật chất dùng để tạo ra con người hay không; bởi vì đối với nguồn gốc ban đầu của nó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu trong một vấn đề quá cao siêu và đã qua đi từ quá lâu, trí tuệ con người lại cảm thấy bối rối và hoang mang.

Archelaus — vị y sĩ mà Socrates là môn đệ yêu thích, theo lời Aristoxenus, đã nói rằng cả con người lẫn loài vật đều được tạo ra từ một thứ chất nhờn có màu sữa, được vắt kiệt bởi sức nóng của trái đất; Pythagoras nói rằng hạt giống của chúng ta là bọt hoặc lớp váng kem từ dòng máu tốt hơn của chúng ta; Plato cho rằng nó là sự chưng cất từ tủy sống, đưa ra luận điểm từ việc bộ phận đó là nơi đầu tiên có cảm giác mệt mỏi vì công việc; Alcmaeon cho rằng nó là một phần của bản thể não bộ, và bằng chứng là sự suy yếu của đôi mắt ở những kẻ lạm dụng hoạt động đó quá mức; Democritus cho rằng nó là một chất được chiết xuất từ toàn bộ khối cơ thể; Epicurus — một chất chiết xuất từ tâm hồn và thể xác; Aristotle — một chất cặn bã được rút ra từ dưỡng chất của dòng máu, là phần cuối cùng lan tỏa khắp các bộ phận của chúng ta; những người khác lại cho rằng đó là máu được nấu chín và tiêu hóa bởi sức nóng của cơ quan sinh dục — điều mà họ đánh giá qua việc trong những nỗ lực quá sức, con người bài tiết ra máu nguyên chất; trong đó có vẻ như có nhiều cơ hội hợp lý hơn, nếu người ta có thể rút ra bất kỳ bề ngoài nào từ một sự hỗn độn vô tận như vậy.

Giờ thì, để bắt hạt giống này thực hiện công việc của nó, họ đưa ra bao nhiêu quan điểm trái ngược nhau? Aristotle và Democritus cho rằng phụ nữ không có tinh dịch, và đó chẳng qua chỉ là một thứ mồ hôi mà họ tiết ra trong sức nóng của khoái cảm và chuyển động, chẳng đóng góp chút gì cho sự sinh sản. Trái lại, Galen và các môn đệ của ông tin rằng nếu thiếu đi sự hội tụ của các hạt giống thì không thể có sự sinh sản.

Các y sĩ, triết gia, luật gia và nhà thần học đang cãi nhau sứt đầu mẻ trán với các bà vợ của chúng ta xung quanh cuộc tranh cãi: “Phụ nữ mang thai trong thời hạn bao lâu?” Và bản thân tôi, noi theo ví dụ của chính mình, kiên trì đứng về phía những kẻ duy trì rằng một người phụ nữ mang thai mười một tháng.

Thế giới này được xây dựng dựa trên kinh nghiệm đó; chẳng có mụ đàn bà tầm thường nào là không thể đưa ra phán quyết của mình trong tất cả các cuộc tranh cãi này; thế mà chúng ta vẫn không tài nào đồng thuận nổi.

Chừng đó cũng đủ để xác thực rằng con người chẳng hề được hướng dẫn tốt hơn trong việc thấu hiểu chính bản thân mình, ở phần thể xác cũng như phần tinh thần. Chúng ta đã đặt bản thân trước chính mình, và đem lý trí của mình ra đối chất với lý trí của mình, để xem nó có thể thốt lên điều gì.

Tôi nghĩ mình đã chứng minh đầy đủ rằng nó hiểu biết quá ít về chính bản thân nó trong chính nó; và kẻ không hiểu nổi chính mình trong chính mình, thì có thể hiểu được cái gì? Quasi vero mensuram ullius rei possit agere, qui sui nesciat.

“Cứ như thể kẻ không biết rõ kích thước của chính mình lại có thể đo đạc được kích thước của bất kỳ thứ gì khác.”

Quả thực, Protagoras đã tung ra một cú lừa khá khéo khi biến con người thành thước đo của vạn vật, trong khi bản thân hắn thậm chí còn chẳng biết nổi thước đo của chính mình; và nếu đó không phải là con người, phẩm giá của hắn cũng không cho phép bất kỳ sinh vật nào khác có được lợi thế này; giờ thì khi bản thân hắn quá đỗi mâu thuẫn, và phán quyết này không ngừng lật đổ phán quyết kia, đề xuất thuận lợi đó chẳng qua chỉ là một trò hề, buộc chúng ta phải đi đến kết luận về sự vô hiệu của chiếc la bàn và cả kẻ cầm la bàn.

Khi Thales đánh giá việc con người thấu hiểu bản thân là một điều vô cùng khó khăn đối với nhân loại, ông đồng thời ngầm ra hiệu cho hắn thấy rằng mọi tri thức khác đều là bất khả thi.

Anh,* người mà tôi đã bỏ công — trái với thông lệ của mình — để viết một bài luận dài đẵng đẵng như thế này, hẳn sẽ không từ chối việc hỗ trợ cho Sebond của anh bằng những hình thức lập luận thông thường mà anh vẫn được dạy bảo hằng ngày, và qua đó anh sẽ rèn luyện cả trí tuệ lẫn học thức của mình; bởi vì đòn đấu kiếm cuối cùng này không bao giờ được phép đem ra sử dụng ngoại trừ như một biện pháp cực đoan; đó là một cú đánh tuyệt vọng, nơi anh phải vứt bỏ vũ khí của chính mình để buộc đối thủ phải bỏ vũ khí của họ; và là một thứ thủ thuật bí mật, chỉ rất hiếm khi, và sau đó phải thật dè dặt, mới được đem ra thực hiện.

Thật là quá liều lĩnh khi tự hủy diệt chính mình chỉ để tiêu diệt kẻ khác; anh không được phép chết để trả thù, hệt như Gobrias đã làm; bởi vì khi đang giáp lá cà trong trận chiến với một vị lãnh chúa xứ Ba Tư, lúc Darius xông tới tay lăm lăm gươm giáo và sợ không dám ra đòn vì sợ giết nhầm Gobrias, hắn đã lớn tiếng dũng cảm giục Darius cứ việc tấn công,

dù cho lưỡi gươm có xuyên thủng cả hai người bọn họ cùng lúc đi nữa. Tôi từng biết những thứ vũ khí tuyệt vọng, và các điều kiện của những cuộc đấu tay đôi, nơi kẻ đưa ra chúng đẩy cả bản thân lẫn đối thủ vào hoàn cảnh chắc chắn phải chết cả đôi, bị chỉ trích là bất công.

Người Bồ Đào Nha, trên vùng Biển Ấn Độ, từng bắt được một số tù nhân Thổ Nhĩ Kỳ — những kẻ vì quá bất mãn với cảnh tù đày nên đã quyết định, và họ đã thành công, bằng cách đập các cây đinh trên tàu vào nhau để tạo ra một tia lửa rơi vào các thùng thuốc súng đặt ở nơi họ bị giam giữ, nhằm cho nổ tung và biến bản thân, chủ nhân của họ cùng con tàu thành tro bụi.

Chúng ta đang chạm đến lớp vỏ bọc bên ngoài và ranh giới tận cùng của các ngành khoa học, nơi sự cực đoan cũng là một thói hư, giống như trong đức hạnh. Hãy giữ mình ở con đường quen thuộc; việc tỏ ra quá tinh vi và ranh mãnh không có gì là tốt đẹp cả. Hãy ghi nhớ câu châm ngôn Tuscan:—

Tôi khuyên anh rằng trong mọi quan điểm và bài luận của mình, cũng như trong tác phong và tất cả mọi vấn đề khác, hãy giữ cho bản thân được điều độ, ôn hòa, và tránh xa sự mới lạ; tôi vốn là kẻ thù của mọi con đường cực đoan.

Anh — người nhờ uy quyền của sự vĩ đại của mình, và hơn thế nữa nhờ những lợi thế mà các phẩm chất thuộc về riêng anh mang lại, có thể chỉ với một nháy mắt là sai khiến bất kỳ ai mình muốn — đáng lẽ ra nên giao nhiệm vụ này cho một kẻ chuyên nghiệp về chữ nghĩa, kẻ có thể chứng minh và minh họa những điều này cho anh theo một cách tốt hơn. Nhưng ở đây đã có tất cả những gì anh cần đến.

Epicurus đã nói về luật pháp rằng: “Những bộ luật tồi tệ nhất lại cần thiết đối với chúng ta đến mức nếu thiếu chúng, con người sẽ ăn thịt lẫn nhau.” Và Plato khẳng định: “Rằng nếu không có luật pháp, chúng ta sẽ sống như loài dã thú.”

Trí tuệ của chúng ta là một công cụ lang thang, nguy hiểm và liều lĩnh; rất khó để kìm hãm bất kỳ trật tự hay thước đo nào vào nó; ở những con người trong thời đại chúng ta được phú bẩm một sự xuất sắc hiếm có nào đó vượt trội hơn những người khác, hoặc một sự sắc sảo phi thường trong nhận thức, chúng ta thấy hầu như tất cả bọn họ đều lao vào sự phóng túng trong quan điểm và tác phong; và việc tìm kiếm được một kẻ ôn hòa và dễ gần gần như là một phép lạ.

Hoàn toàn là có lý khi kìm hãm trí tuệ con người trong những giới hạn nghiêm ngặt nhất có thể; trong học tập cũng như trong mọi thứ khác, chúng ta phải bắt những bước đi và tiến trình của nó phải được định danh và cố định, và các giới hạn trong sự dò xét của nó phải được vạch biên bởi nghệ thuật.

Nó bị kìm kẹp và trói buộc bởi tôn giáo, luật pháp, phong tục, khoa học, các giới luật, những hình phạt hữu hạn và vô hạn. Thế nhưng chúng ta vẫn thấy nó sổng ra khỏi tất cả những mối ràng buộc đó bằng sự lỏng lẻo và dễ uốn của mình; đó là một khối thể hão huyền chẳng có gì để nắm bắt hay tì bám; một khối thể đa dạng và quái dị, bất khả trói buộc hay kìm giữ.

Quả thực, có rất ít tâm hồn đủ quy củ, vững vàng và xuất thân tốt đẹp đến mức có thể tin tưởng giao phó cho sự tự quản của chính họ, và có thể với sự ôn hòa — không chút liều lĩnh — giương buồng trong sự tự do của các phán quyết của bản thân, vượt ra ngoài những quan điểm thông thường và được chuẩn thuận; tốt hơn hết là đặt họ dưới sự giám hộ của người đỡ đầu.

Trí tuệ là một thứ vũ khí nguy hiểm, ngay cả đối với kẻ sở hữu nó, nếu hắn không biết cách sử dụng nó một cách kín đáo; và chẳng có con vật nào xứng đáng được đeo một chiếc ách che mắt hơn con người, để giữ cho ánh mắt của hắn nhìn xuống và ngay trước mũi, nhằm ngăn hắn lang thang đây đó đi lạc khỏi những con đường mòn mà phong tục và luật pháp đã vạch sẵn trước mặt hắn.

Và do đó, sẽ tốt hơn cho anh nếu giữ mình ở con đường mòn quen thuộc, dù nó là con đường nào đi nữa, còn hơn là cất cánh bay bổng một cách mạo hiểm với sự tự do không dây cương này. Nhưng nếu bất kỳ vị bác sĩ mới nổi nào đó tỏ ra tinh vi trước mặt anh, đánh đổi bằng cái túi của tâm hồn anh lẫn của chính hắn, để tránh né cái bệnh dịch nguy hiểm này — thứ vẫn thường được đặt trên con đường của anh để đầu độc anh — thì liều thuốc giải độc này, trong trường hợp khẩn cấp nhất, sẽ ngăn ngừa nguy hiểm và cản trở sự lây nhiễm của thứ độc dược đó làm tổn hại đến anh hoặc những người xung quanh.

Sự tự do và tinh thần tiến thủ ngông cuồng của những trí tuệ cổ xưa đó đã sản sinh ra trong triết học và các ngành khoa học nhân loại vô số giáo phái với các quan điểm khác nhau, ai nấy đều dấn thân phán xét và lựa chọn thứ mà họ muốn bám lấy và duy trì.

Nhưng giờ đây, khi mọi người đều đi chung một con đường — Qui certis quibusdam destinatisque sententiis addicti et consecrati sunt, ut etiam, quae non probant, cogantur defendere, “Những kẻ bị trói buộc và tận hiến cho một số quan điểm nhất định và được định sẵn, đến mức ngay cả những điều họ không tán thành, họ cũng buộc phải bảo vệ,” và khi chúng ta tiếp nhận các môn nghệ thuật bằng uy quyền và sắc lệnh dân sự, để cho các trường học chỉ có chung một khuôn mẫu cùng một thể chế và kỷ luật được vạch biên tương tự — chúng ta không còn bận tâm xem đồng tiền nặng bao nhiêu và thực sự đáng giá thế nào nữa, mà ai nấy đều tiếp nhận nó theo mức giá định đoạt mà sự chuẩn thuận và thói quen chung gán cho nó; hàm lượng hợp kim không còn bị chất vấn, mà chỉ là nó được lưu hành với giá bao nhiêu.

Tương tự như vậy, mọi thứ đều trôi tuột qua; chúng ta tiếp nhận y học hệt như hình học; và những trò ảo thuật, bùa chú yêu đương, sự tương thông của linh hồn người chết, các tiên đoán chiêm tinh, việc phân chia nhà hoàng đạo và ngay cả cái mục tiêu lố bịch theo đuổi hòn đá phù thủy — mọi thứ đều được lưu hành trót lọt mà không gặp chút mảy may nghi ngờ hay mâu thuẫn nào.

Chúng ta chẳng cần biết gì hơn ngoài việc nhà của sao Hỏa nằm ở giữa tam giác của bàn tay, nhà của sao Kim nằm ở ngón cái, và của sao Thủy nằm ở ngón út; rằng khi đường tâm đắc cắt qua u gò ngón trỏ, đó là dấu hiệu của sự tàn nhẫn; rằng khi nó không vươn tới ngón giữa, và đường sinh đạo tự nhiên tạo thành một góc với đường sinh mệnh ở cùng một bên, đó là dấu hiệu của một cái chết khốn khổ; rằng nếu ở phụ nữ, đường tự nhiên bị hở và không khép kín góc với đường sinh mệnh, điều đó biểu thị rằng cô ta không được đoan trang cho lắm.

Tôi xin nhường lại cho anh phán quyết xem một kẻ được trang bị những kiến thức như thế có thể bước đi với danh tiếng và sự nể trọng trong mọi hội đoàn hay không.

Theophrastus từng nói rằng tri thức nhân loại, được dẫn dắt bởi các giác quan, có thể phán xét nguyên nhân của vạn vật đến một mức độ nhất định; nhưng một khi đã chạm tới những nguyên nhân nguyên thủy và cực đoan, nó phải khựng lại và rút lui, hoặc vì sự bất lực của chính nó hoặc vì sự khó khăn của các vấn đề.

Đó là một quan điểm ôn hòa và nhã nhặn: rằng sự hiểu biết của chính chúng ta có thể dẫn dắt chúng ta đến tri thức về một vài sự vật, và nó có những giới hạn quyền năng nhất định, vượt ra ngoài đó thì việc áp dụng nó là sự liều lĩnh; quan điểm này rất hợp lý và được giới thiệu bởi những tâm trí điềm đạm, nhưng thật khó để kìm hãm trí tuệ của chúng ta — thứ vốn tò mò và tham lam, sẽ chẳng chịu dừng lại ở một ngàn hay năm mươi bước; vì đã thực nghiệm nhận thấy rằng chỗ này thất bại thì chỗ khác thành công, và điều mà thời đại trước không biết thì thời đại sau đã giải thích; và rằng các môn nghệ thuật và khoa học không được đúc sẵn trong một khuôn, mà được hình thành và hoàn thiện dần dần qua việc thường xuyên chạm tay vào và mài giũa, hệt như những con gấu thong thả liếm láp con non của chúng cho ra hình thù; những gì sức lực của tôi không tài nào khám phá ra, tôi vẫn không từ bỏ việc dò dẫm và thử nghiệm; và bằng cách nhào nặn và nhào nặn đi nhào nặn lại thứ vật chất mới này, bằng cách lật qua lật lại và nung nóng nó, tôi mở ra cho kẻ kế nhiệm mình một thứ tiện lợi để thưởng thức nó dễ dàng hơn, và làm cho nó dễ sai khiến và mềm mại hơn đối với hắn,

cũng chừng đó công sức sẽ được người thứ hai làm cho người thứ ba; đó là lý do tại sao sự khó khăn không nên làm tôi tuyệt vọng, và sự bất lực của chính tôi cũng vậy; bởi vì đó chẳng qua chỉ là của riêng tôi.

Con người có khả năng đạt được mọi thứ cũng như một vài thứ; và nếu hắn thừa nhận, như Theophrastus đã nói, sự dốt nát về các nguyên nhân nguyên thủy, hãy để hắn từ bỏ ngay lập tức toàn bộ phần tri thức còn lại; nếu hắn thiếu hụt nền tảng, lý trí của hắn coi như mắc cạn; sự tranh luận và tra vấn không có mụcích hay điểm dừng nào khác ngoài các nguyên tắc; nếu mục tiêu này không chặn đứng cuộc đua của hắn, hắn sẽ lao vào một sự bất định vô tận. Non potest aliud alio magis minusve comprehendi, quoniam omnium rerum una est definitio comprehendendi:

“Một sự vật không thể được lĩnh hội nhiều hơn hay ít hơn sự vật khác, bởi vì định nghĩa về sự lĩnh hội đối với vạn vật là như nhau.”

Giờ thì rất có thể, nếu tâm hồn biết bất kỳ điều gì, trước tiên nó phải biết chính bản thân mình; và nếu nó biết bất cứ thứ gì ngoài chính nó, thì đó phải là cơ thể và lớp áo giáp của chính nó, trước bất kỳ thứ gì khác. Nếu chúng ta nhìn thấy các vị thần y học cho đến tận ngày hôm nay vẫn đang tranh cãi về giải phẫu học của chúng ta,

thì đến bao giờ chúng ta mới có thể hy vọng họ đạt được sự đồng thuận? Chúng ta là hàng xóm gần gũi nhất với chính mình còn hơn độ trắng đối với tuyết hay trọng lượng đối với đá. Nếu con người không biết chính mình, làm sao hắn có thể biết được sức mạnh và các chức năng của mình?

Có lẽ không phải là chúng ta không có một chút tri thức thực sự nào bên trong mình; nhưng đó chỉ là do tình cờ; bởi vì vì các sai lầm được dung nạp vào tâm hồn chúng ta theo cùng một con đường, bằng cùng một cách thức và cùng một sự điều hướng, nên nó chẳng có phương tiện nào để phân biệt chúng, cũng chẳng có gì để lựa chọn ra chân lý tách biệt khỏi sự dối trá.

Phái Viện Hàn lâm thừa nhận một sự thiên vị nhất định trong phán quyết, và cho rằng thật quá thô thiển khi nói rằng việc bảo tuyết trắng không có vẻ hợp lý hơn là bảo nó đen; và rằng chúng ta không hề chắc chắn về chuyển động của một hòn đá do tay ném đi hơn là về chuyển động của tầng trời thứ tám.

Và để tránh sự khó khăn và kỳ quái này — điều mà thực ra khó lòng mà dung chứa trong trí tưởng tượng của chúng ta, dẫu họ kết luận rằng chúng ta hoàn toàn không có khả năng đạt được tri thức, và chân lý chìm đắm trong một vực thẳm sâu thẳm đến mức mắt phàm không thể xuyên thủng; họ vẫn thừa nhận một số sự vật có vẻ hợp lý hơn những sự vật khác, và tiếp nhận vào phán quyết của mình năng lực này: họ có quyền nghiêng về một biểu hiện này hơn biểu hiện khác, họ cho phép bản thân sự khuynh hướng đó, đồng thời cấm đoán mọi sự quyết định dứt khoát.

Quan điểm của phái Pyrrho thì táo bạo hơn, và cũng phần nào hợp lý hơn; bởi vì sự khuynh hướng theo kiểu viện hàn lâm này, và sự ngả nghiêng về một mệnh đề này thay vì mệnh đề khác, thì có khác gì sự thừa nhận về một chân lý rõ ràng hơn ở cái này so với cái kia đâu? Nếu trí tuệ của chúng ta có khả năng nắm bắt hình thái, đường nét, vóc dáng và gương mặt của chân lý, nó có thể nhìn thấy trọn vẹn chân lý cũng dễ như nhìn thấy một nửa, lúc đang chớm nở và bất toàn.

Vẻ hợp lý bề ngoài này — thứ khiến họ thà chọn bên trái còn hơn bên phải — làm cho nó càng tăng lên; hãy nhân lên lượng trọng lượng hợp lý làm nghiêng chiếc cân ấy lên một trăm, một nghìn lần; cuối cùng thì chiếc cân sẽ tự nó kết thúc cuộc tranh cãi và quyết định một sự lựa chọn, một chân lý trọn vẹn.

Nhưng tại sao họ lại để bản thân ngả nghiêng và bị lôi cuốn bởi vẻ hợp lý bề ngoài, nếu họ không biết chân lý? Làm sao họ có thể biết được sự tương đồng của một thứ mà bản thân bản chất của nó họ còn chẳng biết? Hoặc chúng ta có thể tuyệt đối phán xét, hoặc chúng ta tuyệt đối không thể.

Nếu các giác quan và trí tuệ của chúng ta không có chân đế hay nền tảng, nếu chúng chỉ kéo rồi đẩy, thì việc chúng ta để cho các phán quyết của mình bị cuốn theo bất kỳ phần nào trong hoạt động của chúng thật chẳng ích gì, dù vẻ bề ngoài của chúng có thể trình bày ra trước mắt chúng ta thế nào đi nữa; và trạng thái an toàn nhất, hạnh phúc nhất của trí tuệ chúng ta sẽ là nơi nó giữ cho mình được điều độ, ngay thẳng và bất khuất, không chao đảo, không dao động: Inter visa, vera aut falsa, ad animi assensum, nihil interest:

“Giữa những sự vật có vẻ hiện hữu, dù đúng hay sai, đối với sự ưng thuận của tâm trí chẳng có ý nghĩa gì cả.”

Việc các sự vật không ngự trị bên trong chúng ta theo hình thái và bản chất của chúng, và không bước vào bên trong bằng chính sức mạnh cùng uy quyền của chúng, là điều chúng ta thấy rõ; bởi vì nếu đúng như vậy, chúng ta đã tiếp nhận chúng theo cùng một cách thức; rượu vang sẽ mang lại hương vị giống nhau cho kẻ ốm lẫn người khỏe; kẻ bị nứt kẽ ngón tay hoặc bị tê cóng sẽ cảm thấy độ cứng của khúc gỗ hoặc thanh sắt mà hắn cầm nắm giống hệt như kẻ khác; các đối tượng ngoại lai do đó đầu hàng lòng thương xót của chúng ta và được định vị bên trong chúng ta tùy theo ý muốn.

Giờ thì nếu về phần mình, chúng ta tiếp nhận bất kỳ thứ gì mà không có sự biến đổi nào, nếu khả năng nắm bắt của con người đủ rộng và mạnh để tóm lấy chân lý bằng phương tiện của chính mình — những phương tiện vốn chung cho tất cả mọi người — thì chân lý này sẽ được truyền từ tay này sang tay khác, từ người này sang người nọ; và ít nhất sẽ có một điều gì đó được tìm thấy trên thế giới này, trong số vô vàn thứ đang tồn tại, được con người tin tưởng với một sự đồng thuận phổ quát; nhưng việc không có bất kỳ một mệnh đề nào không bị tranh chấp và bàn cãi giữa chúng ta, hoặc không thể bị tranh chấp, đã thể hiện rõ ràng rằng phán quyết tự nhiên của chúng ta không phân biệt một cách quá rõ ràng những gì nó đang ôm ấp; bởi vì phán quyết của tôi không thể làm cho những người đồng hành với tôi tán thành những gì nó tán thành; đó là dấu hiệu cho thấy tôi đã túm lấy nó bằng một phương tiện nào đó khác với năng lực tự nhiên vốn có trong tôi và trong tất cả mọi người.

Hãy gạt sang một bên mớ hỗn độn vô tận gồm các quan điểm này — thứ mà chúng ta nhìn thấy ngay cả giữa các triết gia với nhau, và cuộc tranh chấp vĩnh viễn, phổ quát về tri thức vạn vật; bởi vì điều này được mặc định sẵn: con người — ý tôi là những kẻ uyên bác nhất, xuất thân tốt nhất và có phần tài năng nhất — không hề đồng thuận về bất kỳ một điều gì, thậm chí không cả việc bầu trời nằm ở trên đầu chúng ta; bởi vì những kẻ hoài nghi mọi thứ cũng hoài nghi cả điều đó; và những kẻ phủ nhận việc chúng ta có khả năng lĩnh hội bất cứ điều gì đều nói rằng chúng ta chưa từng lĩnh hội được việc bầu trời nằm ở trên đầu chúng ta; và hai quan điểm này, không có gì sánh bằng, chiếm số lượng áp đảo hơn.

Bên cạnh sự đa dạng và phân rẽ vô tận này — thông qua sự rắc rối mà phán quyết của chúng ta tự gây ra cho chính mình, và sự bất định mà mỗi người tự cảm nhận được ở bản thân — thật dễ dàng nhận thấy rằng vị trí của nó vô cùng bất ổn và không an toàn.

Chúng ta phán xét các sự vật đa dạng đến nhường nào? — Chúng ta thay đổi quan điểm của mình thường xuyên ra sao? Những gì tôi ôm ấp và tin tưởng ngày hôm nay, tôi ôm ấp và tin tưởng bằng toàn bộ niềm tin của mình; tất cả các công cụ và cỗ máy của tôi đều tóm lấy và nắm giữ quan điểm này, và chịu trách nhiệm với tôi về nó, ít nhất là trong khả năng tốt nhất của chúng; tôi không thể ôm ấp hay gìn giữ bất kỳ chân lý nào với sự tự tin và chắc chắn lớn hơn thế này; tôi hoàn toàn và trọn vẹn bị chiếm hữu bởi nó; nhưng chẳng phải tôi đã từng trải qua — không chỉ một lần, mà là hàng trăm, hàng ngàn lần mỗi ngày — việc ôm ấp một thứ khác bằng toàn bộ các công cụ y hệt và trong trạng thái tương tự, để rồi sau đó lại phán xét rằng nó sai lầm hay sao?

Con người ít nhất phải trở nên khôn ngoan bằng chính chi phí của mình; nếu tôi đã thường xuyên thấy mình bị phản bội dưới lớp vỏ bọc này; nếu giác quan của tôi thường xuyên chứng tỏ là sai lầm, và chiếc cân của tôi không đều và bất công, thì giờ đây tôi còn có thể có sự đảm bảo nào lớn hơn những lần trước nữa chứ? Chẳng phải đó là sự đần độn và điên rồ khi để bản thân bị lừa dối hết lần này đến lần khác bởi chính người dẫn đường của mình hay sao?

Mặc cho vận mệnh thuyên chuyển và dịch chuyển chúng ta năm trăm lần từ nơi này sang nơi khác, mặc cho vận mệnh không làm gì ngoài việc liên tục đổ vào và rút ra khỏi niềm tin của chúng ta — hệt như đổ vào một chiếc bình — những quan điểm khác nhau; thế nhưng quan điểm hiện tại và cuối cùng vẫn cứ là quan điểm chắc chắn và không thể sai lầm; vì nó mà chúng ta sẵn sàng từ bỏ của cải, vinh quang, cuộc sống, sức khỏe và tất cả mọi thứ.

Bất cứ điều gì được rao giảng cho chúng ta, và bất cứ điều gì chúng ta học hỏi, chúng ta vẫn nên ghi nhớ rằng chính con người là kẻ trao và con người là kẻ nhận; một bàn tay phàm trần dâng nó cho chúng ta; một bàn tay phàm trần đón nhận nó. Những điều đến với chúng ta từ thiên đàng có độc quyền và uy quyền duy nhất của sự thuyết phục, dấu hiệu duy nhất của chân lý; thứ mà chúng ta cũng không nhìn thấy bằng đôi mắt của chính mình, cũng không tiếp nhận bằng phương tiện của chính mình; hình ảnh vĩ đại và linh thiêng đó không thể trụ vững trong một chốn trú ngụ khốn khổ như thế nếu Thiên Chúa không chuẩn bị nó cho mục đích này, nếu Thiên Chúa không dùng ân sủng và đặc ân siêu nhiên riêng biệt của ngài để củng cố và cải tổ nó.

Ít nhất thì điều kiện mỏng manh và khiếm khuyết của chúng ta cũng phải khiến chúng ta cư xử với sự dè dặt và ôn hòa hơn trong những cuộc đổi mới và thay đổi của mình; chúng ta nên ghi nhớ rằng bất cứ điều gì chúng ta tiếp nhận vào trí tuệ, chúng ta thường tiếp nhận cả những điều sai lầm, và rằng điều đó được thực hiện bởi chính những công cụ từng tự phản bội và bị lừa dối thường xuyên đến thế.

Giờ thì việc chúng ta mâu thuẫn với chính mình thường xuyên đến thế chẳng có gì là lạ, khi mà bản thân ta quá dễ bị xoay vần và uốn nắn bởi những biến cố nhẹ nhàng nhất. Chắc chắn rằng các nhận thức, phán quyết và các chức năng của tâm hồn nói chung đều chịu tổn thương theo các chuyển động và sự biến đổi của cơ thể — những sự biến đổi diễn ra liên tục.

Chẳng phải tâm trí chúng ta tỉnh táo hơn, trí nhớ nhanh nhạy và sắc sảo hơn, các suy nghĩ sống động hơn trong lúc khỏe mạnh so với lúc ốm đau hay sao? Chẳng phải niềm vui và sự hớn hở làm cho chúng ta tiếp nhận các đối tượng xuất hiện trong tâm hồn hoàn toàn khác so với sự lo lắng và u sầu hay sao?

Anh có tin rằng những vần thơ của Catullus hay Sappho làm hài lòng một lão hà tiện lẩm cẩm giống như một thanh niên tràn trề sức sống và khao khát yêu đương hay không? Cleomenes — con trai của Anaxandridas, khi đang ốm, đã bị bạn bè quở trách vì có những tâm trạng và ý tưởng kỳ quặc, khác thường; ông đáp: “Tôi tin là thế; tôi bây giờ đâu còn là cùng một con người giống như lúc khỏe mạnh; khi đã trở thành một kẻ khác, các quan điểm và ý tưởng của tôi cũng khác so với trước đây chứ.”

Trong các tòa án của chúng ta, câu nói này rất hay được sử dụng khi người ta nói về các bị cáo lúc tìm thấy các thẩm phán đang ở tâm trạng vui vẻ, dịu dàng và ôn hòa: Gaudeat de bona fortuna; “Hãy để hắn vui mừng vì vận may của mình”; bởi vì chắc chắn rằng các phán quyết của con người đôi khi dễ thiên về kết án hơn, sắc bén và nghiêm khắc hơn, nhưng đôi khi lại dễ dãi, thoải mái và có xu hướng tha thứ hơn; kẻ mang theo nỗi đau gót chân do bệnh gút, sự ghen tuông hoặc vụ trộm cắp do gia nhân gây ra từ nhà đến tòa, với toàn bộ tâm hồn bị chiếm hữu bởi cơn thịnh nộ, thì không có gì phải nghi ngờ rằng phán quyết của hắn sẽ nghiêng về phía đó.

Viện nguyên lão đáng kính của các Areopagites thường lắng nghe và phán quyết vào ban đêm, vì sợ rằng diện mạo của các bên đương sự có thể làm nhơ bẩn công lý của họ.

Ngay cả bầu không khí, và sự quang đãng của bầu trời cũng gây ra một số biến đổi trong chúng ta, theo những câu thơ của Cicero:—

Đâu phải chỉ có những cơn sốt, những cuộc chè chén vô độ và tai nạn lớn mới lật đổ phán quyết của chúng ta — những điều nhỏ nhặt nhất trên đời cũng làm được điều đó; và chúng ta không phải nghi ngờ, dù có thể bản thân không cảm nhận được, rằng nếu một cơn sốt kéo dài có thể áp đảo tâm hồn, thì cơn sốt cách nhật cũng sẽ làm thay đổi nó ở một mức độ tương xứng nào đó; nếu một cơn đột quỵ có thể làm tê liệt và dập tắt hoàn toàn tầm nhìn của trí tuệ chúng ta, thì chúng ta không phải nghi ngờ rằng một trận cảm lạnh lớn cũng sẽ làm lóa mắt nó; và do đó hầu như không có một giờ đồng hồ nào trong suốt cả cuộc đời con người mà phán quyết của chúng ta được đặt đúng chỗ và ở đúng trạng thái chính đáng, khi mà cơ thể chúng ta phải chịu đựng vô số những sự biến đổi liên tục và nhồi nhét biết bao nhiêu loại cỗ máy lò xo khác nhau, đến mức tôi tin rằng theo các y sĩ, thế nào cũng có lúc bộ phận này hay bộ phận khác bị trục trặc.

Nói cho cùng, chứng bệnh này không dễ gì tự bộc lộ, trừ khi nó trở nên cực đoan và vô phương cứu chữa; bởi vì lý trí luôn đi khập khiễng, què quặt, và lại đi khập khiễng với cả sự dối trá lẫn chân lý; và do đó rất khó để phát hiện ra những độ lệch và sai lầm của nó.

Tôi luôn gọi cái vỏ bọc chiêm nghiệm mà mỗi người tự ngụy tạo ra cho chính mình là lý trí; thứ lý trí này — với điều kiện có thể sinh ra hàng trăm lý lẽ trái ngược nhau về cùng một chủ đề — chẳng qua chỉ là một công cụ làm bằng chì hoặc bằng sáp, dễ uốn, dễ bẻ và thích nghi với mọi góc độ, mọi thước đo; đến mức chẳng còn gì ngoài sự khéo léo và kỹ năng để xoay vần và nhào nặn nó.

Dù một vị thẩm phán có ý đồ ngay thẳng đến đâu, nếu ông ta không tự cảnh giác bản thân — điều mà rất ít kẻ màng tới — thì sự thiên vị của ông ta đối với tình bạn, họ hàng, nhan sắc hay sự trả thù, và không chỉ những vấn đề có trọng lượng như thế, mà ngay cả bản năng ngẫu hứng khiến chúng ta thiên vị thứ này hơn thứ khác, và điều đó — không cần sự cho phép của lý trí — đẩy sự lựa chọn lên hai chủ đề ngang bằng nhau, hoặc một bóng hình của sự phù phiếm tương tự, cũng có thể len lỏi một cách vô hình vào phán quyết của ông ta, mang lại sự nâng đỡ hay bất công cho một vụ kiện, và làm cho chiếc cân sụp xuống.

Bản thân tôi — kẻ quan sát chính mình chặt chẽ nhất có thể, và luôn dán mắt vào chính mình hệt như một kẻ chẳng có việc gì lớn lao để bận tâm ở nơi khác —

hầu như không dám kể ra sự phù phiếm và yếu ớt mà tôi tìm thấy ở bản thân. Bước chân của tôi thật không ổn định và lảo đảo, tôi thấy mình rất dễ vấp ngã và lạng quạng, và thị lực của tôi hỗn loạn đến mức khi bụng đói, tôi là một con người hoàn toàn khác so với lúc ăn no; nếu sức khỏe và một ngày đẹp trời mỉm cười với tôi, tôi là một kẻ rất dễ gần, tốt bụng; nếu một vết chai ở ngón chân làm tôi phiền phức, tôi trở nên ủ rũ, bực bội và chẳng muốn gặp ai. Cùng một nhịp bước của con ngựa có lúc tôi thấy cứng ngắc, có lúc lại thấy êm ái; cùng một con đường có lúc thấy ngắn hơn, có lúc lại dài hơn; cùng một hình thái có lúc thấy dễ chịu hơn, có lúc lại kém dễ chịu hơn: lúc thì tôi muốn làm mọi thứ, lúc lại chẳng muốn làm gì cả; và những gì làm tôi hài lòng bây giờ sẽ là nỗi phiền toái vào một thời điểm khác.

Tôi mang trong mình hàng ngàn hành động vô nghĩa và ngẫu hứng; hoặc tôi bị u sầu chiếm hữu, hoặc bị cơn giận thao túng; lúc thì tự thân nỗi buồn chiếm ưu thế trong tôi, lúc thì tôi vui vẻ như chim sơn ca. Khi cầm một cuốn sách lên, tôi phát hiện ra những vẻ đẹp tuyệt vời ở những đoạn này đoạn nọ, những đoạn từng đánh trúng tâm hồn tôi; nhưng nếu bắt gặp lại chúng vào lúc khác, tôi có lật tung, xới tung hay lắc lư những trang sách ấy đi nữa thì cũng công cốc; đối với tôi khi ấy nó chỉ là một khối vô định hình và chưa được khám phá.

Ngay cả trong các trước tác của chính mình, tôi cũng không phải lúc nào cũng tìm thấy âm hưởng của ý tưởng ban đầu; tôi chẳng biết mình định nói gì, và thường phải vắt óc suy đoán, bơm vá một ý nghĩa mới bởi vì tôi đã đánh mất ý nghĩa ban đầu vốn hay hơn. Tôi chẳng làm gì ngoài việc đi rồi lại đến; phán quyết của tôi không phải lúc nào cũng tiến lên — nó trôi nổi và lang thang:—

Rất thường xuyên, như tôi hay làm, khi tập luyện duy trì một quan điểm trái ngược với quan điểm của mình, tâm trí tôi — vì uốn nắn và áp dụng theo hướng đó — đã lôi cuốn tôi đi theo chiều hướng ấy đến mức tôi không còn nhận ra lý lẽ của niềm tin ban đầu nữa, và đành từ bỏ nó.

Tôi dường như bị dẫn dắt đi lạc bởi cái phía mà tôi nghiêng về, dù nó là phía nào đi nữa, và bị cuốn đi bởi trọng lượng của chính mình. Hầu như ai cũng sẽ nói điều tương tự về bản thân nếu họ tự ngẫm nghĩ như tôi.

Các nhà thuyết giáo thừa nhận rất rõ rằng những cảm xúc len lỏi vào họ trong lúc nói đã kích thích họ hướng tới niềm tin; và rằng khi ở trong trạng thái cảm xúc, chúng ta càng hăng hái bảo vệ quan điểm của mình hơn, tự khắc in sâu ấn tượng mạnh mẽ hơn vào bản thân, và ôm ấp nó với sự mãnh liệt cùng sự chuẩn thuận lớn hơn so với lúc chúng ta ở trạng thái lạnh lùng và điềm tĩnh hơn.

Bạn chỉ cung cấp cho vị luật sư của mình một bản tóm tắt đơn giản về vụ án của bạn; ông ta trả lời bạn một cách mơ hồ và không chắc chắn, qua đó bạn thấy ông ta thờ ơ với việc đứng về phe nào. Bạn đã vung tiền hậu hĩnh để ông ta thấy thích thú hơn chưa? Ông ta bắt đầu thực sự bận tâm chưa, và bạn có thấy ông ta tỏ ra quan tâm và nhiệt tình trong vụ kiện của bạn không? Lý lẽ và học thức của ông ta sẽ dần dần nóng lên vì vụ án của bạn; kìa một chân lý rành rành và không thể chối cãi hiện ra trước trí tuệ của ông ta; ông ta khám phá ra một ánh sáng mới trong công việc của bạn, và thực sự tin tưởng cũng như thuyết phục bản thân rằng mọi chuyện là như thế.

Thậm chí, tôi không biết liệu sự hăng hái nảy sinh từ sự hằn học và ngoan cố chống lại quyền lực, sự bạo lực của nhà chức trách và hiểm nguy, hay lợi ích của danh tiếng, có từng khiến một số người — ngay cả trên giàn hỏa thiêu — duy trì quan điểm mà khi ở trạng thái tự do và giữa những người bạn, họ sẽ chẳng đời nào chịu cháy dù chỉ một ngón tay hay không.

Những cú sốc và va đập mà tâm hồn nhận được từ các đam mê của thể xác có thể làm được rất nhiều điều, nhưng những đam mê của chính nó còn làm được nhiều hơn thế rất nhiều; thứ mà nó lệ thuộc vào đến mức có lẽ người ta có thể khẳng định rằng nó chẳng có bước đi hay chuyển động nào khác ngoài hơi thở của những cơn gió ấy, và nếu không có sự dao động đó, nó sẽ rơi vào trạng thái tĩnh lặng và bất động, giống như con thuyền giữa biển khơi bị các cơn gió từ chối hỗ trợ.

Và bất kỳ ai duy trì điều này khi đứng về phía phái Peripatetics cũng sẽ không làm chúng ta sai lầm là bao, vì ai cũng biết rõ rằng những hành động vĩ đại nhất và cao cả nhất của tâm hồn đều xuất phát từ — và cần đến — sự thúc đẩy của những đam mê này.

Sự dũng cảm, họ nói, không thể hoàn hảo nếu thiếu đi sự trợ giúp của cơn giận; Semper Ajax fortis, fortissimus tamen in furore; “Ajax luôn dũng cảm, nhưng dũng cảm nhất là khi cuồng nộ”; chúng ta cũng không đối đầu với kẻ ác và kẻ thù một cách đủ mạnh mẽ nếu chúng ta không nổi giận; thậm chí người ta còn nói rằng luật sư phải truyền ngọn lửa phẫn nộ vào các thẩm phán để giành lấy công lý.

Những ham muốn bất thường từng thúc đẩy Themistocles và Demosthenes, từng đẩy các triết gia vào việc thức khuya, nhịn ăn và hành hương; và dẫn dắt chúng ta đến vinh quang, học thức và sức khỏe — tất cả đều là những mục đích rất hữu ích. Và tính hèn mọn của tâm hồn trong việc chịu đựng sự lo lắng và rắc rối đóng vai trò nuôi dưỡng sự hối hận và ăn năn trong lương tâm, làm cho chúng ta cảm nhận được ngọn roi của Thiên Chúa và sự chỉnh đốn chính trị để trừng phạt những lầm lỗi của mình;

lòng trắc ẩn là bàn đạp thúc đẩy lòng khoan dung; và sự khôn ngoan trong việc bảo vệ và quản lý bản thân được đánh thức bởi nỗi sợ hãi của chúng ta; và có biết bao nhiêu hành động dũng cảm được thúc đẩy bởi sự tham vọng! Biết bao nhiêu hành động nhờ sự tự phụ! Tóm lại, không có một đức hạnh dũng cảm và tinh thần nào lại thiếu đi một vài sự dao động bất thường.

Liệu đây có phải là một trong những lý do khiến phái Epicurus quyết định giải phóng Thiên Chúa khỏi mọi sự quan tâm và bận tâm đối với các công việc của chúng ta hay không? Bởi vì ngay cả các tác động của lòng nhân từ từ ngài cũng không thể được thực hiện thay cho chúng ta mà không làm xáo trộn sự tĩnh lặng của ngài, thông qua những đam mê — thứ vốn là vô số cỗ máy lò xo và gai nhọn thúc đẩy tâm hồn hướng tới các hành động đạo đức; hay họ đã suy nghĩ theo hướng khác, và coi chúng là những cơn bão giông lôi cuốn tâm hồn một cách nhục nhã khỏi sự tĩnh lặng của nó? Ut maris tranquillitas intelligitur, nulla, ne minima quidem, aura fluctus commovente: Sic animi quietus et placatus status cernitur, quum perturbationibus nulla est, quae moveri queat.

“Cũng như người ta hiểu đó là một vùng biển lặng khi không có lấy một luồng gió nhỏ nhất làm xao động những con sóng; trạng thái tĩnh lặng và bình yên của tâm hồn cũng được nhìn nhận như thế, khi không có bất kỳ sự xáo trộn nào có thể làm nó chuyển động.”

Biết bao nhiêu sự biến đổi về giác quan và lý trí, biết bao nhiêu sự trái ngược trong trí tưởng tượng được truyền cảm hứng bởi sự đa dạng của các đam mê trong chúng ta! Vậy thì chúng ta có thể đặt niềm tin vào một thứ quá đỗi cơ động và bất ổn, vốn theo điều kiện của nó phải chịu sự chi phối của rắc rối và chẳng bao giờ đi theo một nhịp bước nào khác ngoài nhịp bước bị ép buộc và mượn vá?

Nếu phán quyết của chúng ta nằm dưới quyền thống trị của cả bệnh tật lẫn sự xáo trộn; nếu nó tiếp nhận ấn tượng của các sự vật từ sự điên rồ và liều lĩnh, thì chúng ta có thể mong đợi sự an toàn nào từ nó?

Chẳng phải đó là một sự táo bạo lớn lao trong triết học khi tin rằng con người thực hiện những hành động vĩ đại nhất, và gần gũi với thần linh nhất, khi họ cuồng nộ, điên dại và đánh mất chính mình hay sao? Chúng ta làm cho bản thân trở nên tốt đẹp hơn thông qua việc tước bỏ lý trí và khoan thủng nó.

Hai con đường tự nhiên để bước vào phòng kín của các vị thần, và nhìn trước được dòng chảy của định mệnh, chính là sự cuồng nộ và giấc ngủ.

Thật thú vị khi ngẫm nghĩ về điều này: thông qua sự trật khớp mà các đam mê gây ra trong lý trí của mình, chúng ta trở nên đạo đức; thông qua việc tận diệt lý trí, do sự điên rồ hoặc hình ảnh của cái chết gây ra, chúng ta trở thành các nhà tiên tri và nhà tiên đoán.

Tôi chưa bao giờ sẵn lòng tin vào triết học trong bất kỳ điều gì hơn là điều này. Đó là một trạng thái hào hứng thuần tuý mà chân lý thiêng liêng đã truyền cảm hứng vào tâm trí triết học, làm cho nó thừa nhận — trái ngược với quan điểm của chính nó — rằng trạng thái tĩnh lặng, điềm đạm và khỏe mạnh nhất của tâm hồn mà triết học có thể đặt nó vào lại không phải là trạng thái tốt nhất của nó; việc chúng ta thức tỉnh còn giống giấc ngủ hơn cả chính giấc ngủ, sự khôn ngoan của chúng ta kém khôn ngoan hơn sự điên rồ; những giấc mơ của chúng ta có giá trị hơn sự chiêm nghiệm của chúng ta; và nơi tồi tệ nhất mà chúng ta có thể trú ngụ chính là ở bên trong bản thân mình.

Nhưng chẳng phải triết học nghĩ rằng chúng ta đủ khôn ngoan để nhận ra rằng cái giọng nói mà tinh thần thốt lên khi được giải phóng khỏi con người — vô cùng sáng suốt, vĩ đại và hoàn hảo — với cái giọng nói khi nó còn ở trong con người — quá đỗi phàm trần, dốt nát và tăm tối — thực chất là giọng nói phát xuất từ tinh thần của một con người tăm tối, phàm trần và dốt nát, và vì lý do đó, đó là một giọng nói không thể tin tưởng và không đáng tin hay sao?

Bản thân tôi, vì mang thể trạng mềm mại và nặng nề, nên không có nhiều kinh nghiệm về những sự dao động dữ dội này — hầu hết chúng đều bất ngờ ập đến với tâm hồn mà không cho nó thời gian để tự trấn tĩnh. Nhưng đam mê được cho là sinh ra từ sự lười biếng trong trái tim những người trẻ tuổi, dẫu nó tiến diễn từ từ và với một tiến trình có chừng mực, vẫn thể hiện rõ ràng — đối với những kẻ từng thử thách sức kháng cự của nó — sự bạo lực mà phán quyết của chúng ta phải gánh chịu trong sự biến đổi và chuyển hóa này.

Tôi từng cố gắng chống cự và đẩy lùi nó; bởi vì tôi ở rất xa nhóm những kẻ mời gọi thói hư tật xấu — thậm chí tôi còn chẳng thèm đi theo chúng nếu chúng không lôi kéo tôi đi; tôi nhận thấy nó nảy sinh, lớn lên và gia tăng bất chấp sự kháng cự của mình; và cuối cùng, sống và chứng kiến cảnh nó hoàn toàn chiếm lấy và bao trùm lấy tôi. Cứ như thể bừng tỉnh sau cơn say, những hình ảnh của vạn vật bắt đầu hiện ra trước mắt tôi hoàn toàn khác so với trước đây; tôi thấy rõ những lợi thế của đối tượng mà tôi khao khát lớn lên, gia tăng và mở rộng dưới ảnh hưởng của trí tưởng tượng, đồng thời những khó khăn trong nỗ lực của tôi trở nên dễ dàng và suôn sẻ hơn; cả lý trí lẫn lương tâm đều bị gạt sang một bên; nhưng ngọn lửa này bốc hơi trong chớp mắt, tựa như một tia chớp, tôi nhận ra tâm hồn mình phục hồi một dạng tầm nhìn khác, một trạng thái khác và một phán quyết khác; những khó khăn khi rút lui bỗng trở nên to lớn và không thể vượt qua, và cùng một sự vật ấy lại mang một hương vị cùng diện mạo hoàn toàn khác so với những gì sức nóng của khao khát từng bày ra trước mắt tôi; giữa hai trạng thái đó, cái nào mới thực sự đúng? Pyrrho chẳng biết gì về điều đó cả.

Chúng ta chưa bao giờ ngớt bệnh tật. Những cơn sốt rét có các trận nóng lạnh; từ hiệu ứng của một đam mê bùng cháy, chúng ta lại rơi vào cảm giác run rẩy; tôi tiến lên bao nhiêu, tôi lại lùi lại bấy nhiêu:—

Giờ thì, từ sự thấu hiểu về tính dễ thay đổi này của bản thân, tôi vô tình tạo ra cho mình một sự kiên định nhất định trong các quan điểm, và không thay đổi nhiều những quan điểm vốn là ban đầu và tự nhiên ở tôi; bởi vì dù sự mới lạ có vẻ hấp dẫn đến đâu, tôi cũng không dễ dàng thay đổi, vì sợ sẽ chịu thiệt thòi trong vụ làm ăn đó; và vì tôi không có khả năng lựa chọn, tôi bèn nhận lấy sự lựa chọn của kẻ khác, và giữ mình ở trạm dừng chân nơi Thiên Chúa đã đặt để tôi; nếu không, tôi sẽ chẳng tài nào ngăn nổi bản thân khỏi việc lăn lóc vĩnh viễn.

Và thế là, nhờ ơn Chúa, tôi đã bảo vệ được bản thân mình một cách nguyên vẹn, không vướng bận lo âu hay bứt rứt lương tâm trong đức tin cổ xưa của tôn giáo chúng ta giữa vô số giáo phái và phân rẽ mà thời đại chúng ta đã sản sinh ra.

Các trước tác của người xưa — ý tôi là những tác giả xuất sắc nhất — vì đầy đặn và vững chãi, đã cám dỗ và lôi kéo tôi đi bất cứ hướng nào họ muốn; kẻ mà tôi đang đọc hình như lúc nào cũng có sức mạnh lớn nhất; và tôi thấy mỗi người vào lượt của mình đều có lý, dẫu cho họ mâu thuẫn lẫn nhau.

Sự dễ dàng mà các trí tuệ xuất chúng sở hữu trong việc làm cho mọi thứ họ muốn tán thành đều có vẻ hợp lý, và việc chẳng có thứ gì quá lạ lẫm đến mức họ không dám đảm nhận việc tô vẽ cho đủ màu sắc nhằm đánh lừa một sự ngây thơ như của tôi — điều này thể hiện rõ ràng sự yếu đuối trong bằng chứng của họ.

Bầu trời và các vì sao đã chuyển động được ba ngàn năm; toàn thế giới từng ôm giữ niềm tin đó cho đến khi Cleanthes xứ Samos, hoặc theo Theophrastus, Nicetas xứ Syracuse, nảy ra ý định duy trì quan điểm rằng chính trái đất mới là kẻ chuyển động, quay quanh trục của nó theo vòng tròn xiên của hoàng đạo. Và Copernicus trong thời đại của chúng ta đã đặt nền móng cho học thuyết này vững chắc đến mức nó phục vụ một cách rất có trật tự cho mọi hệ quả chiêm tinh; chúng ta có thể rút ra bài học gì từ điều này, nếu không phải là chúng ta không nên quá bận tâm xem đâu mới là quan điểm đúng? Và ai mà biết được, ngàn năm nữa, một học thuyết thứ ba có thể lật đổ hai học thuyết trước hay không.

Thế nên, khi bất kỳ học thuyết mới nào hiện diện trước mắt chúng ta, chúng ta có rất nhiều lý do để hoài nghi, và để cân nhắc rằng trước khi học thuyết đó ra đời, quan điểm ngược lại đã từng được đón nhận rộng rãi; và cũng giống như quan điểm đó bị lật đổ bởi học thuyết này, một phát minh thứ ba trong tương lai có thể xuất hiện và dán nhãn đày đọa học thuyết thứ hai.

Trước khi các nguyên tắc do Aristotle giới thiệu có được uy tín, những nguyên tắc khác từng làm thỏa mãn lý trí con người, hệt như những nguyên tắc này đang làm thỏa mãn chúng ta bây giờ.

Những kẻ đó có bằng sáng chế gì, có đặc quyền đặc biệt nào, mà đường đua của những phát minh của chúng ta lại phải bị chặn đứng bởi họ, và quyền sở hữu toàn bộ niềm tin tương lai của chúng ta phải thuộc về họ? Họ chẳng hề được miễn dịch khỏi việc bị tống cổ ra khỏi cửa hơn là những kẻ tiền nhiệm của họ.

Khi bất cứ ai dồn ép tôi bằng một luận điểm mới, tôi nên tin rằng điều mà tôi không thể trả lời thì kẻ khác có thể; bởi vì nếu cứ tin vào mọi vẻ hợp lý mà một con người không thể bác bỏ thì đó là sự ngây thơ quá lớn; qua đó, toàn bộ dân chúng (và tất cả chúng ta đều thuộc về dân chúng) sẽ có niềm tin uyển chuyển như một chiếc chong chóng; bởi vì tâm hồn họ quá dễ bị áp đặt và không có chút kháng cự nào, buộc phải liên tục tiếp nhận hết ấn tượng này đến ấn tượng khác, trong khi ấn tượng sau vẫn cứ xóa sạch mọi dấu vết của kẻ đi trước.

Kẻ nào cảm thấy mình yếu ớt nên đáp lại theo thông lệ rằng anh ta sẽ trao đổi với luật sư của mình, hoặc phó mặc cho những bậc hiền triết — những người từ đó anh ta nhận được sự hướng dẫn.

Y học đã được hành nghề trên thế giới này bao lâu rồi? Người ta nói rằng có một kẻ mới đến tên là Paracelsus đã thay đổi và lật đổ toàn bộ trật tự của các quy tắc cổ xưa, đồng thời duy trì quan điểm rằng cho đến nay, nó chẳng mang lại công dụng gì ngoài việc giết chết con người. Tôi tin rằng hắn sẽ dễ dàng chứng minh điều này, nhưng tôi không nghĩ đó là sự khôn ngoan khi mạo hiểm tính mạng của mình để thử nghiệm kinh nghiệm của chính hắn.

Chúng ta không nên tin tưởng mọi người, theo như giới luật, bởi vì mọi người đều có thể nói mọi thứ. Một kẻ đi theo nghề nghiệp cải cách y học và những điều mới mẻ này cách đây không lâu từng nói với tôi rằng tất cả những bậc tiền bối đều mắc sai lầm tai hại về bản chất và chuyển động của các cơn gió — điều mà hắn sẽ chứng minh rõ ràng cho tôi thấy nếu tôi chịu lắng nghe hắn.

Sau khi tôi kiên nhẫn lắng nghe các lập luận của hắn — vốn đầy ắp vẻ hợp lý của sự thật — tôi bèn hỏi: “Thế thì những kẻ giương buồng theo Theophrastus đã đi về hướng tây khi mũi tàu của họ quay về hướng đông phải không? Họ đi ngang hay đi lùi thế?”

“Đó là vận may,” hắn đáp, “nhưng thực tế là họ đã nhầm lẫn.” Tôi đáp lại rằng tôi thà đi theo các hiệu ứng thực tế còn gì bằng lý trí. Giờ thì đây là những thứ thường xuyên can thiệp lẫn nhau, và tôi từng được nghe kể rằng trong hình học (môn tự hào đã giành được đỉnh cao về tính chắc chắn của mọi ngành khoa học) người ta tìm thấy những chứng minh không thể chối cãi nhằm lật đổ tính chân lý của mọi kinh nghiệm; như Jacques Pelletier từng bảo với tôi tại nhà riêng rằng ông đã tìm thấy hai đường thẳng vươn tới gặp nhau, dù vậy ông vẫn khẳng định rằng dẫu chúng có được kéo dài đến vô tận đi nữa thì cũng không tài nào chạm tới nhau được.

Và phái Pyrrho không dùng các lập luận và lý trí của họ vào mục đích nào khác ngoài việc phá hủy bề ngoài của kinh nghiệm; và thật đáng kinh ngạc là sự linh hoạt trong lý trí của chúng ta đã đi theo họ trong thiết kế tranh chấp với bằng chứng của các hiệu ứng; bởi vì họ khẳng định rằng chúng ta không hề di chuyển, rằng chúng ta không hề nói, và rằng chẳng có trọng lượng hay sức nóng nào cả — với sức nặng của các lập luận y hệt như cách chúng ta khẳng định những điều hợp lý nhất.

Ptolemy — một vĩ nhân — từng thiết lập ranh giới cho thế giới của chúng ta; tất cả các triết gia cổ đại đều nghĩ rằng họ đã nắm trong tay thước đo của nó, ngoại trừ một số hòn đảo xa xôi có thể thoát khỏi tầm hiểu biết của họ; đó là chủ nghĩa Pyrrho của một ngàn năm trước, khi hoài nghi về khoa học địa lý học và các quan điểm mà mọi người từng tiếp nhận từ nó; việc thừa nhận các xứ sở đối cực từng là dị giáo; và kìa, trong thời đại của chúng ta, một phạm vi đất liền vô tận đã được phát hiện ra — không phải là một hòn đảo hay một quốc gia đơn lẻ, mà là một phân khu của thế giới, có kích thước gần như tương đương với thế giới mà chúng ta biết trước đó.

Các nhà địa lý học trong thời đại của chúng ta không ngần ngại đảm bảo với chúng ta rằng giờ đây mọi thứ đã được tìm thấy; mọi thứ đã được nhìn thấy:—

nhưng vẫn còn phải chờ xem liệu, giống như Ptolemy từng bị lừa dối trong quá khứ dựa trên nền tảng lý trí của ông, việc chúng ta đặt niềm tin vào những gì những kẻ này nói bây giờ có phải là một sự ngu ngốc lớn hay không? Và liệu có hợp lý hơn không khi cho rằng khối thể to lớn mà chúng ta gọi là thế giới này không hoàn toàn là một thứ khác so với những gì chúng ta tưởng tượng.

Plato nói rằng nó thay đổi dung mạo ở mọi khía cạnh; rằng bầu trời, các vì sao và mặt trời đều có lúc chuyển động ngược lại với những gì chúng ta nhìn thấy, biến hướng đông thành hướng tây.

Các tư tế Ai Cập từng kể với Herodotus rằng kể từ thời vị vua đầu tiên của họ — cách đó hơn mười một ngàn năm (và họ cho ông xem hình nặn của tất cả các vị vua lấy từ người thật việc thật) — mặt trời đã bốn lần thay đổi quỹ đạo của nó; rằng biển và đất liền luân phiên thay đổi cho nhau; rằng sự khởi đầu của thế giới là bất định; Aristotle và Cicero đều nói điều tương tự; và một số người trong chúng ta có quan điểm rằng nó đã tồn tại từ ngàn xưa, hữu hạn, và được đổi mới qua nhiều chu kỳ luân hồi; viện dẫn Solomon và Isaiah làm chứng; để né tránh những đối lập đó, rằng Thiên Chúa từng là một đấng sáng tạo không có tạo vật, rằng ngài chẳng có việc gì làm, rằng ngài thoát khỏi sự rỗi rãi đó bằng cách nhúng tay vào công trình này; và do đó ngài phải chịu sự biến đổi.

Trong các mái trường nổi tiếng nhất của Hy Lạp, thế giới được coi là một vị thần, được tạo ra bởi một vị thần lớn hơn nó, và được cấu thành từ một thể xác cùng một tâm hồn được neo ở trung tâm của nó, rồi tự giãn nở bằng các con số âm nhạc ra đến chu vi của nó; thần thánh, hạnh phúc vô biên và vĩ đại vô biên, khôn ngoan vô biên và vĩnh hằng; bên trong nó có các vị thần khác, biển cả, đất liền, các vì sao — những kẻ đối thoại với nhau bằng một chuyển động hài hòa, vĩnh cửu và một điệu nhảy thần thánh, lúc gặp gỡ, lúc lại rút lui khỏi nhau; che giấu và khám phá bản thân; thay đổi trật tự của mình, lúc ở trước, lúc ở sau.

Heraclitus quả quyết rằng thế giới được cấu thành từ lửa; và theo trật tự của định mệnh, một ngày nào đó nó sẽ bị bốc cháy và tiêu hủy trong lửa, rồi sau đó lại được đổi mới. Và Apuleius nói về con người: Singillatim mortales, cunctim perpetui. “Rằng họ hữu hạn về mặt cá thể, và bất tử về mặt tổng thể.”

Alexander từng viết thư cho mẹ mình thuật lại lời kể của một tư tế Ai Cập, được rút ra từ các di tích của họ, làm chứng rằng sự cổ xưa của quốc gia đó là vô tận, và bao gồm cả sự sinh ra cùng tiến trình của các quốc gia khác.

Cicero và Diodorus nói rằng vào thời của họ, người Chaldees đã giữ lại một cuốn sổ ghi chép kéo dài bốn trăm ngàn lẻ mấy năm; Aristotle, Pliny và những người khác nói rằng Zoroaster đã nở rộ sáu ngàn năm trước thời của Plato. Plato nói rằng cư dân thành Sais có các hồ sơ ghi chép bằng văn bản kéo dài tám ngàn năm; và thành phố Athens được xây dựng một ngàn năm trước thành Sais đó; Epicurus nói rằng cùng lúc vạn vật ở đây đang ở trong tư thế mà chúng ta nhìn thấy, chúng cũng giống y hệt và theo cách thức tương tự ở một vài thế giới khác; điều mà ông sẽ phát biểu với sự tự tin lớn hơn nếu ông nhìn thấy sự tương đồng và hòa hợp của thế giới mới được phát hiện ở Tây Ấn Độ với thế giới của chúng ta — hiện tại và quá khứ — qua vô số ví dụ kỳ lạ.

Quả thực, khi ngẫm nghĩ về những gì lọt vào tầm hiểu biết của chúng ta từ tiến trình của thể chế trần thế này, tôi thường ngạc nhiên khi thấy ở một khoảng cách quá lớn về không gian và thời gian lại có một sự hội tụ của một số lượng lớn các quan điểm phổ biến, hoang dã, cùng những tác phong và niềm tin dã man — những thứ hoàn toàn không có vẻ bắt nguồn từ sự chiêm nghiệm tự nhiên của chúng ta. Trí tuệ con người quả là một cỗ máy tạo ra phép màu vĩ đại!

Nhưng mối quan hệ này hơn thế nữa còn mang một điều gì đó phi thường; người ta thấy chúng có mặt cả ở tên gọi và hàng ngàn thứ khác; bởi vì họ tìm thấy ở đó những quốc gia (mà theo những gì chúng ta biết, chưa từng nghe nói về chúng ta) nơi tục cắt bì được áp dụng; nơi có các quốc gia và thể chế chính trị lớn được duy trì hoàn toàn bởi phụ nữ mà không có đàn ông; nơi các buổi lễ ăn chay và mùa chay của chúng ta được tái hiện, có kèm theo sự kiêng cữ phụ nữ; nơi các biểu tượng cây thánh giá của chúng ta có uy tín dưới nhiều hình thức; ở đây chúng được sử dụng để tôn vinh và trang trí các ngôi mộ của họ, ở kia chúng được dựng lên — đặc biệt là cây thánh giá của thánh Andrew — để bảo vệ bản thân khỏi những cơn ác mộng ban đêm, và được đặt lên nôi của trẻ sơ sinh để chống lại bùa chú; nơi khác người ta tìm thấy một cây thánh giá bằng gỗ cao ngất ngưởng, được tôn thờ làm thần mưa, và điều này diễn ra ở sâu trong đất liền; người ta nhìn thấy hình ảnh rõ mồn một của các vị tư tế làm lễ sám hối của chúng ta, việc đội mũ tế, sự độc thân của các linh mục, nghệ thuật bói toán bằng nội tạng của các con vật hiến tế, việc kiêng mọi loại thịt và cá trong chế độ ăn uống, phương thức hành lễ của các tư tế bằng một ngôn ngữ đặc biệt thay vì ngôn ngữ thông thường; và ý niệm này: vị thần đầu tiên bị đuổi đi bởi vị thần thứ hai — đứa em trai nhỏ tuổi của hắn; rằng họ được tạo ra cùng với mọi thứ cần thiết và tiện nghi, nhưng sau đó đã bị tước đoạt một phần vì tội lỗi của họ, lãnh thổ bị thay đổi và bản tính tự nhiên trở nên tồi tệ hơn; rằng họ từng bị nhấn chìm từ ngả thiên đàng bởi trận hồng thủy nước; chỉ có vài gia đình trốn thoát, họ lui tới các hang động trên những ngọn núi cao, bịt kín cửa hang để nước không tràn vào được, đồng thời mang theo bên mình nhiều loại động vật; khi nhận ra những cơn mưa đã ngớt, họ thả những con chó ra, và khi thấy chúng quay lại trong tình trạng sạch sẽ và ẩm ướt, họ đánh giá là nước vẫn chưa rút bớt bao nhiêu; sau đó thả những con khác ra, và thấy chúng quay lại trong tình trạng vấy bẩn, họ bèn bước ra để tái định cư thế giới — nơi họ chỉ thấy ngập tràn rắn rết.

Ở một nơi, chúng ta bắt gặp niềm tin về ngày phán xét; đến mức họ vô cùng phẫn nộ với người Tây Ban Nha vì đã xáo trộn xương cốt của người chết khi lục lọi các ngôi mộ để tìm của cải, nói rằng những bộ xương bị xáo trộn đó không thể dễ dàng ráp lại với nhau; việc giao thương bằng hình thức đổi chác chứ không cách nào khác; các hội chợ và chợ bọc lót cho mục đích đó; những gã lùn và kẻ dị dạng dùng để trang trí bàn ăn của các bậc vương tôn; nghệ thuật chơi chim ưng, tùy theo bản chất của loài chim săn của họ; những khoản trợ cấp bạo tàn; sự cầu kỳ trong vườn tược; khiêu vũ, những trò nhào lộn, âm thanh nhạc cụ, huy hiệu, sân quần vợt, xúc xắc và trò chơi xổ số — nơi đôi khi họ ham hố đến mức đặt cược cả mạng sống và sự tự do của mình; y học, nhưng không thông qua thứ gì khác ngoài bùa chú; phương thức viết bằng mật mã; niềm tin về một người đàn ông đầu tiên duy nhất, là cha của tất cả các quốc gia; sự tôn thờ một vị thần từng sống như một con người trong sự trinh bạch hoàn toàn, nhịn ăn và sám hối, rao giảng các luật lệ của tự nhiên và các nghi lễ tôn giáo, rồi biến mất khỏi thế gian mà không trải qua cái chết tự nhiên; học thuyết về những người khổng lồ; tập tục uống rượu say sưa cho đến bét nhè; các vật phẩm tôn giáo được trang trí bằng xương và đầu lâu người; áo lễ, nước thánh được vẩy; vợ và người hầu — những kẻ cạnh tranh nhau để tự nguyện được hỏa táng và chôn cất cùng người chồng hoặc người chủ đã khuất; đạo luật theo đó người con trai trưởng thừa kế toàn bộ điền trang, không chừa lại phần nào cho người em ngoài sự vâng lời; tập tục khi được thăng chức vào một chức vụ có quyền uy lớn nào đó, người được thăng chức phải mang một cái tên mới và từ bỏ cái tên cũ; tập tục rắc vôi lên đầu gối của đứa trẻ sơ sinh kèm theo câu nói: “Ngươi sinh ra từ tro bụi, và sẽ phải trở về với tro bụi”; cũng như nghệ thuật bói toán bằng điềm báo.

Những chiếc bóng hão huyền của tôn giáo chúng ta — có thể quan sát được trong một số ví dụ này — chính là minh chứng cho phẩm giá và tính thần thánh của nó. Nó không chỉ phần nào len lỏi vào tất cả các quốc gia ngoại đạo ở phía bên này thế giới, thông qua một sự bắt chước nhất định, mà còn ở những kẻ dã man này, tựa như một nguồn cảm hứng chung và siêu nhiên; bởi vì chúng ta tìm thấy ở đó niềm tin về luyện ngục, nhưng theo một hình thức mới: thứ mà chúng ta dành cho lửa thì họ dành cho cái lạnh, và tưởng tượng rằng linh hồn được tẩy rửa và trừng phạt bởi sự khắc nghiệt của cái lạnh quá mức.

Và ví dụ này làm tôi nhớ đến một sự đa dạng thú vị khác; bởi vì cũng giống như có những dân tộc ở đó thích cởi trần phần đầu của cơ quan sinh dục và cắt bỏ lớp da quy đầu theo phong cách Hồi giáo và Do Thái; thì lại có những kẻ khác coi việc để lộ phần đó là một tội lỗi lớn đến mức họ cẩn thận tóm nó lại bằng những sợi dây nhỏ để giữ cho phần đầu không thò ra ngoài không khí; và một sự đa dạng khác nữa: trong khi chúng ta, để tôn vinh các vị vua và các ngày lễ hội, mặc những bộ quần áo đẹp nhất mình có; thì ở một số vùng, để bày tỏ sự chênh lệch và sự phục tùng đối với nhà vua của họ, các thần dân xuất hiện trước mặt ngài trong những bộ trang phục tồi tàn nhất, và khi bước vào cung điện, họ khoác một mảnh vải rách rưới cũ kỹ lên trên bộ quần áo đẹp hơn của mình, với mục đích để toàn bộ sự lộng lẫy và trang hoàng chỉ thuộc về một mình nhà vua mà thôi. Nhưng xin được tiếp tục:—

Nếu tự nhiên bao bọc trong giới hạn của tiến trình thông thường các niềm tin, phán quyết và quan điểm của con người, cũng như tất cả mọi thứ khác; nếu chúng có chu kỳ, mùa màng, sự sinh ra và cái chết giống như những cây bắp cải; nếu bầu trời lay động và cai quản chúng theo sở thích của mình, thì chúng ta đang gán cho chúng một uy quyền mang tính mệnh lệnh và vĩnh cửu nào đây?

Nếu chúng ta thực nghiệm nhận thấy rằng hình thái bản thể của chúng ta phụ thuộc vào không khí, khí hậu và thổ nhưỡng nơi chúng ta sinh ra — chứ không chỉ màu sắc, vóc dáng, thể tạng và gương mặt, mà hơn thế nữa là cả các năng lực của chính tâm hồn: Et plaga caeli non solum ad robor corporum, sed etiam animorum facit: “Khí hậu có ảnh hưởng lớn lao, không chỉ đối với sức mạnh của cơ thể mà cả đối với tâm hồn nữa,” Vegetius đã nói thế; và vị nữ thần sáng lập ra thành phố Athens đã chọn đặt nó ở một nền nhiệt độ không khí phù hợp để tạo ra những con người khôn ngoan, như các tư tế Ai Cập từng nói với Solon: Athenis tenue caelum; ex quo etiam acutiores putantur Attici; crassum Thebis; itaque pingues Thebani, et valentes: “Không khí của Athens tinh tế và mỏng manh; từ đó người Athens được cho là sắc sảo hơn; còn ở Thebes thì thô và dày; do đó người Thebans bị xem là chậm chạp và khỏe mạnh hơn thế.”

Theo cách đó, cũng như hoa quả và động vật lớn lên khác nhau, con người cũng ít nhiều hiếu chiến, công chính, ôn hòa và dễ bảo; ở đây thì nghiện rượu, nơi khác thì trộm cắp hoặc dâm ô; chỗ này có xu hướng mê tín dị đoan, chỗ kia lại vô thần; nơi này hướng về tự do, nơi kia hướng về nô lệ; có khả năng về một môn khoa học hay một ngành nghệ thuật, đần độn hoặc thông minh, vâng lời hoặc nổi loạn, tốt hay xấu, tùy theo nơi chốn họ trú ngụ tác động đến họ; và họ mang một sắc thái mới nếu bị bứng đi nơi khác, hệt như cây cối; đó là lý do vì sao Cyrus không cho phép người Ba Tư rời bỏ vùng đất gồ ghề, sỏi đá của họ để chuyển đến một nơi dễ chịu và bằng phẳng hơn, nói rằng đất đai màu mỡ và mềm mại làm cho con người trở nên yếu đuối và lười nhác.

Nếu chúng ta thấy lúc thì môn nghệ thuật này và niềm tin nọ hưng thịnh, lúc thì môn khác và niềm tin khác, thông qua một ảnh hưởng thiên thể nào đó; thời đại này sản sinh ra những bản tính thế này và hướng nhân loại tới những xu hướng thế kia, tâm trạng của con người lúc vui vẻ, lúc ủ rũ, hệt như những cánh đồng của chúng ta, thì điều gì sẽ xảy ra cho tất cả những đặc quyền tuyệt vời mà chúng ta tự vuốt ve ấy?

Xét thấy một bậc hiền triết có thể mắc sai lầm, và một trăm người cùng một trăm quốc gia — thậm chí ngay cả bản thân nhân loại theo như chúng ta tin tưởng — đã sai lệch qua nhiều thế kỷ về điều này hay điều nọ, chúng ta có sự đảm bảo nào để tin rằng cô ta sẽ ngừng sai lầm, hoặc trong chính thời đại này của chúng ta, cô ta không hề sai lầm?

Tôi nghĩ rằng trong số những minh chứng cho sự bất lực của chúng ta, điều này không nên bị lãng quên: con người không thể — bằng chính mong muốn và khao khát của mình — tìm ra những gì anh ta muốn; rằng không chỉ trong sự thụ hưởng mà còn trong cả trí tưởng tượng và mong ước, chúng ta không thể đồng thuận về những gì chúng ta muốn để thỏa mãn và làm cho mình hạnh phúc.

Hãy để mặc cho tư tưởng của chúng ta tự cắt xéo và nhào nặn tùy ý; nó thậm chí còn chẳng thể khao khát thứ thích hợp cho chính mình và tự làm mình thỏa mãn:—

Và đó là lý do vì sao Socrates chỉ cầu xin các vị thần ban cho ông những gì họ biết là tốt nhất cho ông; và lời cầu nguyện cá nhân lẫn công khai của người Lacedemonia chỉ đơn giản là cầu xin những điều tốt đẹp và hữu ích, phó mặc sự lựa chọn và định đoạt cho sự phán xét của Đấng Tối Cao:—

và những người theo đạo Thiên Chúa cầu nguyện rằng: “Xin cho ý cha được thể hiện,” để họ không rơi vào rắc rối mà nhà thơ dựng lên cho Vua Midas.

Ông ta cầu xin các vị thần biến mọi thứ mình chạm vào thành vàng; lời cầu nguyện của ông ta đã được lắng nghe; rượu của ông là vàng, bánh mì của ông là vàng, lông vũ trên giường, áo sơ mi, quần áo của ông đều là vàng, đến mức ông thấy mình bị ngập chìm trong sự thụ hưởng của khao khát và được trang bị một ân huệ không thể dung nổi, để rồi phải cầu xin để rút lại lời cầu nguyện của chính mình.

Lấy bản thân tôi làm ví dụ: khi còn trẻ, tôi khát khao hơn hết thảy mọi thứ từ vận mệnh: huân chương Thánh Michael — thứ khi đó là danh hiệu cao quý nhất trong số các quý tộc Pháp, và rất hiếm. Bà ta đã vui vẻ thỏa mãn khao khát của tôi; thay vì nâng tôi lên và bốc tôi khỏi vị trí của mình để vươn tới nó, bà ta lại tử tế hơn với tôi rất nhiều; bởi vì bà ta hạ thấp nó xuống, và làm cho nó rẻ rúng đến mức nó tự cụp xuống bờ vai tôi, và thậm chí thấp hơn thế.

Cleobis và Bito, Trophonius và Agamedes — sau khi yêu cầu, kẻ thì từ nữ thần của mình, kẻ thì từ vị thần của mình, một phần thưởng xứng đáng cho lòng đạo đức của họ — đều nhận được cái chết làm phần thưởng; các phán quyết của thiên dire khác biệt với chúng ta đến thế nào trong việc nhận định điều gì phù hợp cho chúng ta.

Thiên Chúa có thể ban cho chúng ta sự giàu có, vinh quang, cuộc sống và thậm chí cả sức khỏe để làm tổn thương chính chúng ta; bởi vì không phải mọi thứ làm chúng ta hài lòng đều luôn tốt cho chúng ta. Nếu ngài gửi đến cho chúng ta cái chết, hay sự gia tăng của bệnh tật thay vì sự chữa lành, Virga tua et baculus tuus ipsa me consolata sunt. “Cây gậy trường của ngài và cây gậy ngắn của ngài đã an ủi tôi,” ngài làm điều đó theo quy tắc quan phòng của mình — đấng thấu hiểu tốt hơn và chắc chắn hơn chúng ta về những gì phù hợp cho mình; và chúng ta nên hoan hỉ đón nhận nó như thể nó đến từ một bàn tay khôn ngoan và thân thiện nhất:

bởi vì đòi hỏi ngài ban cho vinh quang và quyền chỉ huy chính là đòi hỏi “ngài ném bạn vào một trận chiến, đặt bạn vào một ván xúc xắc, hoặc một việc gì đó có bản chất tương tự, nơi kết quả đối với bạn là mù mịt và hoa trái thì bấp bênh.”

Chẳng có cuộc tranh chấp nào sắc bén và dữ dội giữa các triết gia bằng câu hỏi về điều thiện tối cao của con người; từ đó, theo cách tính của Varro, đã nảy sinh hai trăm tám mươi mươi tám giáo phái. Qui autem de summo bono dissentit, de tot philosophiae ratione disputat.

“Bởi vì bất kỳ ai bước vào cuộc tranh cãi liên quan đến điều thiện tối cao đều đang tranh luận về toàn bộ vấn đề triết học.”

tự nhiên cũng nên thốt lên điều tương tự đối với những cuộc tranh cãi và bàn cãi của họ.

Một số người nói rằng sự hạnh phúc của chúng ta nằm ở đức hạnh, kẻ khác nói ở khoái cảm, người khác nữa ở sự phục tùng tự nhiên; người cho rằng trong tri thức, kẻ khác trong việc thoát khỏi nỗi đau, người khác trong việc không để bản thân bị cuốn theo những biểu hiện bề ngoài; và ý niệm này dường như có mối liên hệ nào đó với triết lý của Pythagoras cổ xưa,

đó cũng là hướng đi của phái Pyrrho. Aristotle quy sự không trầm trồ thán phục trước điều gì cho sự cao thượng; và Arcesilaus nói rằng sự kiên định cùng một trạng thái phán quyết bất khuất, đúng đắn chính là điều thiện đích thực, còn sự đồng thuận và ứng dụng là tội lỗi và điều ác; và ở điểm này, thật sự là khi trở nên quả quyết như thế và thiết lập một tiên đề chắc chắn, ông đã từ bỏ chủ nghĩa Pyrrho; bởi vì những tín đồ phái Pyrrho, khi họ nói rằng ataraxy — tức là sự bất động của phán quyết — là điều thiện tối cao, họ không có ý định nói điều đó một cách khẳng định; mà là chính chuyển động tâm hồn khiến họ tránh các vách đá và tìm nơi trú ẩn khỏi cái lạnh đã trình bày cho họ một ý niệm như thế và khiến họ từ chối ý niệm khác.

Tôi khao khát biết bao rằng trong lúc tôi còn sống, hoặc một ai đó, hoặc Justus Lipsius — con người uyên bác nhất hiện nay, với một trí tuệ cực kỳ lịch thiệp và sáng suốt, thực sự giống với Turnebus của tôi — có cả ý chí, sức khỏe và thời gian rảnh rỗi để cẩn trọng và tận tâm thu thập lại thành một cuốn sổ đăng ký, theo đúng các phân chia và phân loại của chúng, càng nhiều càng tốt các quan điểm của các triết gia cổ đại về chủ đề bản thể và tác phong của chúng ta, các cuộc tranh cãi của họ, sự kế thừa và uy tín của các giáo phái; cùng với việc áp dụng cuộc đời của các tác giả và môn đồ của họ vào chính các giới luật của họ, trong những tai nạn đáng nhớ và vào các dịp điển hình. Thật là một công trình đẹp đẽ và hữu ích biết bao!

Nói cho cùng, nếu chúng ta tự trích xuất các quy tắc tác phong từ chính bản thân mình, chúng ta đang tự ném mình vào một sự hỗn độn biết bao! Bởi vì điều mà lý trí khuyên nhủ chúng ta như là hợp lý nhất thường là việc mọi người hãy tuân theo luật pháp của đất nước mình, theo như lời khuyên của Socrates — được truyền cảm hứng, như ông nói, bởi một lời khuyên thần thánh; và qua đó, ông ngầm ý điều gì, nếu không phải là bổn phận của chúng ta chẳng có quy tắc nào khác ngoài những thứ mang tính ngẫu nhiên?

Chân lý phải mang một dung mạo đồng nhất và phổ quát; nếu con người có thể thấu hiểu sự công bình và công lý mang thể xác và bản thể thực sự, anh ta sẽ không xích nó vào các điều kiện của xứ sở này hay xứ sở nọ; đức hạnh sẽ không nhận lấy hình thái của nó từ những trò lố bịch của người Ba Tư hay người Ấn Độ.

Chẳng có gì chịu sự biến đổi vĩnh viễn nhiều hơn luật pháp; kể từ khi tôi sinh ra, tôi đã thấy luật pháp của người Anh — những người láng giềng của chúng ta — thay đổi ba bốn lần, không chỉ trong các vấn đề thể chế dân sự — thứ duy nhất mà người ta có thể châm chước sự kiên định — mà còn trong chủ đề quan trọng nhất có thể, đó là tôn giáo; điều này làm tôi càng thêm bận tâm và hổ thẹn, bởi vì đó là một quốc gia mà cư dân trong tỉnh của tôi từng có sự thân thiết và quen thuộc lớn lao đến mức cho đến nay vẫn còn lưu giữ trong nhà tôi một vài dấu vết về dòng họ thân tộc cổ xưa của chúng ta; và ngay tại đây, tại quê nhà, tôi từng thấy một thứ tội từng chịu án tử hình bỗng trở thành hợp pháp; và chúng ta — những kẻ phụ thuộc vào kẻ khác — cũng có nguy cơ, tùy theo vận may chiến tranh, có thể một ngày nào đó bị phán quyết là có tội phản quốc, cả thần thánh lẫn con người, nếu công lý từ vũ khí của chúng ta rơi vào tay của sự bất công, và sau vài năm chiếm giữ, lại mang một bản chất hoàn toàn ngược lại.

Làm sao vị thần cổ đại đó có thể cáo buộc rõ ràng hơn sự dốt nát của tri thức nhân loại liên quan đến Bản thể thần thánh, và cho con người hiểu rằng tôn giáo của họ chẳng qua chỉ là một thứ do chính họ tự bịa ra, hữu ích như một sợi dây gắn kết xã hội của họ, hơn là việc tuyên bố hệt như cách ngài đã nói với những kẻ đến đền thờ của ngài để tìm kiếm sự hướng dẫn, rằng sự tôn thờ đích thực của mỗi người chính là thứ họ tìm thấy đang được áp dụng tại nơi họ tình cờ đặt chân đến? Lạy Chúa, chúng ta mang ơn lòng nhân từ của Đấng Sáng Tạo vĩ đại biết bao vì ngài đã giải trừ niềm tin của chúng ta khỏi những lòng tôn súng lang thang và tùy tiện ấy, rồi đặt để nó lên nền tảng vĩnh cửu của lời ngài!

Nhưng khi ấy các triết gia sẽ nói gì với chúng ta trong hoàn cảnh bức thiết này? “Rằng chúng ta hãy tuân theo luật pháp của đất nước mình”; nghĩa là, hãy tuân theo vùng biển trôi nổi này gồm các quan điểm của một nước cộng hòa, hoặc của một vị hoàng tử — kẻ sẽ vẽ ra sự công bình cho tôi với ngần ấy màu sắc và tạo hình nó bằng ngần ấy cách thức giống như sự biến đổi các đam mê bên trong chính họ; tôi không thể chịu đựng để phán quyết của mình lại dễ uốn đến thế.

Đó là loại đức hạnh gì khi tôi thấy hôm nay còn được ngợi ca, ngày mai đã chẳng còn là gì nữa, và việc băng qua một con sông liền biến nó thành một tội ác? Đó là loại chân lý gì khi những ngọn núi này giới hạn nó đối với chúng ta, và biến nó thành một lời dối trá đối với toàn bộ thế giới bên kia chúng?

Nhưng họ thật buồn cười khi tìm cách mang lại sự chắc chắn cho luật pháp bằng cách nói rằng có một số bộ luật vững chắc, vĩnh cửu và bất động — mà họ gọi là luật tự nhiên — được khắc sâu vào nhân loại bởi điều kiện của bản thể chính họ; và trong số này, có người tính ba, có người tính bốn, có người tính nhiều hơn, có người tính ít hơn — một dấu hiệu cho thấy đó là một dấu vết đáng ngờ chẳng kém gì những thứ còn lại.

Giờ thì họ thật khốn khổ (vì tôi có thể gọi thế nào khác ngoài sự khốn khổ khi trong số vô vàn luật lệ ấy, không tìm thấy nổi dù chỉ một bộ luật được vận may và sự liều lĩnh của ngẫu nhiên dung thứ cho việc được toàn thể các quốc gia đồng thuận tiếp nhận?); họ, tôi nói đấy, khốn khổ đến mức trong số ba bốn bộ luật được tuyển chọn này, không có nổi lấy một thứ không bị mâu thuẫn và chối bỏ, không chỉ bởi một quốc gia mà bởi rất nhiều quốc gia.

Giờ thì, dấu hiệu duy nhất có vẻ hợp lý để họ biện luận hoặc suy ra một số luật tự nhiên chính là tính phổ quát của sự chuẩn thuận; bởi vì không có nghi ngờ gì khi chúng ta sẽ tuân theo với một sự đồng thuận chung những gì tự nhiên thực sự đã định đoạt cho chúng ta; và không chỉ mọi quốc gia mà mọi cá nhân cũng sẽ cảm nhận được sức mạnh và sự bạo lực mà bất kỳ kẻ nào gây ra cho họ nếu kẻ đó lôi kéo họ vào bất cứ điều gì trái ngược với bộ luật này. Nhưng hãy thử chỉ ra cho tôi một bộ luật đạt được điều kiện đó xem nào.

Protagoras và Aristo không gán cho công lý của luật pháp bất kỳ bản chất nào ngoài uy quyền và quan điểm của nhà lập pháp; và khi gạt bỏ những điều đó đi, cái thiện và cái đẹp sẽ mất đi phẩm chất của chúng, chỉ còn lại những cái tên trống rỗng của những thứ dửng dưng; Thrasymachus trong tác phẩm của Plato có quan điểm rằng không có công lý nào khác ngoài sự tiện lợi của kẻ bề trên.

Chẳng có gì trên thế giới này mà sự đa dạng lại lớn lao như trong luật pháp và tập tục; một thứ ở đây bị coi là ghê tởm nhưng ở nơi khác lại được trân trọng — như ở Lacedemon, sự khôn khéo trong việc ăn cắp; các cuộc hôn nhân giữa những người thân thích bị cấm ngặt dưới hình phạt tử hình ở chỗ chúng ta, nhưng ở nơi khác lại được vinh danh:—

việc sát hại trẻ sơ sinh, sát hại cha mẹ, sự chung đụng vợ chồng, buôn bán trộm cắp, sự phóng túng trong mọi loại khoái cảm; tóm lại, không có gì là quá cực đoan mà lại không được cho phép bởi tập tục của một quốc gia nào đó.

Có thể tin rằng có những luật tự nhiên dành cho chúng ta, giống như chúng ta nhìn thấy ở các sinh vật khác; nhưng chúng đã bị mai một ở con người, khi trí tuệ tinh tế này cứ len lỏi khắp nơi để cai quản và ra lệnh, đến mức làm xáo trộn và đảo lộn dung mạo của vạn vật theo sự hão huyền và bất ổn của chính nó: Nihil itaque amplius nostrum est; quod nostrum dico, artis est.

“Do đó không có gì thực sự thuộc về chúng ta nữa; những gì chúng ta gọi là của mình đều thuộc về nghệ thuật.”

Các đối tượng mang những ánh sáng khác nhau và những cân nhắc khác nhau, và từ đó sự đa dạng của các quan điểm chủ yếu nảy sinh; một quốc gia xem xét một đối tượng ở một khía cạnh và dừng lại ở đó; quốc gia khác lại nắm bắt nó dưới một góc độ khác.

Chẳng có điều gì đáng sợ hơn có thể được tưởng tượng ra cho bằng việc một con người ăn thịt chính cha mình; thế mà dân tộc từng có tập tục cổ xưa làm điều đó lại xem đó là minh chứng cho lòng hiếu thảo và tình cảm, tìm kiếm qua đó để mang lại cho các bậc sinh thành một nghi lễ an táng xứng đáng và đáng kính nhất; lưu trữ bên trong chính mình, và tựa như trong chính tủy xương của mình, thi hài và di tích của cha mình, và phần nào tái sinh họ thông qua sự biến đổi thành thể xác đang sống của mình, bằng phương tiện của dưỡng chất và sự tiêu hóa.

Thật dễ dàng để nhận ra sự tàn ác và ghê tởm đó đã từng xuất hiện như thế nào đối với những kẻ bị mê hoặc và ngấm ngẫm thứ tín ngưỡng này khi họ ném di tích của cha mình cho sự phân hủy của đất đai và làm thức ăn cho thú dữ cũng như giun dế.

Lycurgus xem xét trong hành vi ăn cắp sự nhanh nhẹn, sự chăm chỉ, sự táo bạo và sự khéo léo trong việc chôm chỉa bất cứ thứ gì từ láng giềng, cũng như lợi ích mang lại cho công chúng khi mọi người phải cẩn thận hơn trong việc bảo tồn những gì thuộc về mình; và tin rằng từ hai thể chế kép này của việc tấn công và phòng thủ, người ta có thể rút ra lợi thế cho kỷ luật quân sự (vốn là khoa học và đức hạnh chính yếu mà ông muốn rèn luyện cho quốc gia đó), có trọng lượng lớn hơn sự hỗn loạn và bất công của việc lấy đồ của kẻ khác.

Dionysius — vị bạo vương, từng mời Plato mặc một chiếc áo choàng theo phong cách Ba Tư, dài, thêu gấm và tẩm nước hoa; Plato từ chối, nói rằng: “Đã sinh ra là đàn ông, ông sẽ không sẵn lòng mặc trang phục phụ nữ”; nhưng Aristippus đã chấp nhận nó cùng với câu trả lời rằng: “Không có trang phục nào có thể làm vẩn đục một dũng khí trong sáng.”

Khi bạn bè quở trách ông vì sự hèn nhát khi không tỏ ra tức giận hơn trước việc Dionysius nhổ nước bọt vào mặt mình, ông đáp: “Những kẻ đánh cá vẫn chịu để cho những con sóng biển táp lên người từ đầu đến chân chỉ để bắt một con cá bống.”

Diogenes đang rửa rau cải, nhìn thấy ông đi ngang qua, bỗng nói: “Nếu anh có thể sống bằng rau cải, anh đã chẳng phải nịnh bọt một tên bạo vương”; Aristippus đáp lại: “Và nếu anh biết cách sống giữa loài người, anh đã chẳng phải đi rửa rau cải.”

Cứ thế, lý trí tìm ra những vẻ bề ngoài cho các hiệu ứng khác nhau; đó là một chiếc bình có hai quai mà người ta có thể nhấc bằng bên phải hoặc bên trái:—

Solon, khi bị bạn bè can ngăn không nên đổ những giọt nước mắt bất lực và vô ích vì cái chết của con trai mình, đã đáp: “Chính vì những giọt nước mắt ấy bất lực và vô ích nên tôi mới càng có lý do chính đáng để tuôn rơi chúng.”

Vợ của Socrates đã làm trầm trọng thêm nỗi đau của mình bởi tình huống này: “Ôi, những tên thẩm phán ác độc lại có thể xử tử ông ấy một cách bất công làm sao!” Socrates đáp: “Tại sao, bà lại muốn chúng xử tử tôi một cách công bằng chắc?”

Chúng ta bấm lỗ tai; người Hy Lạp coi đó là dấu hiệu của nô lệ. Chúng ta rút vào không gian riêng tư để tận hưởng vợ mình; người Ấn Độ làm điều đó ở nơi công cộng. Người Scythia hiến tế người lạ trong đền thờ của họ; ở những nơi khác, đền thờ lại là nơi trú ẩn:—

Tôi từng nghe kể về một vị thẩm phán nọ, khi vướng vào một cuộc xung đột gay gắt giữa Bartolus và Aldus với vô số điểm mâu thuẫn được tranh cãi, đã viết vào lề sách của mình: “Một câu hỏi cho bạn bè”; nghĩa là chân lý ở đó bị tranh chấp và tranh cãi gay gắt đến mức trong một vụ án tương tự, ông có thể thiên vị bất kỳ bên nào ông thấy phù hợp.

Đó chỉ là do thiếu trí tuệ nên ông mới không viết câu “một câu hỏi cho bạn bè” vào khắp cuốn sách. Các luật sư và thẩm phán trong thời đại của chúng ta tìm thấy đủ mọi góc độ thiên vị trong mọi vụ án để uốn nắn chúng theo bất kỳ cách nào họ muốn.

Trong một môn khoa học quá ư mênh mông, phụ thuộc vào uy quyền của vô số quan điểm và một chủ đề quá đổi tùy tiện, chắc chắn rằng một sự hỗn loạn tột độ trong các phán quyết sẽ nảy sinh; hầu như chẳng có vụ kiện nào rạch ròi đến mức các quan điểm không mâu thuẫn sâu sắc; tòa án này phán quyết theo hướng này thì tòa khác lại phán quyết hoàn toàn ngược lại, và chính tòa án đó vào thời điểm khác lại phán quyết ngược lại với chính mình.

Điều mà chúng ta thấy xảy ra rất thường xuyên, bắt nguồn từ tập tục được dung nạp giữa chúng ta — một vết nhơ kỳ lạ đối với uy quyền mang tính nghi lễ và ánh hào quang của công lý chúng ta — đó là không chịu tuân thủ một bản án duy nhất, mà cứ chạy từ thẩm phán này sang thẩm phán khác, từ tòa án này sang tòa án nọ để quyết định một vụ án duy nhất.

Đối với sự tự do trong các quan điểm triết học liên quan đến thói hư tật xấu và đức hạnh, chúng ta không cần phải xoáy sâu vào đó; ở đó người ta tìm thấy vô số quan điểm thà che giấu đi còn hơn công bố ra trước những tâm hồn yếu ớt.

Arcesilaus nói rằng: “Trong chuyện chăn gối, việc thực hiện ở đâu hay với ai chẳng có gì quan trọng cả”: Et obscenas voluptates, si natura requirit, non genere, aut loco, aut ordine, sed forma, aetate, figura, metiendas Epicurus putat... ne amores quidem sanctos a sapiente alienos esse arbitrantur... Quaeramus, ad quam usque aetatem juvenes amandi sint.

“Và những khoái cảm đồi bại, nếu tự nhiên yêu cầu,” Epicurus nghĩ rằng, “không được đo lường bằng chủng tộc, giống loài, nơi chốn hay cấp bậc, mà bằng tuổi tác, vóc dáng và hình thể… Ngay cả những mối tình thiêng liêng cũng không bị xem là xa lạ đối với các bậc hiền triết… Chúng ta hãy tìm xem thanh thiếu niên đến độ tuổi nào thì nên được yêu đương.”

Hai trích dẫn mang phong cách Khắc Kỷ sau cùng này, cùng lời chỉ trích mà Dicaearchus ném vào mặt chính Plato xung quanh vấn đề này, cho thấy triết học vững chắc nhất dung túng cho những sự phóng túng và quá trớn xa rời tập tục thông thường đến nhường nào.

Luật pháp có được uy quyền từ sự chiếm giữ và tập tục. Thật nguy hiểm khi lần ngược chúng về nguồn gốc ban đầu; chúng lớn lên và tự nâng cao phẩm giá, giống như những con sông của chúng ta, nhờ sự chảy xuôi; nhưng hãy lần theo chúng lên tận nguồn cội, đó chỉ là một dòng suối nhỏ, hầu như không thể nhận ra,—

thứ phình to lên và tự củng cố bản thân bằng cách già đi như thế. Hãy tham khảo những cân nhắc cổ xưa từng tạo ra chuyển động đầu tiên cho dòng thác nổi tiếng này, đầy ắp sự trang nghiêm, uy quyền và sự tôn kính, bạn sẽ thấy chúng hời hợt và yếu ớt đến mức không có gì đáng ngạc nhiên nếu những kẻ cân nhắc và quy giảm mọi thứ về lý trí, không thừa nhận bất kỳ điều gì bằng uy quyền hay sự tín nhiệm, lại có phán quyết thường rất xa rời và khác biệt so với công chúng.

Sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu những kẻ lấy mô hình từ hình thái ban đầu của tự nhiên lại đi chệch khỏi con đường chung trong hầu hết các quan điểm của họ; chẳng hạn, rất ít kẻ trong số họ tán thành các điều kiện nghiêm ngặt trong các cuộc hôn nhân của chúng ta, và phần lớn bọn họ đều ủng hộ việc có vợ chung và không bị ràng buộc; họ sẽ từ chối các nghi lễ của chúng ta.

Chrysippus nói rằng: “Một triết gia sẽ trồng cây chuối ngược chục lần, ừ thì, mà không cần mặc quần đùi, để đổi lấy một tá quả ô liu.” Vị triết gia đó có lẽ sẽ chẳng đời nào khuyên Cleisthenes từ chối Hippoclides — kẻ xinh đẹp, con gái của Agarista — chỉ vì đã thấy hắn đứng trồng cây chuối trên bàn.

Metrocles từng vô tình xì hơi một cách thiếu tế nhị trong lúc đang tranh luận, trước sự chứng kiến của một cử tọa lớn trong trường học của mình, và đã tự giam mình trong nhà vì xấu hổ, cho đến khi Crates đến thăm, bổ sung vào những lời an tảng và lý lẽ của mình bằng ví dụ về sự tự do của chính mình — khi lao vào thử xem ai là kẻ phát ra tiếng động lớn hơn cùng anh ta — đã chữa khỏi sự bứt rứt đó cho anh ta, và đồng thời lôi kéo anh ta về với giáo phái Khắc Kỷ của mình — thứ vốn tự do hơn so với giáo phái bảo thủ hơn của phái Peripatetic mà anh ta từng gia nhập cho đến lúc đó.

Thứ mà chúng ta gọi là sự đoan trang — không dám làm ở nơi công cộng điều vốn đủ đàng hoàng để làm trong không gian riêng tư — được phái Khắc Kỷ gọi là trò hề; và việc tỏ ra e ấp, rụt rè đến mức che giấu cùng phủ nhận những gì tự nhiên, tập tục và khao lặc của chúng ta công bố và hô oang lên trong các hành động của mình, bị họ coi là một thói hư tật xấu.

Những kẻ khác lại cho rằng việc lôi các bí nhiệm của Venus ra khỏi phòng kín để phơi bày trước mắt thiên hạ là sự đánh giá thấp chúng, và việc đưa chúng ra khỏi sau tấm màn che chẳng khác nào hạ thấp giá trị của chúng.

Sự đoan trang là một thứ có trọng lượng; sự kín đáo, tính dè dặt và sự thận trọng là các phần của sự tôn kính. Khoái cảm đã rất khôn ngoan khi — dưới chiếc mặt nạ của đức hạnh — bà ta nài nỉ không bị mang ra buôn bán ngoài đường phố công cộng, không bị giẫm đạp dưới chân và phơi bày trước mắt thiên hạ, vì thiếu đi phẩm giá và sự tiện lợi của những căn phòng kín đáo.

Do đó, một số người nói rằng việc dẹp bỏ các nhà chứa công cộng không chỉ làm phân tán nạn mại dâm ra khắp mọi nơi — thứ vốn bị giới hạn ở một chỗ — mà hơn thế nữa, thông qua sự khó khăn, còn kích thích những kẻ hoang dã và rảnh rỗi dấn thân vào thói hư tật xấu này:—

Trải nghiệm này đa dạng hóa chính nó qua hàng ngàn ví dụ:—

Một triết gia bị bắt quả tang đang hành sự và khi được hỏi hắn đang làm gì, đã điềm tĩnh đáp: “Tôi đang trồng con người”; chẳng thẹn thùng gì với chiến tích bị bắt quả tang đó cứ như thể người ta bắt gặp hắn đang trồng tỏi vậy.

Tôi cho rằng, xuất phát từ sự dịu dàng và lòng tôn trọng đối với tính đoan trang tự nhiên của nhân loại, một tác giả lớn và sùng đạo có quan điểm rằng hành động này bắt buộc phải gắn liền với sự kín đáo và sự xấu hổ đến mức ông không thể tin nổi có thể có bất kỳ sự thực hiện tuyệt đối nào trong những cái ôm trơ trẽn của phái Cynic, mà họ chỉ bằng lòng tái hiện các cử chỉ dâm dục nhằm duy trì sự trơ trẽn theo tuyên bố của trường phái họ; và rằng để tống khứ những gì sự xấu hổ đã kiềm chế và kìm hãm, sau đó họ bắt buộc phải rút lui vào bóng râm.

Nhưng ông ta đã không nghiên cứu kỹ lưỡng những thói hư phóng túng của họ; bởi vì Diogenes — khi làm trò thú vật với chính mình trước mặt công chúng — đã ước ao, trước sự chứng kiến của tất cả những kẻ nhìn thấy hắn, rằng hắn có thể lấp đầy cái bụng của mình bằng bài tập đó. Đối với những kẻ hỏi hắn tại sao không tìm một nơi nào tiện lợi hơn để ăn thay vì ở giữa đường phố công cộng, hắn đáp: “Bởi vì tôi đóm ở giữa đường phố công cộng.”

Những nữ triết gia hòa mình vào giáo phái của họ cũng hòa mình vào thể xác của họ, ở mọi nơi, không chút giữ gìn; và Hipparchia chỉ được nhận vào hội của Crates với điều kiện cô phải tuân theo mọi tập tục và quy tắc của giáo phái ông trong mọi việc.

Những triết gia này đặt giá trị rất cao vào đức hạnh, và từ bỏ mọi kỷ luật khác ngoài luân lý học; thế mà trong mọi hành động của họ, họ lại gán quyền uy tối cao cho sự lựa chọn của bậc hiền triết của họ, vượt lên trên cả luật pháp; và không ban cho khoái cảm bất kỳ chiếc kìm hãm nào ngoài sự điều độ và việc bảo tồn sự tự do của kẻ khác.

Heraclitus và Protagoras — vì rượu có vẻ đắng đối với kẻ ốm và ngọt đối với kẻ khỏe, mái chèo cong trong nước và thẳng khi nhấc lên, cùng những biểu hiện trái ngược tương tự được tìm thấy ở các đối tượng — đã lập luận từ đó rằng mọi đối tượng tự thân đều chứa đựng nguyên nhân của những biểu hiện này; và có một chút vị đắng trong rượu có sự đồng cảm với vị giác của người ốm, và mái chèo có một chất lượng bẻ cong đồng cảm với kẻ nhìn ngắm nó trong nước; và cứ thế với tất cả những thứ khác: nghĩa là, mọi thứ nằm trong mọi thứ, và do đó không có gì nằm trong bất kỳ thứ gì; bởi vì nơi có tất cả, ở đó chẳng có gì cả.

Quan điểm này làm tôi nhớ đến trải nghiệm chúng ta có được: không có giác quan hay khía cạnh nào của bất kỳ sự vật gì — dù đắng hay ngọt, thẳng hay cong — mà tâm trí con người không tìm thấy trong các trước tác mà nó đảm nhận việc xới tung lên. Vào bên trong những từ ngữ trong sạch nhất, tinh khôi nhất và hoàn hảo nhất có thể có, chúng ta đã gieo rắc bao nhiêu là sự dối trá và sai lầm!

Thứ dị giáo nào lại không tìm thấy ở đó nền tảng và chứng cứ đầy đủ để làm cho bản thân được dung nạp và bảo vệ? Chính vì điều này mà các tác giả của những sai lầm đó sẽ không bao giờ rời bỏ bằng chứng từ sự giải thích các từ ngữ.

Một nhân vật có uy quyền — kẻ muốn tán thành với tôi bằng uy quyền về cuộc tìm kiếm hòn đá phù thủy mà hắn đang ngập đầu ngập cổ trong đó — gần đây đã viện dẫn cho tôi ít nhất năm sáu đoạn trong Kinh Thánh mà hắn nói là cơ sở đầu tiên cho nỗ lực của mình, nhằm giải tỏa lương tâm (vì hắn là một nhà thần học); và quả thực, ý tưởng đó không chỉ thú vị mà hơn thế nữa, còn rất thích hợp để bảo vệ môn khoa học tuyệt vời này.

Bằng cách này, uy danh của các câu chuyện tiên tri được thu nhận. Chẳng có nhà bói toán nào — nếu chúng ta có uy quyền này — mà nếu người ta chịu khó xới tung, lật qua lật lại và săm soi kỹ càng mọi nếp gấp cùng cách giải thích trong các từ ngữ của ông ta, lại không thể bị làm cho thốt lên những điều hắn muốn, hệt như các nữ tiên tri Sibyls.

Có rất nhiều cách giải thích đến mức sẽ thật khó lòng nếu một trí tuệ tinh tế lại không tìm thấy — hoặc theo đường chéo hoặc theo đường thẳng — trong mọi chủ đề, một chút âm hưởng phục vụ cho mục đích của mình; do đó chúng ta thấy phong cách mơ hồ và tăm tối xuất hiện với tần suất thường xuyên và cổ xưa như vậy.

Miễn là tác giả làm cho mình làm chủ được điều đó, để bận tâm hậu thế vào các dự đoán của ông — thứ không chỉ năng lực của chính ông, mà cả sự ban ơn ngẫu hứng từ bản thân chủ đề có thể làm thay cho ông; và đối với phần còn lại, hãy diễn đạt bản thân, dù theo cách ngớ ngẩn hay tinh tế, hơi tối tăm hay mâu thuẫn đi nữa, chẳng sao cả — vô số trí tuệ khi lắc lư và sàng lọc ông ta sẽ moi ra được vô số hình thái khác nhau, hoặc theo ý nghĩa của ông ta, hoặc mang tính bổ trợ, hoặc trái ngược với ông ta, tất cả đều sẽ mang lại vinh quang cho ông; hắn sẽ thấy mình trở nên giàu có nhờ các môn đồ của mình, giống như các hiệu trưởng trường đại học nhờ những món quà hằng năm từ các học sinh của họ.

Chính điều này đã mang lại uy danh cho vô số thứ chẳng có giá trị gì; điều đó đã đưa nhiều trước tác vào trào lưu và trao cho chúng danh tiếng chứa đựng mọi loại chủ đề người ta hằng mong ước; cùng một sự vật nhận lấy hàng ngàn hàng vạn hình ảnh và các cân nhắc khác nhau; thậm chí nhiều tùy ý bao nhiêu cũng được.

Liệu có thể là Homer có ý định nói tất cả những gì chúng ta bắt ông phải nói, và ông đã thiết kế ra ngần ấy hình thái đa dạng, đến mức các nhà thần học, các nhà lập pháp, các vị tướng, các triết gia và mọi loại người bàn về khoa học — dù có đa dạng và đối lập đến đâu — đều thờ ơ trích dẫn ông và hỗ trợ cho các luận điểm của mình bằng uy quyền của ông, coi ông như chúa tể và bậc thầy tối cao của mọi chức vụ, mọi công việc và nghệ thuật, và là cố vấn chung cho mọi doanh nghiệp? Bất kỳ ai có nhu cầu về các lời sấm truyền và tiên tri đều tìm thấy ở đó những thứ đủ để phục vụ mục đích của mình.

Thật là một điều kỳ diệu khi một trí tuệ thông minh và là một người bạn đặc biệt của tôi đã tìm thấy ở đó vô số sự trùng hợp đáng kinh ngạc để ủng hộ cho tôn giáo của chúng ta; và không dễ gì lay chuyển ông khỏi niềm tin rằng đó chính là ý định của Homer; thế mà ông lại am hiểu tác giả này chẳng kém bất kỳ ai vào thời đại của mình. Và những gì ông tìm thấy ủng hộ cho tôn giáo của chúng ta ở đó, rất nhiều người thời cổ đại từng tìm thấy để ủng hộ cho tôn giáo của họ.

Hãy quan sát cách Plato bị xới tung và lật qua lật lại; ai nấy đều tôn vinh các quan điểm của riêng mình bằng cách áp dụng ông vào bản thân, và bắt ông phải đứng về phe họ muốn. Họ lôi kéo và dấn thân ông vào mọi quan điểm mới mà thế giới tiếp nhận; và bắt ông — tùy theo dòng chảy khác nhau của vạn vật — phải khác biệt với chính mình; ai nấy đều bắt ông phải chối bỏ, theo ý nghĩa của riêng mình, những tác phong và tập tục từng hợp pháp trong thời đại của ông, bởi vì chúng không hợp pháp trong thời đại của chúng ta; và tất cả những điều này diễn ra với sự sống động và sức mạnh, tùy theo lực lượng và sự lanh lẹ trong trí tuệ của kẻ phiên dịch.

Từ cùng một nền tảng mà Heraclitus cùng câu nói này sở hữu: “Rằng vạn vật đều mang bên trong chúng những hình thái mà chúng ta nhận thức được,” Democritus lại rút ra một kết luận hoàn toàn ngược lại: “Rằng các đối tượng chẳng chứa đựng bất kỳ điều gì mà chúng ta nhận thức được ở chúng”; và vì mật ong có vị ngọt với người này nhưng đắng với người khác, ông lập luận từ đó rằng nó không ngọt cũng chẳng đắng.

Phái Pyrrho sẽ nói rằng họ không biết nó ngọt hay đắng, hay là cả hai hoặc không phải cái nào; bởi vì những kẻ này luôn chiếm được điểm cao nhất của sự hoài nghi.

Phái Cyrenaica cho rằng không có gì có thể cảm nhận được từ bên ngoài, và thứ duy nhất có thể cảm nhận được là thứ chạm vào nội tâm chúng ta, như nỗi đau và khoái cảm; không thừa nhận âm thanh hay màu sắc, mà chỉ thừa nhận những xúc cảm nhất định mà chúng ta tiếp nhận từ chúng; và phán quyết của con người chẳng có chỗ ngồi nào khác.

Protagoras tin rằng: “Thứ gì có vẻ đúng với mỗi người thì đúng với người đó.” Phái Epicurus đặt mọi phán quyết vào các giác quan, vào tri thức của vạn vật và vào khoái cảm.

Plato muốn phán quyết về chân lý, và bản thân chân lý, bắt nguồn từ các quan điểm và các giác quan, thuộc về trí tuệ và sự tư duy.

Bài luận này dẫn tôi đến việc cân nhắc về các giác quan — nơi đặt nền tảng và bằng chứng lớn nhất cho sự dốt nát của chúng ta. Bất cứ điều gì được biết đến, chắc chắn đều được biết đến nhờ năng lực của kẻ nhận biết; bởi vì xét thấy phán quyết xuất phát từ hoạt động của kẻ phán xét, thật phải lẽ khi hoạt động này được thực hiện bằng phương tiện và ý chí của chính hắn, chứ không phải do sự ép buộc từ kẻ khác; hệt như điều đó sẽ xảy ra nếu chúng ta thấu hiểu vạn vật bằng quyền năng và theo luật bản chất của chúng.

Giờ thì mọi tri thức đều được truyền tải đến chúng ta thông qua các giác quan; chúng là bậc thầy của chúng ta:—

Khoa học khởi nguồn từ chúng và được giải quyết vào chúng. Rốt cuộc, chúng ta sẽ chẳng biết nhiều hơn một hòn đá nếu chúng ta không biết có âm thanh, mùi hương, ánh sáng, vị giác, kích thước, trọng lượng, độ mềm, độ cứng, độ sắc, màu sắc, độ mịn, chiều rộng và chiều sâu; đó là những nền tảng và nguyên tắc cho cấu trúc của toàn bộ tri thức chúng ta; và theo một số người, khoa học chẳng qua chỉ là giác quan.

Kẻ nào có thể làm cho tôi mâu thuẫn với các giác quan tức là đang bóp cổ tôi; hắn không thể bắt tôi đi lùi xa hơn được nữa. Các giác quan là điểm khởi đầu và điểm kết thúc của tri thức nhân loại:—

Dù chúng ta có gán cho chúng ít đến đâu đi nữa, chúng ta vẫn buộc phải thừa nhận điều này: chính nhờ phương tiện và sự trung gian của chúng mà mọi sự hướng dẫn của chúng ta được định hướng.

Cicero nói rằng Chrysippus, sau khi thử hạ thấp sức mạnh và đức hạnh của các giác quan, đã tự đưa ra trước mắt mình các luận điểm và sự chống đối vô cùng mãnh liệt đến mức ông không tài nào thỏa mãn nổi chính mình trong đó; từ đó Carneades — kẻ duy trì phía đối lập — đã cao ngạo khoe khoang rằng ông sẽ sử dụng chính những từ ngữ và luận điểm của Chrysippus để phản bác và đánh gục ông, và do đó đã lớn tiếng hô vang chống lại ông: “Hỡi kẻ khốn khổ! Sức mạnh của ngươi đã tiêu diệt chính ngươi.”

Không có gì có thể vô lý hơn ở mức độ lớn hơn việc duy trì rằng lửa không sưởi ấm, ánh sáng không chiếu sáng, và không có trọng lượng hay tính rắn chắc trong sắt — đó là những thứ được truyền tải đến chúng ta bởi các giác quan; cũng chẳng có niềm tin hay tri thức nào ở con người có thể so sánh được với điều đó về độ chắc chắn.

Cân nhắc đầu tiên của tôi về chủ đề các giác quan chính là tôi hoài nghi không biết con người có được trang bị đầy đủ tất cả các giác quan tự nhiên hay không. Tôi nhìn thấy một số loài động vật sống một cuộc đời trọn vẹn và hoàn hảo, một số con không có thị giác, số khác không có thính giác; ai mà biết được liệu đối với chúng ta, một, hai, ba hoặc vô số giác quan khác có đang bị thiếu hụt hay không? Bởi vì nếu một giác quan bị thiếu, cuộc kiểm tra của chúng ta không thể khám phá ra khiếm khuyết đó.

Đó là đặc quyền của các giác quan khi đóng vai trò là giới hạn tận cùng của sự khám phá của chúng ta; không có gì vượt ra ngoài chúng có thể hỗ trợ chúng ta trong việc thăm dò, thậm chí không một giác quan nào có thể khám phá ra giác quan khác:—

Tất cả chúng đều tạo nên giới hạn tận cùng của năng lực chúng ta:—

Thật bất khả thi khi làm cho một kẻ bị mù bẩm sinh có thể hình dung ra rằng hắn không nhìn thấy; bất khả thi khi làm cho hắn khao khát thị giác hoặc hối tiếc về khiếm khuyết của mình; vì lý do đó, chúng ta không nên rút ra bất kỳ sự đảm bảo nào từ việc tâm hồn cảm thấy bằng lòng và thỏa mãn với những gì chúng ta đang có; xét thấy nó không thể nhận thức được sự yếu hèn và bất toàn của chính mình ở đây, nếu có một khiếm khuyết như thế tồn tại.

Thật bất khả thi khi nói bất kỳ điều gì với người mù này, dù bằng lý luận, lập luận hay sự tương đồng, có thể nhồi nhét vào trí tưởng tượng của hắn bất kỳ nhận thức nào về ánh sáng, màu sắc hay thị giác; chẳng còn lại thứ gì có thể thúc đẩy các giác quan hướng tới bằng chứng. Những kẻ sinh ra đã mù mà chúng ta nghe thấy nói rằng họ ước gì mình nhìn thấy được, thực ra không phải vì họ hiểu rõ thứ họ khao khát; họ đã học được từ chúng ta rằng họ đang thiếu mất một thứ gì đó; rằng có một thứ gì đó đáng khao khát mà chúng ta có, thứ mà họ quả thực có thể gọi tên và nói về hiệu quả cùng hệ quả của nó; nhưng rốt cuộc họ vẫn chẳng biết đó là gì, cũng không hề hình dung nổi.

Tôi từng thấy một quý tộc thuộc dòng dõi tốt — sinh ra đã mù, hoặc ít nhất bị mù từ một độ tuổi mà anh ta không còn biết thị giác là gì — là kẻ ít cảm nhận về khiếm khuyết của mình đến mức anh ta sử dụng các từ ngữ thích hợp cho việc nhìn hệt như chúng ta, và áp dụng chúng theo một cách thức hoàn toàn đặc biệt và mang tính cá nhân của riêng mình.

Người ta mang đến cho anh ta một đứa trẻ mà anh ta nhận làm con đỡ đầu, khi bồng nó trên tay, anh ta thốt lên: “Lạy Chúa, thật là một đứa trẻ đẹp làm sao! Trông đáng yêu biết bao, gương mặt nó xinh xắn làm sao!” Anh ta cũng sẽ nói giống như một người trong chúng ta: “Căn phòng này có tầm nhìn rất đẹp — thời tiết hôm nay trời quang mây tạnh — mặt trời chiếu sáng rực rỡ.”

Và hơn thế nữa, vì săn bắn, quần vợt và bắn cung là những môn thể thao của chúng ta, và anh ta từng nghe nói về chúng, anh ta đâm ra thích thú, cưỡi ngựa đi săn và tin rằng mình cũng có phần tham gia vào cuộc vui ngang ngửa chúng ta; anh ta sẽ tỏ ra tức giận hay vui vẻ chẳng thua kém gì những kẻ xuất sắc nhất trong số chúng ta, thế mà anh ta chẳng biết gì về những thứ đó ngoại trừ qua đôi tai.

Có kẻ hét lên với anh ta: “Kìa con thỏ!” khi anh ta đang ở trên một cánh đồng bằng phẳng nơi anh ta có thể cưỡi ngựa an toàn; và sau đó, khi người ta bảo anh ta: “Con thỏ đã bị bắn chết,” anh ta sẽ tỏ ra vui mừng và tự hào chẳng kém gì những gì anh ta nghe người khác nói.

Anh ta sẽ cầm một quả bóng quần vợt bằng tay trái rồi đánh văng nó đi bằng chiếc vợt; anh ta sẽ bắn súng hỏa mai một cách bừa bãi, và bằng lòng với những lời người nhà bảo rằng anh ta bắn lệch hoặc trượt.

Ai mà biết được liệu toàn thể nhân loại có đang phạm phải một sự vô lý tương tự vì thiếu vắng một vài giác quan nào đó, và liệu thông qua sự thiếu sót này, phần lớn dung mạo của vạn vật có đang bị che giấu khỏi chúng ta hay không? Làm sao chúng ta biết được rằng những khó khăn mà chúng ta tìm thấy trong một vài công trình của tự nhiên bắt nguồn từ đây; và rằng một vài hiệu ứng ở các loài động vật vượt quá năng lực của chúng ta lại không phải được sản sinh bởi năng lực của một giác quan nào đó mà chúng ta đang bị thiếu hụt? Và liệu một số loài trong số chúng có nhờ thế mà sở hữu một cuộc đời trọn vẹn và toàn vẹn hơn chúng ta hay không?

Chúng ta nắm bắt một quả táo bằng tất cả các giác quan; chúng ta tìm thấy ở đó màu đỏ, độ mịn, mùi thơm và vị ngọt; nhưng nó có thể mang những phẩm chất khác ngoài những thứ này, như làm ấm hoặc làm se khít, mà không một giác quan nào của chúng ta có thể quy chiếu tới được.

Chẳng phải rất có thể trong tự nhiên có những năng lực giác quan thích hợp để đánh giá và phân biệt những thứ mà chúng ta gọi là các thuộc tính ẩn giấu trong nhiều sự vật — chẳng hạn như nam châm hút sắt; và sự thiếu hụt các năng lực đó chính là nguyên nhân khiến chúng ta dốt nát trước bản chất thực sự của những sự vật ấy hay sao?

Rất có thể đó là một giác quan đặc biệt nào đó giúp cho loài gà trống hiểu được lúc nửa đêm là mấy giờ, và khi nào trời sắp sáng, để từ đó chúng cất tiếng gáy tương ứng; giúp cho gà con — trước khi chúng có bất kỳ kinh nghiệm nào về vấn đề đó — biết sợ chim cắt thay vì ngỗng hay công, dẫu đó là những loài chim có kích thước lớn hơn nhiều; cảnh báo chúng chống lại bản chất thù địch của con mèo đối với chúng, và không làm cho chúng sợ con chó; trang bị cho chúng cách chống lại tiếng kêu meo meo — một thứ âm thanh mang tính nịnh bót của loài này, thay vì tiếng sủa — một thứ âm thanh chói tai và đe dọa của loài kia; dạy cho ong, kiến và chuột biết xông vào quả lê ngon nhất và miếng phô mai ngon nhất trước khi chúng nếm thử chúng; và truyền cảm hứng cho hươu, voi và rắn tri thức về một loại cỏ đặc biệt thích hợp cho việc chữa bệnh của chúng.

Chẳng có giác quan nào lại không sở hữu một quyền uy hùng mạnh, và không giới thiệu thông qua quyền năng của nó vô số tri thức. Nếu chúng ta bị thiếu hụt năng lực nhận thức về âm thanh, về sự hòa âm và giọng nói, nó sẽ gây ra một sự hỗn loạn không thể tưởng tượng nổi trong toàn bộ phần tri thức còn lại của chúng ta; bởi vì ngoài những gì thuộc về hiệu ứng riêng của từng giác quan, chúng ta còn rút ra biết bao nhiêu là luận điểm, hệ quả và kết luận cho những thứ khác bằng cách so sánh giác quan này với giác quan kia?

Hãy để một con người hiểu biết tưởng tượng ra bản tính con người ban đầu được tạo ra mà không có giác quan thị giác, rồi cân nhắc xem sự thiếu hụt đó sẽ mang lại sự dốt nát và rắc rối lớn đến nhường nào, một sự tăm tối và mù lòa trong tâm hồn; anh ta sẽ nhìn thấy qua điều đó rằng việc thiếu vắng một giác quan như thế, hoặc hai, ba giác quan — nếu chúng ta bị tước đoạt — có tầm quan trọng lớn lao đến nhường nào đối với tri thức về chân lý.

Chúng ta đã hình thành nên một chân lý bằng sự tham khảo và sự đồng thuận của năm giác quan; nhưng có lẽ chúng ta cần sự đồng thuận và đóng góp của tám hoặc mười giác quan để thực hiện một khám phá chắc chắn về nó trong bản chất của nó.

Các giáo phái tranh chấp về tri thức của con người chủ yếu thực hiện điều đó dựa trên sự bất định và yếu ớt của các giác quan chúng ta; bởi vì xét thấy mọi tri thức đều được truyền tải đến chúng ta thông qua phương tiện và sự trung gian của chúng, nếu chúng thất bại trong báo cáo của mình, nếu chúng làm vẩn đục hoặc thay đổi những gì chúng mang lại cho chúng ta từ bên ngoài, nếu ánh sáng leo lút vào tâm hồn qua chúng bị che khuất trong chặng đường đi qua, chúng ta chẳng còn gì khác để bám víu vào.

Từ khó khăn tột độ này mà tất cả những ý niệm sau đây nảy sinh: “Rằng mọi đối tượng tự thân đều chứa đựng tất cả những gì chúng ta tìm thấy ở đó. Rằng nó chẳng chứa đựng chút gì trong những thứ chúng ta nghĩ là mình tìm thấy ở đó”; và quan điểm của phái Epicurus: “Rằng mặt trời không lớn hơn những gì thị giác của chúng ta phán đoán nó to lớn thế:—”

rằng những biểu hiện đại diện cho một vật thể to lớn đối với kẻ đứng gần, và nhỏ hơn đối với kẻ đứng xa hơn, đều đúng cả:—

“và, một cách quả quyết, rằng không có sự lừa dối nào trong các giác quan; rằng chúng ta phải phó mặc cho lòng thương xót của chúng và tìm kiếm nơi khác những lý lẽ để biện hộ cho sự khác biệt cũng như sự mâu thuẫn mà chúng ta tìm thấy ở đó, thậm chí đi đến việc bịa đặt ra những lời dối trá và những trò lừa bịp khác nếu cần thiết, còn hơn là buộc tội các giác quan.”

Timagoras từng thề rằng bằng cách ấn hoặc đảo mắt, ông chưa từng nhận thức được ánh sáng của ngọn nến bị nhân đôi, và việc nó có vẻ như thế bắt nguồn từ thói hư của quan điểm chứ không phải từ công cụ. Sự vô lý lớn nhất trong mọi sự vô lý đối với phái Epicurus chính là phủ nhận sức mạnh và hiệu ứng của các giác quan:—

Lời khuyên quá tuyệt vọng và thiếu chất triết học này chỉ thể hiện một điều duy nhất — rằng tri thức nhân loại không thể tự đứng vững được nếu thiếu đi lý trí bất hợp lý, ngớ ngẩn và điên dại; nhưng tốt hơn là con người — để tự nâng cao giá trị bản thân — hãy sử dụng bất kỳ biện pháp khắc phục nào khác, dẫu cho nó có hoang đường đến đâu, còn hơn là thừa nhận sự dốt nát tất yếu của mình — một sự thật bất lợi cho anh ta biết bao.

Anh ta không thể tránh khỏi việc thừa nhận rằng các giác quan là những vị chúa tể tối cao chi phối tri thức của mình; nhưng chúng không chắc chắn và có thể bị làm giả trong mọi hoàn cảnh; đó là nơi anh ta phải chiến đấu đến cùng; và nếu các lực lượng chính đáng của mình thất bại — như chúng vẫn thế — thì phải bù đắp sự thiếu sót đó bằng sự ngoan cố, sự liều lĩnh và sự trơ trẽn.

Trong trường hợp những gì phái Epicurus nói là sự thật, v.v.: “Rằng chúng ta không có tri thức nếu các biểu hiện của giác quan là sai lầm”; và nếu điều đó cũng đúng như những gì phái Khắc Kỷ nói: “Rằng các biểu hiện của giác quan sai lầm đến mức chúng không thể cung cấp cho chúng ta bất kỳ hình thức tri thức nào,” chúng ta sẽ kết luận — nhằm chống lại hai giáo phái giáo điều vĩ đại này — rằng hoàn toàn chẳng có khoa học nào cả.

Đối với sai lầm và tính bất định trong hoạt động của các giác quan, bất kỳ ai cũng có thể tự cung cấp cho mình vô số ví dụ tùy thích; những lỗi lầm và trò bịp bợm mà chúng chơi khăm chúng ta vốn vô cùng thông thường.

Trong tiếng vang của một thung lũng, âm thanh của chiếc kèn có vẻ như đi đến gặp chúng ta, trong khi nó xuất phát từ một nơi ở phía sau:—

Hãy cầm một viên đạn súng hỏa mai dưới ngón trỏ, với ngón giữa vắt qua nó, nó mang lại cảm giác giống như hai viên đạn đến mức người ta sẽ phải mất rất nhiều công sức mới thuyết phục được bản thân rằng chỉ có một viên; đầu của hai ngón tay cảm nhận mỗi ngón một viên cùng một lúc; bởi vì các giác quan rất thường xuyên là chúa tể thống trị lý trí của chúng ta, và ép buộc nó tiếp nhận những ấn tượng mà lý trí phán xét và biết là sai lầm, là điều thường xuyên được nhìn thấy.

Tôi xin gạt sang một bên giác quan xúc giác — giác quan có các chức năng gần gũi hơn, sống động và thực chất hơn, thứ thường xuyên — thông qua hiệu ứng của những nỗi đau mà nó giáng lên cơ thể — lật đổ và đánh sập tất cả những nghị quyết tuyệt vời mang tính Khắc Kỷ đó, và ép buộc kẻ từng thiết lập một cách kiên định học thuyết này trong tâm hồn mình phải cất tiếng kêu la vì đau bụng, trong khi hắn từng quả quyết rằng: “Bệnh đau bụng, cùng tất cả các cơn đau và bệnh tật khác, là những thứ dửng dưng, không có khả năng làm suy giảm chút nào sự hạnh phúc tối cao nơi bậc hiền triết được đặt ngồi nhờ đức hạnh của mình.”

Chẳng có trái tim nào lại yếu đuối đến mức tiếng lách cách và âm thanh của trống kèn của chúng ta không thể thổi bùng lên lòng dũng cảm; cũng chẳng có tâm hồn nào ủ rũ đến mức giai điệu âm nhạc của chúng ta không thể đánh thức và cổ vũ; cũng chẳng có tâm hồn ngoan cố nào lại không cảm thấy bản thân bị rung động bởi một chút tôn kính khi ngắm nhìn sự mênh mông ảm đạm của các nhà thờ chúng ta, sự đa dạng của các vật phẩm trang trí và trật tự của các nghi lễ; và khi lắng nghe âm nhạc trang nghiêm của đàn ống, sự duyên dáng cùng sự hòa âm sùng đạo của giọng nói chúng ta.

Ngay cả những kẻ bước vào với sự khinh miệt cũng cảm thấy một cơn rùng mình trong lồng ngực và một nỗi sợ hãi nào đó làm cho họ bắt đầu hoài nghi về các quan điểm của mình. Về phần mình, tôi không nghĩ bản thân đủ mạnh mẽ để nghe một khúc ode của Horace hay Catullus được cất lên bởi một cái miệng trẻ trung xinh đẹp mà không bị xúc động; và Zeno hoàn toàn có lý khi nói rằng “giọng nói chính là bông hoa của vẻ đẹp.”

Có kẻ từng định làm cho tôi tin rằng một nhân vật nọ — mà tất cả chúng ta — những người Pháp đều biết — đã lừa bịp tôi khi đọc lại một số vần thơ do chính hắn sáng tác; rằng chúng không giống nhau trên giấy so với lúc cất lên trong không khí; và rằng đôi mắt của tôi sẽ đưa ra một phán quyết trái ngược với đôi tai của mình; sự phát âm có sức mạnh lớn đến nhường nào trong việc tạo ra hình thái và giá trị cho các tác phẩm vốn phó mặc cho hiệu quả và sự điều âm của giọng nói.

Và do đó Philoxenus không hề đáng trách khi nghe một kẻ phát âm sai một tác phẩm nào đó của ông, đã nổi giận đập vỡ một số bình đất của kẻ đó, đồng thời thốt lên: “Ta đập vỡ thứ thuộc về ngươi, bởi vì ngươi đang làm vẩn đục thứ thuộc về ta.”

Mục đích gì mà những kẻ từng hủy diệt bản thân với một nghị quyết kiên định lại quay mặt đi để không nhìn thấy nhát đấm do chính họ định đoạt? Và rằng những người vì sức khỏe của mình khao khát và ra lệnh thực hiện các vết rạch và đắp thuốc tiêu sưng, lại không thể chịu nổi việc nhìn thấy sự chuẩn bị, các công cụ và thao tác của y sĩ — trong khi thị giác không hề tham gia vào nỗi đau dưới bất kỳ hình thức nào?

Đó chẳng phải là những ví dụ thích hợp để xác thực uy quyền mà các giác quan nắm giữ đối với trí tưởng tượng hay sao? Chẳng ích gì khi chúng ta biết rằng những lọn tóc này được mượn từ một tiểu đồng hay một gã ở đợ; rằng lớp má hồng này xuất xứ từ Tây Ban Nha, và phấn ngọc trai này từ Đại Dương. Thị giác của chúng ta vẫn sẽ bất chấp mọi lý lẽ mà ép buộc chúng ta thừa nhận đối tượng của chúng dễ chịu hơn và đáng yêu hơn; bởi vì trong chuyện này chẳng có điều gì thuộc về lý trí cả:—

Các nhà thơ gán một sức mạnh kỳ lạ làm sao cho các giác quan, khi làm cho Narcissus tuyệt vọng chìm đắm trong tình yêu với chính chiếc bóng của mình,

và phán quyết của Pygmalion bị rối loạn bởi ấn tượng từ thị giác về bức tượng ngà voi của ông đến mức ông yêu mến và tôn thờ nó hệt như một người phụ nữ sống bằng xương bằng thịt!

Hãy đặt một triết gia vào chiếc lồng làm bằng các thanh sắt nhỏ, mỏng, treo trên đỉnh ngọn tháp cao của nhà thờ Đức Bà tại Paris; ông ta sẽ nhìn thấy bằng lý lẽ rành rành rằng mình hoàn toàn không thể rơi xuống được, thế nhưng ông ta sẽ thấy rằng (trừ khi ông ta quen với nghề thợ ống nước) bản thân không tài nào ngăn nổi — thị lực về độ cao quá mức sẽ làm ông ta hoảng sợ và bàng hoàng; bởi vì chúng ta phải tốn rất nhiều công sức mới có thể tự trấn an mình trên các hành lang của các tháp chuông, nếu chúng được làm bằng các thanh đan hở, dẫu chúng được làm bằng đá; và có những kẻ không thể chịu nổi việc nghĩ đến điều đó.

Hãy để một thanh xà được ném vắt ngang giữa hai tòa tháp ấy, có bề rộng đủ để đi qua, không có sự khôn ngoan triết học nào kiên định đến mức có thể mang lại cho chúng ta dũng khí bước qua đó hệt như cách chúng ta đi trên mặt đất. Tôi từng thử nghiệm điều này nhiều lần trên các ngọn núi của chúng ta ở vùng này; và dẫu tôi là kẻ không phải là người dễ bị sợ hãi nhất, tôi vẫn không tài nào chịu nổi việc nhìn xuống vực thẳm vô tận đó mà không cảm thấy kinh hoàng và run rẩy, dẫu tôi đứng cách mép vực hơn một thân người và hoàn toàn không thể ngã trừ khi tôi muốn.

Nơi mà tôi cũng quan sát thấy rằng, dẫu vực thẳm có cao đến đâu, miễn là có một cái cây nào đó, hoặc một mỏm đá nhô ra một chút để hỗ trợ và phân chia tầm nhìn, nó sẽ làm dịu đi nỗi sợ hãi của chúng ta một chút và mang lại sự chắc chắn lớn hơn; hệt như đó là những thứ mà khi ngã xuống chúng ta có thể bấu víu vào để được cứu rỗi; nhưng những vực thẳm thẳng đứng là thứ chúng ta không thể nhìn ngắm mà không bị chóng mặt; Ut despici viné vertigine timido oculorum animique non possit: “Đến mức người ta không thể nhìn xuống mà không bị chóng mặt”; đó là một sự lừa bịp rành rành của thị giác.

Và đó là lý do vì sao vị triết gia tuyệt vời nọ đã tự chọc mù đôi mắt mình, nhằm giải thoát tâm hồn khỏi sự bị phân tâm bởi chúng, và để ông có thể triết lý với sự tự do lớn hơn; nhưng theo logic tương tự, đáng lẽ ông ta phải bịt kín cả đôi tai — thứ mà Theophrastus nói là công cụ nguy hiểm nhất xung quanh chúng ta trong việc tiếp nhận những ấn tượng bạo liệt làm thay đổi và xáo trộn chúng ta — và cuối cùng, đáng lẽ ông ta phải tước bỏ toàn bộ các giác quan khác của mình, nghĩa là tước đi cuộc đời và bản thể của chính mình; bởi vì tất cả chúng đều nắm giữ quyền năng ra lệnh cho tâm hồn và lý trí của chúng ta: Fit etiam saepe specie quadam, saepe vocum gravitate et cantibus, ut pellantur animi vehementius; saepe etiam cura et timor,

“Bởi vì rất thường xuyên xảy ra việc tâm trí bị tấn công mãnh liệt hơn bởi một hình ảnh nào đó, bởi chất lượng và âm thanh của giọng nói, hoặc bởi tiếng hát; và thường xuyên cả bởi nỗi buồn và sự sợ hãi.” Các y sĩ cho rằng có những thể tạng bị kích động bởi chính những âm thanh và nhạc cụ đó cho đến mức cuồng loạn.

Tôi từng thấy vài kẻ không thể nghe thấy tiếng xương bị gặm dưới bàn mà không tỏ ra mất kiên nhẫn; và hầu như không có bất kỳ ai không cảm thấy bị làm phiền trước âm thanh sắc bén và chói tai của chiếc giũa mài trên sắt; cũng như việc nghe ai đó nhai chóp chép bên cạnh mình, hoặc nghe ai đó nói ngọng do vướng họng hay nghẹt mũi, có thể làm một vài người nổi giận và căm ghét.

Chiếc kèn thổi đệm của Gracchus — kẻ từng làm mềm mại, nâng cao và lay động giọng nói của chủ nhân mình trong lúc ông hùng biện tại Rome — có ích gì, nếu các chuyển động và chất lượng của âm thanh không có quyền năng lay động và làm thay đổi phán quyết của cử tọa?

Quả thực, có một lý do tuyệt vời để làm rùm beng xung quanh sự vững chắc của tác phẩm tuyệt vời này, thứ vốn tự để cho mình bị xoay vần và bện thừng bởi chuyển động và các tai nạn của một cơn gió nhẹ.

Trò lừa bịp tương tự mà các giác quan chơi khăm trí tuệ của chúng ta cũng được chơi ngược lại với chính chúng; tâm hồn đôi khi cũng có sự trả thù của riêng mình; chúng lừa dối và tranh cãi xem ai là kẻ lừa dối người kia nhiều hơn.

Những gì chúng ta nhìn thấy và nghe thấy khi bị đam mê thống trị, chúng ta không nhìn thấy cũng chẳng nghe thấy đúng như bản chất của nó:—

Đối tượng mà chúng ta yêu mến hiện lên trước mắt chúng ta đẹp đẽ hơn thực tế của nó:—

và đối tượng chúng ta căm ghét lại càng xấu xí hơn; đối với một kẻ đang bất mãn và đau khổ, ánh sáng ban ngày trông tối tăm và u ám. Các giác quan của chúng ta không chỉ bị làm vẩn đục mà rất thường xuyên bị tê liệt bởi các đam mê của tâm hồn; có biết bao nhiêu thứ chúng ta nhìn thấy mà không thèm để ý tới, nếu tâm trí bận rộn với những suy nghĩ khác:—

có vẻ như tâm hồn rút vào bên trong và làm tê liệt các năng lực của các giác quan. Và thế là cả bên trong lẫn bên ngoài con người đều ngập tràn sự yếu hèn và dối trá.

Những kẻ từng so sánh cuộc đời chúng ta với một giấc mơ có lẽ lại có lý hơn nhiều so với những gì họ nhận thức được. Khi chúng ta mơ, tâm hồn vẫn sống, làm việc và thực hiện mọi chức năng của nó, không hơn không kém so với lúc thức; nhưng ở diện rộng hơn và mờ ảo hơn, tuy không đến mức sự khác biệt lớn bằng giữa ban đêm và ánh sáng rực rỡ của buổi trưa, mà giống như giữa ban đêm và bóng râm; ở đó nó ngủ, ở đây nó thiu thiu; nhưng dù nhiều hay ít thì đó vẫn là bóng râm, và là bóng râm của xứ Cimmeria.

Chúng ta thức trong lúc ngủ, và ngủ trong lúc thức. Tôi nhìn không rõ ràng trong giấc ngủ; nhưng đối với trạng thái thức của mình, tôi chưa bao giờ thấy nó đủ rõ ràng và không bị mây mù che phủ; hơn nữa, giấc ngủ — khi nó sâu thẳm — đôi khi còn ru ngủ cả những giấc mơ; nhưng trạng thái thức của chúng ta chưa bao giờ đủ lanh lẹ để tẩy rửa và xua tan đúng đắn những ảo tưởng vốn là những giấc mơ lúc thức, thậm chí còn tồi tệ hơn cả giấc mơ.

Lý trí và tâm hồn chúng ta tiếp nhận những ý tưởng và quan điểm xuất hiện trong giấc mơ, và chuẩn thuận các hành động trong giấc mơ bằng sự đồng thuận y hệt như những gì chúng làm vào ban ngày, tại sao chúng ta lại không hoài nghi xem liệu tư tưởng hay hành động của chúng ta có phải là một dạng mơ mộng khác, và trạng thái thức có phải là một dạng ngủ nào đó hay không?

Nếu các giác quan là những vị thẩm phán đầu tiên của chúng ta, chúng ta không phải chỉ tham khảo mỗi giác quan của mình; bởi vì trong năng lực này, loài vật sở hữu các giác quan lớn hơn, hoặc ít nhất là ngang bằng chúng ta; chắc chắn rằng một số loài có thính giác sắc sảo hơn con người, loài khác có thị giác, loài khác có xúc giác, loài khác có vị giác.

Democritus nói rằng các vị thần và loài vật sở hữu các năng lực giác quan hoàn hảo hơn con người. Nhưng giữa hiệu ứng từ các giác quan của chúng và của chúng ta có sự khác biệt vô cùng lớn.

Nước bọt của chúng ta làm sạch và làm khô các vết thương của chúng ta; nó tiêu diệt loài rắn:—

chúng ta sẽ gán phẩm chất nào cho nước bọt của mình? Khi nó tác động lên chính chúng ta, hay khi nó tác động lên con loài rắn? Bằng giác quan nào trong hai giác quan đó chúng ta sẽ chứng minh bản chất thực sự mà chúng ta đang tìm kiếm?

Pliny nói rằng có một số loài thỏ biển ở Ấn Độ mang độc đối với chúng ta, và chúng ta mang độc đối với chúng; đến mức chỉ với một chạm nhẹ, chúng ta tiêu diệt chúng. Đâu mới thực sự là chất độc, con người hay con cá? Chúng ta sẽ tin ai, con cá nói về con người, hay con người nói về con cá?

Một luồng không khí lây nhiễm cho con người, nhưng không gây hại gì cho con bò; một luồng không khí khác lây nhiễm cho con bò nhưng không làm tổn thương con người. Đâu mới thực sự là phẩm chất gây dịch bệnh trong bản chất và tự nhiên?

Đối với những kẻ mắc bệnh vàng da, mọi thứ đều có vẻ vàng vò và nhợt nhạt hơn so với chúng ta:—

Những kẻ gặp rắc rối với căn bệnh mà các y sĩ gọi là hyposphagma — tức là tình trạng xuất huyết dưới da — nhìn thấy mọi thứ đều đỏ rực như máu. Làm sao chúng ta biết được rằng những dịch thể làm thay đổi các hoạt động của thị giác này đang chiếm ưu thế ở loài vật và rất phổ biến ở chúng? Bởi vì chúng ta thấy một số loài có đôi mắt màu vàng, giống như chúng ta bị bệnh vàng da; và số khác có màu đỏ như máu; rất có thể màu sắc của các đối tượng hiện lên trước mắt chúng khác với chúng ta.

Ai trong hai bên sẽ đưa ra phán quyết chính xác? Bởi vì người ta không nói rằng bản chất của vạn vật chỉ có mối liên hệ với con người; độ cứng, độ trắng, chiều sâu và độ sắc đều có mối liên hệ với công dụng và tri thức của loài vật cũng như đối với chúng ta, và tự nhiên đã thiết kế chúng một cách bình đẳng cho việc sử dụng của chúng.

Khi chúng ta ấn mí mắt xuống, vật thể chúng ta nhìn ngắm sẽ dài hơn và kéo dài hơn; rất nhiều loài vật có đôi mắt bị ấn xuống như thế; do đó, chiều dài này có lẽ chính là hình thái thực sự của vật thể đó, chứ không phải hình thái mà đôi mắt chúng ta mang lại cho nó ở trạng thái bình thường.

Nếu chúng ta khép phần dưới của đôi mắt lại, các vật thể sẽ hiện lên thành đôi đối với chúng ta:—

Nếu thính giác của chúng ta bị cản trở, hoặc lối đi bị bịt kín bởi bất kỳ thứ gì, chúng ta sẽ tiếp nhận âm thanh hoàn toàn khác so với thông thường; các loài vật cũng vậy — những kẻ có lông tai hoặc chỉ có một lỗ rất nhỏ thay vì tai — do đó không nghe giống như chúng ta, mà tiếp nhận một loại âm thanh khác.

Chúng ta nhìn thấy trong các lễ hội và nhà hát rằng, khi đặt một tấm kính màu được sơn một màu nhất định đối với ánh sáng của ngọn đuốc, mọi thứ trong không gian sẽ hiện lên trước mắt chúng ta màu xanh lá cây, vàng hoặc tím:—

rất có thể đôi mắt của các loài vật — mà chúng ta nhìn thấy có đủ mọi màu sắc — sẽ sản sinh ra các biểu hiện của vật thể giống với màu mắt của chúng.

Do đó, để đưa ra phán quyết chính xác về các sự mâu thuẫn của các giác quan, trước tiên chúng ta phải đồng thuận với loài vật, và thứ hai là đồng thuận giữa chính chúng ta; điều mà chúng ta hoàn toàn không làm được, mà thay vào đó lại vướng vào tranh chấp mỗi khi có kẻ nghe thấy, nhìn thấy hoặc nếm thấy một thứ gì đó khác với kẻ khác, và tranh cãi chẳng kém gì bất kỳ vấn đề nào khác về sự đa dạng của các hình ảnh mà các giác quan trình bày trước mắt chúng ta.

Một đứa trẻ, theo quy luật thông thường của tự nhiên, nghe, nhìn và nói khác với một người đàn ông ba mươi tuổi; và người đó lại khác với kẻ sáu mươi. Các giác quan ở một số kẻ thì mơ hồ và mờ mịt hơn, ở những kẻ khác thì cởi mở và lanh lẹ hơn.

Chúng ta tiếp nhận các sự vật một cách đa dạng, tùy theo trạng thái của chúng ta và tùy theo cách chúng xuất hiện trước mắt chúng ta. Những chiếc nhẫn được cắt theo hình chiếc lông vũ — được gọi là lông vũ vô tận — không một đôi mắt nào có thể phân biệt được kích thước của chúng, hay ngăn bản thân khỏi sự đánh lừa rằng ở một bên chúng phình to ra, và ở bên kia thu hẹp lại, vươn đến một điểm ngay cả khi chiếc nhẫn đang được xoay quanh ngón tay; thế mà, khi bạn sờ vào chúng, tất cả đều có vẻ có kích thước bằng nhau.

Giờ thì, nhận thức của chúng ta quá đỗi bất định và bị tranh chấp như thế, sẽ chẳng còn gì đáng ngạc nhiên nữa nếu người ta bảo chúng ta rằng chúng ta có thể tuyên bố tuyết hiện lên có màu trắng đối với chúng ta; nhưng việc khẳng định rằng trong bản chất thực sự của nó, nó thực sự trắng hay không lại là điều vượt quá năng lực chứng minh của chúng ta; và một khi nền tảng này bị lung lay, toàn bộ tri thức trên thế giới này buộc phải sụp đổ.

Sao cơ! Chính các giác quan lại tự cản trở lẫn nhau sao? Một bức tranh trông có vẻ nổi và có hoa văn đối với thị giác; khi sờ vào thì nó phẳng lì đối với xúc giác. Chúng ta sẽ nói rằng xạ hương — thứ làm say đắm khứu giác nhưng lại gây khó chịu cho vị giác — là dễ chịu hay không?

Có những loại thảo mộc và thuốc xức thích hợp cho bộ phận này của cơ thể nhưng lại có hại cho bộ phận khác; mật ong dễ chịu đối với vị giác nhưng lại gây khó chịu cho thị giác.

Những kẻ — để phục vụ cho dục vọng của họ — từng sử dụng kính phóng đại trong thời đại cổ đại để làm cho các bộ phận cơ thể họ muốn sử dụng trông to lớn hơn, nhằm thỏa mãn bản thân nhiều hơn qua sự phình to thị giác đó; họ đã trao giải thưởng cho giác quan nào — thị giác — thứ đại diện cho các bộ phận lớn và to lớn như họ mong muốn, hay xúc giác — thứ đại diện cho chúng nhỏ bé và đáng khinh bỉ?

Phải chăng các giác quan của chúng ta cung cấp cho đối tượng những điều kiện khác nhau này, trong khi bản thân các đối tượng chỉ có một? Hệt như chúng ta nhìn thấy ở bánh mì chúng ta ăn, nó chẳng là gì ngoài bánh mì, nhưng khi được ăn vào, nó biến thành xương, máu, thịt, tóc và móng tay:—

độ ẩm được hút bởi rễ cây biến thành thân, lá và quả; và không khí, dù chỉ là một, nhưng khi được thổi qua một chiếc kèn lại được điều âm thành muôn vàn loại âm thanh; phải chăng chính các giác quan của chúng ta — tôi rất muốn biết — cũng tạo hình các đối tượng này thành vô số phẩm chất đa dạng như thế, hay bản thân chúng thực sự sở hữu những điều đó? Và trước sự hoài nghi này, chúng ta có thể định đoạt điều gì về bản chất thực sự của chúng?

Hơn nữa, vì các tai nạn của bệnh tật, sự cuồng loạn hoặc giấc ngủ làm cho các sự vật hiện lên trước mắt chúng ta khác với những kẻ khỏe mạnh, khôn ngoan và tỉnh táo, chẳng lẽ không hợp lý sao khi cho rằng tư thế khỏe mạnh và hiểu biết đúng đắn của chúng ta, cùng các dịch thể tự nhiên của chúng ta, cũng có khả năng mang lại một bản thể cho các sự vật liên quan đến trạng thái của chính chúng, và thích nghi chúng với bản thân mình, hệt như lúc chúng bị rối loạn; — rằng sức khỏe cũng có khả năng mang lại cho chúng một diện mạo hệt như bệnh tật?

Tại sao kẻ ôn hòa lại không có một hình thái đối tượng nhất định liên quan đến ông ta, cũng như kẻ bất kham? Và tại sao ông ta lại không thể đóng ấn ký tự riêng của mình lên nó giống như kẻ kia? Kẻ có vị giác không bình thường sẽ nói rượu nhạt nhẽo; kẻ khỏe mạnh ca ngợi hương vị của nó, và kẻ khát nước ca ngợi sự sảng khoái của nó.

Giờ thì, vì điều kiện của chúng ta luôn thích nghi mọi thứ với chính nó và biến đổi chúng theo tư thế của chính mình, chúng ta không thể biết các sự vật thực sự là gì trong bản chất của chúng, khi mà chẳng có gì đến với chúng ta ngoài những thứ đã bị làm giả và thay đổi bởi các giác quan.

Nơi nào mà chiếc la bàn, chiếc thước vuông và cây thước kẻ bị cong vênh, thì mọi mệnh đề được rút ra từ đó, và mọi công trình được dựng lên bởi những hướng dẫn đó, buộc cũng phải khiếm khuyết; tính bất định của các giác quan làm cho mọi thứ do chúng sản sinh ra trở nên bất định:—

Đối với phần còn lại, ai có thể đủ tư cách để phán xét và định đoạt những sự khác biệt đó? Hệt như chúng ta nói trong các tranh chấp về tôn giáo rằng chúng ta phải có một vị thẩm phán không thiên về bên này hay bên khác, hoàn toàn tự do khỏi mọi sự lựa chọn và tình cảm — điều không thể xảy ra giữa những người theo đạo Thiên Chúa — thì điều tương tự cũng xảy ra trong vấn đề này; bởi vì nếu ông ta già, ông ta không thể phán xét về cảm giác của tuổi già, khi chính bản thân ông là một bên trong vụ án; nếu ông ta trẻ, ngoại lệ cũng y như vậy; nếu ông ta khỏe mạnh, ốm đau, ngủ hay thức, ông ta vẫn là vị thẩm phán bất tài y như thế.

Chúng ta phải có một ai đó miễn nhiễm khỏi tất cả các phán quyết này, giống như những thứ dửng dưng đối với ông ta; và theo quy tắc này, chúng ta phải có một vị thẩm phán chưa từng tồn tại.

Để phán xét các biểu hiện mà chúng ta tiếp nhận từ các đối tượng, chúng ta phải có một công cụ quyết định; để xác minh công cụ này, chúng ta phải có chứng minh; để xác minh chứng minh này, lại cần một công cụ khác; và thế là chúng ta lại quay vòng trở lại trên chiếc bánh xe đó mà chẳng tiến thêm được bước nào.

Xét thấy các giác quan không thể định đoạt cuộc tranh chấp của chúng ta, vì bản thân chúng ngập tràn sự bất định, thì lý trí phải là kẻ làm điều đó; nhưng không một lý trí nào có thể được dựng lên trên bất kỳ nền tảng nào khác ngoài nền tảng của một lý trí khác; và thế là chúng ta quay ngược lại đến sự vô tận.

Trí tưởng tượng của chúng ta không áp dụng vào những thứ xa lạ, mà được thụ thai qua sự trung gian của các giác quan; và các giác quan không lĩnh hội một đối tượng ngoại lai, mà chỉ lĩnh hội các đam mê của chính chúng; nhờ đó trí tưởng tượng và biểu hiện bề ngoài không phải là một phần của đối tượng, mà chỉ là của đam mê và sự chịu đựng của giác quan; mà đam mê và đối tượng là hai thứ khác nhau; do đó bất kỳ ai phán xét bằng biểu hiện bề ngoài đều đang phán xét bằng một thứ khác chứ không phải đối tượng.

Và việc nói rằng các đam mê của giác quan truyền tải phẩm chất của các đối tượng ngoại lai tới tâm hồn thông qua sự tương đồng — làm sao tâm hồn và trí tuệ có thể chắc chắn về sự tương đồng này, khi tự thân nó không có sự giao thương nào với các đối tượng ngoại lai? Hệt như những kẻ chưa từng biết Socrates thì không thể, khi nhìn thấy bức chân dung của ông, nói rằng nó giống ông được.

Giờ thì, bất kỳ ai muốn phán xét dựa trên các biểu hiện bề ngoài đi nữa, nếu là dựa trên tất cả, đó là điều bất khả thi, bởi vì chúng cản trở lẫn nhau nhờ sự mâu thuẫn và bất nhất của chúng, như chúng ta thấy qua thực nghiệm: liệu một số biểu hiện được tuyển chọn có nên chi phối những biểu hiện còn lại hay không? Bạn phải xác minh biểu hiện được tuyển chọn này bằng một biểu hiện được tuyển chọn khác, cái thứ hai bằng cái thứ ba, và cứ thế sẽ chẳng bao giờ có điểm dừng cho nó.

Cuối cùng, không có sự tồn tại hằng định nào cả, không có sự tồn tại của bản thể đối tượng lẫn của chính chúng ta; cả chúng ta, phán quyết của chúng ta và mọi thứ phàm trần đều đang liên tục trôi chảy và xoay vần; và do đó không thể thiết lập bất kỳ điều gì chắc chắn từ cái này sang cái kia, khi cả kẻ phán xét lẫn kẻ bị phán xét đều đang ở trong một chuyển động và sự biến đổi liên tục.

Chúng ta không có sự giao tiếp nào với bản thể, bởi vì toàn bộ bản tính con người luôn ở vị trí trung gian giữa sự sinh ra và cái chết, chỉ mang lại một biểu hiện mờ ảo và chiếc bóng, một quan điểm yếu ớt và bất định về chính mình; và nếu, có lẽ, bạn cố định tư tưởng của mình để thấu hiểu bản thể của mình, nó cũng sẽ giống như việc nắm bắt nước; bởi vì bạn càng siết chặt bàn tay để bóp và giữ lại thứ vốn có bản chất trôi chảy, bạn lại càng đánh mất nhiều hơn những gì mình muốn nắm bắt và giữ lại.

Thế nên, xét thấy mọi sự vật đều phải chịu sự chuyển dịch từ sự thay đổi này sang sự thay đổi khác, lý trí — thứ tìm kiếm một thực thể thực sự ở đó — lại thấy mình bị lừa dối, không thể lĩnh hội bất kỳ thứ gì có tính chất hiện hữu và vĩnh cửu, bởi vì mọi thứ hoặc đang bước vào sự hiện hữu và chưa đạt được nó, hoặc bắt đầu chết đi trước khi nó được sinh ra.

Plato nói rằng các thể xác chưa từng có sự tồn tại nào, mà chỉ có sự sinh ra; khi cho rằng Homer đã biến đại dương và Thetis thành cha và mẹ của các vị thần, để cho chúng ta thấy rằng vạn vật đều nằm trong một trạng thái dao động, chuyển động và biến đổi vĩnh viễn; đó là quan điểm của tất cả các triết gia, như ông nói, trước thời đại của ông, ngoại trừ Parmenides — người không cho phép các sự vật có chuyển động, và đặt trọng lượng vô cùng lớn vào sức mạnh của nó.

Pythagoras có quan điểm rằng toàn bộ vật chất đều trôi chảy và bất ổn; phái Khắc Kỷ cho rằng không có thời gian hiện tại, và thứ mà chúng ta gọi là hiện tại chẳng qua chỉ là điểm giáp ranh và hội ngộ của tương lai với quá khứ; Heraclitus cho rằng chưa từng có ai bước chân hai lần vào cùng một con sông; Epicharmus cho rằng kẻ vay tiền cách đây mới một giờ bây giờ không còn nợ nữa; và kẻ được mời đến ăn tối vào ngày hôm sau vẫn đến mà không được mời, xét thấy họ không còn là cùng một con người nữa, mà đã trở thành những kẻ khác; và rằng không thể tìm thấy một thể xác phàm trần nào hai lần ở cùng một trạng thái; bởi vì do sự đột ngột và nhanh chóng của sự thay đổi, nó lúc thì phân tán, lúc lại đoàn tụ; nó đến và đi theo một cách thức đến mức thứ bắt đầu được sinh ra chưa bao giờ vươn tới sự hoàn hảo của sự hiện hữu, bởi vì sự sinh ra đó chưa bao giờ kết thúc và chưa bao giờ dừng lại, như thể đang ở điểm kết, mà từ hạt giống luôn luôn thay đổi và dịch chuyển từ cái này sang cái khác; hệt như hạt giống con người ban đầu trong tử cung của người mẹ trở thành một phôi thai không hình thù, sau khi được sinh ra thành một đứa trẻ bú sữa, sau đó trở thành một cậu bé, rồi một thiếu niên, rồi một người đàn ông, và cuối cùng là một ông già lẩm cẩm; thế nên tuổi tác và sự sinh sản tiếp theo luôn tiêu diệt và phá hủy những gì đi trước nó:—

“Và thế là chúng ta một cách ngu ngốc lại sợ hãi một loại cái chết, trong khi chúng ta đã trải qua, và vẫn đang hằng ngày trải qua, rất nhiều cái chết khác; bởi vì không chỉ, như Heraclitus đã nói, cái chết của lửa là sự sinh ra của không khí, và cái chết của không khí là sự sinh ra của nước; mà hơn thế nữa, chúng ta có thể nhận thức điều đó một cách rõ ràng hơn ở chính mình; tuổi trưởng thành chết đi và trôi qua khi tuổi già ập đến; và tuổi trẻ chấm dứt trong thời kỳ nở rộ của một người đàn ông trưởng thành, tuổi thơ ấu chấm dứt ở tuổi trẻ, và tuổi thơ đầu tiên chết đi trong tuổi thơ ấu; ngày hôm qua chết đi trong ngày hôm nay, và ngày hôm nay sẽ chết đi trong ngày mai; và chẳng có gì giữ nguyên ở cùng một trạng thái, hay luôn luôn là cùng một thứ. Và để chứng minh điều đó là sự thật, nếu chúng ta luôn là một và giống nhau, làm sao có chuyện bây giờ chúng ta thích thứ này, và chốc nữa lại thích thứ khác? Làm sao có chuyện chúng ta yêu mến hoặc căm ghét những thứ trái ngược nhau, chúng ta ca ngợi hay lên án chúng? Làm sao có chuyện chúng ta có những cảm xúc khác nhau, và không còn giữ lại cùng một tâm tình trong cùng một tư tưởng? Bởi vì không có lý do gì để tin rằng nếu thiếu đi sự biến đổi mà chúng ta lại có thể mang những đam mê khác; và thứ chịu sự biến đổi thì không giữ nguyên là một, và nếu nó không giữ nguyên là một thì nó hoàn toàn không tồn tại; nhưng bản thể cũng giống như vậy, nó âm thầm thay đổi và biến đổi; trở nên hết lần này đến lần khác từ một thứ khác; và do đó các giác quan tự nhiên lừa dối và lừa gạt chính mình, khi lấy cái có vẻ là để thay thế cho cái thực sự là, vì thiếu sự thấu hiểu rõ ràng về cái thực sự là. Nhưng rốt cuộc cái thực sự là gì? Đó là thứ vĩnh hằng; nghĩa là thứ chưa từng có khởi đầu, cũng chưa bao giờ có kết thúc, và không một khoảng thời gian nào có thể mang lại bất kỳ sự biến đổi nào. Bởi vì thời gian là một thứ di động, và hiện lên hệt như trong một chiếc bóng, với một vật chất luôn luôn trôi chảy và chuyển động, không bao giờ ở trạng thái ổn định và vĩnh cửu; và thuộc về nó là những từ ngữ: trước và sau, đã từng, hoặc sẽ là; những từ ngữ mà thoạt nhìn đã cho thấy rõ ràng nó không phải là một thứ thực sự hiện hữu; bởi vì thật là một sự ngu ngốc lớn lao và một sự dối trá rành rành khi nói rằng thứ không hiện hữu lại đang hiện hữu, hoặc đã ngừng hiện hữu. Và đối với những từ ngữ này: hiện tại, khoảnh khắc, và bây giờ — thứ mà dường như chúng ta chủ yếu dựa vào và xây dựng nên sự hiểu biết về thời gian — lý trí, khi khám phá ra, đã ngay lập tức phá hủy nó; bởi vì nó lập tức chia cắt và tách đôi nó thành tương lai và quá khứ, vì bắt buộc phải xem xét nó ở trạng thái bị chia cắt làm đôi. Điều tương tự cũng xảy ra với tự nhiên — thứ được đo lường, giống như thời gian đo lường nó; bởi vì nó chẳng có gì thực sự hiện hữu và vĩnh cửu hơn người bạn đồng hành của nó, mà mọi thứ hoặc được sinh ra, đang mang thai, hoặc đang chết đi. Thế nên thật là tội lỗi khi nói về Thiên Chúa — Đấng duy nhất thực sự hiện hữu — rằng ngài đã từng là, hay ngài sẽ là; bởi vì đó là những thuật ngữ của sự suy tàn, sự biến đổi và sự thối rữa, dành cho những thứ không thể tiếp tục hay duy trì sự hiện hữu; do đó chúng ta phải kết luận rằng chỉ có Thiên Chúa mới hiện hữu — không phải theo bất kỳ thước đo thời gian nào, mà theo một sự vĩnh cửu bất biến và bất động, không bị đo lường bởi thời gian, cũng không chịu bất kỳ sự suy tàn nào; trước ngài không có gì tồn tại, và sau ngài không có gì sẽ đến, không có gì mới mẻ hơn hay gần đây hơn, mà là một thực thể thực sự hiện hữu, lấp đầy sự vĩnh cửu bằng một khoảnh khắc duy nhất, và chẳng có gì thực sự hiện hữu ngoài một mình ngài; mà chúng ta không tài nào thốt lên được: ngài đã từng là, hay sẽ là; không có khởi đầu, và không có kết thúc.” Đối với kết luận sùng đạo này của một kẻ ngoại đạo, tôi chỉ xin bổ sung thêm lời chứng từ một kẻ có cùng điều kiện, để khép lại bài luận dài dòng và tẻ nhạt này — thứ vốn có thể cung cấp cho tôi chất liệu vô tận: “Con người thật là một thứ hèn mọn và đê tiện làm sao, nếu hắn không tự nâng mình lên trên tầm vóc nhân loại!” Đó là một lời nói hay và một khao khát có lợi, nhưng đồng thời cũng rất hoang đường; bởi vì việc làm cho cái cán lớn hơn bàn tay, khối lập phương dài hơn cánh tay, và hy vọng bước đi xa hơn sải chân của chúng ta có thể với tới, là điều vừa bất khả thi vừa quái dị; hoặc việc con người nâng mình lên trên chính mình và nhân loại; bởi vì anh ta không thể nhìn ngắm ngoại trừ bằng đôi mắt của mình, cũng không thể nắm bắt ngoại trừ bằng đôi bàn tay của mình. Anh ta sẽ được tôn lên, nếu Thiên Chúa ban cho anh ta một bàn tay phi thường; anh ta sẽ tự nâng mình lên bằng cách từ bỏ và khước từ các phương tiện của chính mình, và bằng cách phó mặc cho bản thân được nâng lên và vươn cao thông qua các phương tiện hoàn toàn thuần khiết từ thiên đàng. Đó là điều thuộc về đức tin Thiên Chúa của chúng ta, chứ không phải đức hạnh phái Khắc Kỷ, khi dám mưu cầu cuộc biến hóa thần thánh và kỳ diệu đó.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.