Thế giới này chẳng có gì ngoài sự muôn hình vạn trạng và khác biệt. Các thói hư tật xấu đều giống nhau ở chỗ chúng là tội lỗi, và có lẽ phái khắc kỷ cũng hiểu như vậy; song dẫu chúng đều là tội lỗi ngang nhau, chúng lại không tệ hại như nhau. Rằng kẻ vượt quá giới hạn thông thường tới một trăm bước:
lại chẳng ở tình trạng tồi tệ hơn kẻ mới chỉ tiến bước thứ mười, là điều không thể tin nổi; hay tội bất kính thánh thần cũng chẳng tệ hơn việc đi ăn cắp một bắp cải:
Trong chuyện này có sự khác biệt lớn lao chẳng kém bất cứ điều gì khác. Việc đánh đồng trật tự và mức độ của các tội lỗi là điều nguy hiểm: những kẻ sát nhân, phản trúa và bạo chúa được lợi quá nhiều từ điều đó, và thật phi lý khi chúng tự thỏa mãn lương tâm chỉ vì một kẻ khác thì lười biếng, hoang dâm, hoặc không sốt sắng hành lễ tín ngưỡng. Ai nấy đều phóng đại lỗi lầm của kẻ đồng loại nhưng lại giảm nhẹ tội lỗi của chính mình. Theo quan điểm của tôi, ngay cả những bậc thầy dạy dỗ chúng ta đôi khi cũng xếp hạng chúng một cách rất tồi tệ. Như Socrates đã nói chức năng chính của sự khôn ngoan là phân biệt điều thiện với điều điều ác, thì chúng ta — mà phần lớn đều là kẻ xấu — cũng nên nói điều tương tự về khoa học phân biệt giữa thói xấu với thói xấu; nếu không có điều đó, và nếu không được thực hiện một cách hết sức chính xác, thì người đức hạnh và kẻ gian ác sẽ mãi lẫn lộn và chẳng thể nhận ra.
Giờ đây, trong số muôn vàn thói hư tật xấu, say sưa xem ra là một thói thô bỉ và đần độn. Tâm hồn chiếm phần lớn hơn ở những thói xấu khác, và có những thói mang trong mình chút ít tính cao thượng, nếu có thể nói như vậy; có những thói phảng phất sự hiểu biết, sự siêng năng, lòng dũng cảm, sự thận trọng, sự khéo léo và tháo vát; nhưng thói này hoàn toàn thuộc về thể xác và trần tục. Và quốc gia thô lỗ nhất châu Âu ngày nay lại chính là nơi duy nhất thói này trở thành mốt thịnh hành. Những thói khác làm xáo trộn trí hiểu: thói này hoàn toàn đánh gục nó và biến thân thể thành đần độn:
Trạng thái tồi tệ nhất của con người là khi hắn đánh mất nhận thức và quyền làm chủ chính mình. Người ta thường bàn luận về đề tài này rằng, cũng giống như men rượu trong vò sủi bọt dâng lên tận miệng cuốn theo mọi cặn bã dưới đáy, rượu vang nơi những kẻ uống quá độ cũng tuôn trào những bí mật thầm kín nhất:
Josephus kể lại rằng bằng cách chuốc cho vị đại sứ do kẻ địch phái đến say mèm, ông đã khai thác được hết bí mật của gã. Thế nhưng, Augustus, khi giao phó những bí mật thầm kín nhất trong công việc của mình cho Lucius Piso — kẻ từng chinh phục xứ Thrace — chưa bao giờ thấy ông sơ suất dù chỉ một chút, cũng chẳng khác nào Tiberias đối với Cossus, người được nhà vua tin tưởng giao phó mọi mưu lược, dẫu chúng ta đều biết cả hai vị ấy vốn nghiện rượu đến mức thường xuyên phải khiêng ra khỏi Viện Nguyên lão trong trạng thái say khướt:
Và âm mưu ám sát Caesar đã được truyền đạt cho Cimber — dù hắn hay say rượu — một cách an toàn chẳng khác gì Cassius, kẻ chỉ uống nước lã.
Chúng ta thấy những người Đức của chúng ta, dẫu say quắc cần câu, vẫn biết rõ vị trí của mình, nhớ khẩu hiệu và giữ vững hàng ngũ:
Tôi đã chẳng thể tin nổi lại có một mức độ say sưa trầm trọng, vô tri và chết lặng đến thế, nếu tôi không đọc được trong sử sách rằng Attalus — nhằm sỉ nhục một cách cay đắng — từng mời đến dự tiệc chính vị Pausanias nọ, kẻ vì chính sự việc đó về sau đã sát hại Philip xứ Macedonia (một vị vua qua những phẩm chất xuất chúng đã minh chứng đầy đủ cho nền giáo dục nhận được từ gia đình và những người bạn của Epaminondas) — đã ép gã uống đến mức sau đó gã có thể vứt bỏ phẩm giá nhan sắc của mình, chẳng khác nào một ả đĩ đầu đường xó chợ, cho bọn nài la và đám tôi tớ thấp hèn nhất trong nhà. Và một phu nhân mà tôi vô cùng kính trọng, yêu mến cũng từng kể cho tôi nghe rằng, gần Bordeaux và quanh vùng Castres nơi bà sinh sống, có một phụ nữ nhà quê, là một góa phụ nổi tiếng nết na, nhận thấy những dấu hiệu mang thai đầu tiên ở bản thân, đã ngây thơ kể với những người hàng xóm rằng nếu có chồng thì bà chắc mình đã cấy mầm sinh linh; thế nhưng những mối nghi ngờ ngày một lớn dần lên và cuối cùng trở thành bằng chứng rành rành, khiến người phụ nữ tội nghiệp rơi vào cảnh ngộ buộc phải loan báo tại nhà thờ giáo xứ rằng bất kỳ ai đã làm chuyện đó và dám thành thật nhận tội, bà không những hứa tha thứ mà còn sẵn lòng kết hôn với người đó nếu hắn đồng ý; nhân cơ hội ấy, một chàng trai trẻ làm thuê cho bà, được khích lệ bởi lời loan báo này, đã tuyên bố rằng vào một ngày lễ nọ, bắt gặp bà ngủ say mèm bên lò sưởi do uống quá nhiều rượu và ở một tư thế vô cùng kém kín đáo, hắn đã thuận tiện làm xong chuyện ấy mà không làm bà thức giấc; và nay họ vẫn sống chung với nhau như vợ chồng.
Sự thật là thời cổ đại không đả kích thói này cho lắm; ngay cả bài viết của một số triết gia cũng đề cập đến nó với thái độ rất khoan dung, và thậm chí trong phái Khắc kỷ cũng có những người khuyên con người ta thỉnh thoảng hãy cho phép mình được uống, thậm chí uống say để làm sảng khoái tâm hồn:
Cato, vị quan sát và khiển trách kẻ khác ấy, từng bị quở trách vì là một kẻ nát rượu:
Cyrus, vị vua lừng danh nọ, giữa những phẩm chất giúp ông tự hào đứng trên người anh trai Artaxerxes, đã viện dẫn ưu điểm này: ông có thể uống nhiều hơn hắn rất nhiều. Và tại các quốc gia được cai trị tốt nhất, trò thử tài uống rượu này rất được ưa chuộng. Tôi từng nghe Silvius, một y sĩ xuất chúng ở Paris, nói rằng để các cơ quan tiêu hóa trong dạ dày không trở nên lười biếng, thỉnh thoảng mỗi tháng một lần ta nên kích thích chúng bằng sự chè chén quá độ này, đánh thức chúng để tránh việc chúng trở nên trì trệ và gỉ sét; và một tác giả kể lại rằng người Ba Tư thường bàn bạc về những công việc hệ trọng nhất sau khi đã được sưởi ấm bằng rượu.
Khẩu vị và thể chất của tôi là những kẻ thù lớn của thói hư này hơn là những lời biện luận của lý trí; bởi ngoài việc tôi dễ dàng thuận theo uy quyền của các quan niệm cổ xưa, bản thân tôi thực sự coi đó là một thói xấu hèn hạ và đần độn, nhưng ít ác độc và tai hại hơn những thói khác — hầu hết những thói kia đều trực tiếp làm tổn hại đến trật tự xã hội công cộng hơn. Và nếu chúng ta không thể tự mua vui cho mình mà không phải trả giá bằng điều gì đó, theo như họ quan niệm, tôi thấy thói này làm tổn hại ít hơn đến lương tâm con người so với những thói khác, chưa kể nó chẳng đòi hỏi sự chuẩn bị phức tạp hay khó tìm kiếm — một cân nhắc hoàn toàn không thể xem nhẹ. Một người đã có tuổi và có địa vị cao, khi kể cho tôi nghe về ba tiện ích chính còn lại trong cuộc đời mà ông trân trọng, đã liệt kê điều này vào một trong số đó; và còn nơi nào tìm thấy nó một cách chính đáng hơn ngoài những chốn tiện nghi tự nhiên? Nhưng ông đã hiểu lầm, bởi sự tinh tế và việc kén chọn rượu ngon là những điều cần tránh trong chuyện này. Nếu bạn đặt niềm vui của mình vào việc thưởng thức những loại rượu ngon nhất, bạn đang tự kết án mình phải chịu hình phạt uống những loại tồi tệ nhất. Vòm miệng của bạn phải thờ ơ và phóng khoáng hơn; đâu cần đến một khẩu vị quá tinh tế để trở thành một bợm nhậu cừ khôi. Người Đức uống gần như không phân biệt mọi loại rượu với niềm hân hoan; việc của họ là nốc cạn chứ không phải thưởng thức, và điều đó càng tốt cho họ biết bao: niềm vui của họ nhờ thế mà dồi dào hơn và dễ bề chạm tới hơn.
Thứ hai, việc uống rượu theo kiểu Pháp, chỉ trong hai bữa ăn và với mức độ rất điều độ, là quá đỗi hà tiện với ơn huệ của vị thần. Chuyện đó đòi hỏi nhiều thời gian và sự kiên định hơn thế. Người xưa thường dành trọn cả đêm cho bài tập này, và thường cộng thêm cả ngày hôm sau để kéo dài cuộc vui, và vì thế chúng ta phải phóng khoáng hơn và gắn bó chặt chẽ hơn với công việc của mình. Tôi từng chứng kiến một vị đại công tước thời tôi, một người có chí lớn và gặt hận những thành công vang dội, dù không cố chấp buông thả nhưng với lượng rượu uống đều đặn trong các bữa ăn, ông nốc không dưới năm bình lớn rượu vang, thế mà khi đứng lên vẫn tỏ ra vô cùng khôn ngoan và kín đáo, đến mức gây bất lợi cho công việc chung của chúng ta. Niềm vui mà chúng ta trân trọng suốt dọc đường đời đáng lẽ phải được dành một phần thời gian lớn hơn nữa; chúng ta nên, giống như những tiểu thương và phu phen lao động, không từ chối cơ hội nào, không bỏ lỡ dịp may nào để uống, và lúc nào cũng phải ghi khắc điều đó trong tâm trí. Tôi ngỡ như mỗi ngày chúng ta đều đang thu hẹp và cắt xén đi thói quen uống rượu, và những bữa lót dạ, những chén rượu nhấm nháp giữa giờ ăn trưa cùng các buổi tiệc tùng trà bánh mà tôi từng thấy trong nhà cha mình thời niên thiếu, khi ấy lại phổ biến và thường xuyên hơn bây giờ.
Phải chăng chúng ta đang giả vờ hướng tới sự cải cách? Quả thực là không; nhưng có lẽ chúng ta đắm chìm vào nữ sắc nhiều hơn cha ông chúng ta. Đó là hai hoạt động cản trở và kìm hãm sức mạnh lẫn nhau. Dâm ô làm suy yếu dạ dày của chúng ta một mặt; và mặt khác, sự tiết độ khiến chúng ta phong độ và tràn ngập tình tứ hơn cho các cuộc hoan ca.
Thật kỳ diệu biết bao những câu chuyện kỳ lạ mà tôi từng nghe cha mình kể về sự trinh bạch của thời đại mà ông đã sống. Ông quả là người sinh ra dành cho điều đó, được gọt giũa cả về nghệ thuật lẫn bản năng để phục vụ các quý bà. Ông nói hay và nói ít; luôn đan xen vào ngôn từ của mình những hình ảnh minh họa trích từ các tác giả được đọc nhiều nhất, đặc biệt là tiếng Tây Ban Nha, và trong số các tác giả Tây Ban Nha, người mà họ gọi là Marcus Aurelius — [Sách vàng về Marcus Aurelius Antoninus của Guevara.] — thường trực trên môi ông. Cư xử của ông lịch thiệp, trang nghiêm, khiêm nhường và rất mực kín đáo; ông rất quan tâm đến sự gọn gàng, ngăn nắp cả trong tác phong lẫn y phục, dù cưỡi ngựa hay đi bộ, ông cực kỳ đúng giờ và giữ chữ tín; cùng một lương tâm và lòng tôn giáo thường có xu hướng thiên về sự mê tín hơn là không. Đối với một người có vóc dáng nhỏ bé, rất cường tráng, cân đối và săn chắc; với khuôn mặt khả ái có phần ngăm đen, và cực kỳ tháo vát trong mọi môn thể thao quý tộc. Nhà tôi hiện vẫn còn lưu giữ những cây gậy đổ đầy chì, mà người ta bảo ông từng dùng để tập cơ tay nhằm phóng lao, ném đá, hay đấu kiếm; cùng những đôi giày đế chì để giúp bản thân nhẹ nhàng hơn khi chạy hoặc nhảy. Về môn nhào lộn, ông đã để lại những kỳ tích nhỏ phía sau: tôi từng thấy khi đã qua tuổi sáu mươi, ông vẫn cười trước các bài tập của chúng tôi, rồi mặc nguyên áo choàng lông nhảy vọt lên yên ngựa, dùng hai ngón tay cái chống để quay một vòng quanh bàn và hầu như chẳng bao giờ bước lên phòng mà không rướn ba bốn bậc thang một lúc. Nhưng trở lại với điều tôi vừa nói lúc nãy; ông bảo rằng toàn bộ tỉnh lỵ hầu như không tìm nổi một người phụ nữ quyền quý nào mang tai tiếng lỏng lẻo; ông thường kể về những mối thâm tình kỳ lạ, và một số là của chính ông, với những người phụ nữ đức hạnh, hoàn toàn không vướng chút nghi ngờ bất chính nào, và về phần mình, ông đã long trọng thề rằng mình vẫn còn trong trắng khi kết hôn; thế mà đó lại là khoảng thời gian sau một chặng đường dài chinh chiến bên kia ngọn núi, những cuộc chiến mà ông đã để lại cho chúng ta một cuốn nhật ký do chính tay ông viết, trong đó ông tường thuật lại một cách chính xác từng chi tiết từ đầu đến cuối mọi biến cố, liên quan cả đến công việc công lẫn bản thân ông. Hơn thế nữa, ông kết hôn ở độ tuổi khá muộn màng, vào năm 1528, khi đã bước sang tuổi ba mươi mươi mốt, trên đường từ Ý trở về nhà. Nhưng hãy quay lại với những vò rượu của chúng ta.
Những nỗi bất tiện của tuổi già, vốn cần đến sự tươi mát và nâng đỡ, có thể khơi gợi một cách chính đáng trong tôi khao khát về kỹ năng này, bởi đây có lẽ là niềm vui cuối cùng mà năm tháng tước đoạt đi của chúng ta. Hơi ấm tự nhiên, theo lời của những gã bợm nhậu, trước hết ngự trị ở đôi bàn chân: điều đó liên quan đến tuổi thơ; từ đó nó dâng lên vùng trung tâm, nơi nó trú ngụ lâu dài và mang lại, theo quan điểm của tôi, những niềm vui chân chính duy nhất của đời người; mọi niềm vui khác khi so sánh đều chìm vào giấc ngủ; hướng về đoạn cuối, giống như một làn hơi cứ bốc ngược lên cao, nó tới cổ họng, nơi nó dừng chân lần cuối và kết thúc cuộc hành trình. Tuy nhiên, tôi không sao hiểu nổi làm thế nào một con người có thể kéo dài niềm vui uống rượu vượt quá cơn khát, rồi tự nặn ra trong trí tưởng tượng một sự thèm thuồng nhân tạo và trái với tự nhiên; dạ dày tôi không thể chịu đựng đến mức đó; nó đã quá vất vả để xử lý những gì nạp vào vì nhu cầu sinh tồn. Tạng người tôi không màng đến rượu chè trừ khi là để nuốt theo đồ ăn và trôi cơm, và chính vì thế chén rượu cuối cùng của tôi luôn là chén đầy nhất. Và vì khi về già, vòm miệng chúng ta bị đóng đờm dãi hoặc bị hủy hoại bởi một tình trạng thể chất kém cỏi nào đó, rượu vang sẽ ngon hơn đối với chúng ta khi các lỗ chân lông được súc rửa sạch sẽ hơn và rộng mở hơn. Ít nhất, hiếm khi tôi thưởng thức trọn vẹn được ly đầu tiên. Anacharsis từng lấy làm lạ khi người Hy Lạp uống bằng những chiếc cốc lớn hơn về cuối bữa ăn so với lúc bắt đầu; điều đó, tôi đoán vậy, cũng vì lý do tương tự như người Đức, những kẻ bắt đầu trận chiến rượu chè vào thời điểm đó.
Plato cấm trẻ em uống rượu cho đến năm mười tám tuổi, và cấm say rượu cho đến năm bốn mươi tuổi; nhưng sau tuổi bốn mươi, ông cho phép chúng tự do vui thú, và pha lẫn một cách phóng khoáng trong các bữa tiệc hơi hướng của Dionysos — vị thần nhân từ mang lại niềm vui cho những người trẻ tuổi và tuổi thanh xuân cho các cụ già; vị thần làm dịu đi những đam mê trong tâm hồn giống như sắt được nung mềm bởi lửa; và trong bộ Luật của mình, ông cho phép những cuộc hội hè vui vẻ như thế, miễn là có một người thủ lĩnh sáng suốt cai quản và giữ trật tự, coi đó là điều tốt lành và vô cùng hữu ích; bởi say sưa, theo ông, là một phép thử chân chính và chắc chắn về bản tính của mỗi người, đồng thời thích hợp để truyền cảm hứng cho người cao tuổi hứng thú tham gia khiêu vũ và âm nhạc — những thứ vô cùng hữu ích mà họ không dám thử khi tỉnh táo. Ông còn nói rằng rượu vang có khả năng cung cấp cho tâm hồn sự tiết độ và cho thể xác sự tráng kiện. Tuy nhiên, những hạn chế này — phần lớn học hỏi từ người Carthage — vẫn được ông ưa chuộng: rằng con người ta phải tránh sự quá độ trong các chiến dịch quân sự; rằng mọi thẩm phán và quan tòa phải kiêng rượu khi đang thực thi công vụ hoặc thảo luận việc công; rằng ban ngày không được dùng nó, vì đó là thời gian dành cho các công việc khác, và ban đêm cũng không, nếu người ta có ý định sinh con đẻ cái.
Người ta kể rằng triết gia Stilpo, khi bị tuổi già đè nặng, đã cố tình đẩy nhanh cái chết của mình bằng cách uống rượu nguyên chất. Điều tương tự, nhưng không phải do chủ ý của ông, cũng đã kết liễu triết gia Arcesilaus.
Nhưng đó là một câu hỏi cũ và thú vị: liệu tâm hồn của một bậc hiền triết có bị khuất phục bởi sức mạnh của rượu vang hay không?
Sự kiêu ngạo về bản thân đã đẩy chúng ta đến những thói hoang tưởng nào chứ? Tâm hồn chuẩn mực nhất và hoàn hảo nhất trên thế gian này cũng đã quá vất vả để tự giữ mình đứng vững, không bị quật ngã bởi sự yếu đuối của chính nó. Không có nổi một trong số một nghìn tâm hồn được ngay thẳng và ổn định dù chỉ trong một phút suốt cả cuộc đời, và hoàn toàn có thể hoài nghi liệu theo bản tính tự nhiên, nó có bao giờ đạt được điều đó hay không; nhưng việc giữ được sự kiên định mới là sự hoàn hảo tột cùng của nó; ý tôi là khi không có gì xô đẩy và làm xáo trộn nó, điều mà hàng nghìn biến cố có thể gây ra. Chẳng ích gì khi nhà thơ vĩ đại Lucretius cứ huyên hoang về triết học của mình, để rồi kìa! ông phát điên vì một thứ bùa yêu. Liệu có thể tưởng tượng được một cơn đột quỵ sẽ không làm Socrates choáng váng giống như một kẻ khiêng vác hay sao? Có những người đã quên mất cả tên mình do bạo bệnh; và một vết thương nhỏ cũng đủ làm lộn tùng phèo lý trí của những kẻ khác. Dù hắn có thông thái đến đâu đi nữa, suy cho cùng hắn cũng chỉ là một con người; và ngoài điều đó ra, còn có cái gì mong manh hơn, khốn khổ hơn, hay vô nghĩa hơn thế? Sự khôn ngoan không cưỡng lại những bản năng tự nhiên của chúng ta,
hắn phải nhắm mắt lại trước cú đánh đang đe dọa mình; hắn phải run rẩy bên bờ vực thẳm như một đứa trẻ; thiên nhiên đã lưu giữ những dấu ấn nhẹ nhàng về quyền lực của bà, không để bị ép buộc bởi lý trí hay đức hạnh khắc kỷ của chúng ta, nhằm dạy cho con người biết về sự chết chóc và sự yếu đuối của chúng ta; hắn tái mặt vì sợ hãi, đỏ bừng vì xấu hổ, và rên rỉ vì bệnh đau bụng, nếu không phải bằng những tiếng kêu tuyệt vọng, thì ít nhất cũng bằng giọng khàn đục và ngắt quãng:
Các nhà thơ, những người thêu dệt mọi thứ theo ý thích, cũng không dám miễn trừ cho những anh hùng vĩ đại nhất của họ khỏi những giọt nước mắt:
Chỉ cần con người kìm hãm và điều tiết được các xu hướng của mình là đủ, vì việc dập tắt chúng hoàn toàn nằm ngoài tầm với. Ngay cả Plutarch vĩ đại của chúng ta, vị thẩm phán xuất sắc và hoàn hảo đối với các hành động của con người, khi chứng kiến Brutus và Torquatus giết các con của họ, cũng bắt đầu hoài nghi liệu đức hạnh có thể đẩy đi xa đến thế hay không, và đặt câu hỏi liệu những con người ấy có bị thúc đẩy bởi một đam mê nào khác hay không. — [Plutarch, Đời sống của Publicola, c. 3.] — Mọi hành động vượt quá giới hạn thông thường đều dễ bị diễn giải theo chiều hướng xấu, bởi vì sự đồng tình của chúng ta không còn phù hợp với những gì vượt quá cũng như những gì kém hơn nó.
Hãy để mặc giáo phái khác — phái tự cao tự đại một cách khinh miệt — đó đi — [Những tín đồ phái Khắc kỷ.] —; thế nhưng ngay cả trong giáo phái ấy, vốn nổi tiếng là điềm tĩnh và ôn hòa, khi chúng ta nghe thấy những lời khoác lác của Metrodorus:
khi Anaxarchus, theo lệnh của Nicocreon — bạo chúa xứ Síp — bị bỏ vào một chiếc cối đá và bị nện bằng những chiếc vồ sắt, vẫn không ngừng thấu lên rằng: “Cứ đánh đi, cứ nện đi, cứ đập nát đi; đó không phải là Anaxarchus, mà chỉ là cái vỏ của hắn đang bị các người giã và nghiền nát đó thôi”; khi chúng ta nghe các vị tử đạo kêu lên với tên bạo chúa từ giữa ngọn lửa: “Miếng này chín đủ rồi đấy, cứ xẻ ra mà ăn đi, thế là chín kỹ rồi; sang làm việc với miếng bên kia đi”; khi chúng ta nghe đứa trẻ trong câu chuyện của Josephus bị xé xác bằng kìm sắt, thách thức Antiochus và cất cao giọng với vẻ kiên định, vững vàng: “Tên bạo chúa kia, mi phí công vô ích rồi, ta vẫn thấy thoải mái; nỗi đau ở đâu, những cực hình mà mi từng dọa dẫm ta đâu rồi? Chỉ có thế này thôi sao? Sự kiên định của ta làm mi dằn vặt nhiều hơn là sự tàn ác của mi hành hạ ta. Ồ, kẻ hèn nhát đáng thương, mi đang kiệt sức, còn ta thì ngày càng mạnh mẽ hơn; làm cho ta kêu than đi, làm cho ta khuất phục đi, làm cho ta đầu hàng đi nếu mi có thể; hãy khích lệ đám cận vệ của mi, hãy cổ vũ những đao phủ của mi đi; kìa, kìa họ đang lả đi và chẳng thể làm gì hơn nữa; hãy trang bị cho họ, hãy thúc giục họ xung trận lại từ đầu, hãy quất ngựa bắt họ tiến lên”; quả thực, người ta phải thừa nhận rằng có một thứ cuồng loạn, một cơn thịnh nộ nào đó, dẫu có thiêng liêng đến đâu, đang ngự trị trong những tâm hồn ấy vào thời điểm đó. Khi chúng ta đối mặt với những sự bộc phát kiểu Khắc kỷ này: “Ta thà phát điên còn hơn là chìm đắm trong dục vọng” — một câu nói của Antisthenes. Khi Sextius bảo với chúng ta rằng “ông thà bị trói buộc trong nỗi thống khổ còn hơn là trong khoai lạc”: khi Epicurus tự mình đùa giỡn với cơn thống phong, và từ chối sức khỏe lẫn sự thoải mái, thách thức mọi cực hình, khinh miệt những nỗi đau nhỏ nhặt vì khinh bỉ việc phải tranh đấu với chúng, ông thèm khát và gọi mời những nỗi đau khác cay đắng hơn, bạo liệt hơn và xứng đáng với ông hơn;
hỏi ai mà không kết luận rằng đó là những bước nhảy vọt hoang dại bị thúc đẩy bởi một lòng dũng cảm đã bứt phá khỏi vị trí của nó? Tâm hồn chúng ta không thể tự vươn tới độ cao ấy từ chính chỗ ngồi của mình; nó buộc phải rời bỏ nơi đó, tự vực mình dậy, và ngoạm chặt lấy dây cương, đưa con người của nó bay cao đến mức chính hắn sau đó cũng phải kinh ngạc trước những gì mình đã làm; cũng giống như trong chiến tranh, sự ác liệt của trận chiến thúc đẩy những người lính hào hiệp thực hiện những hành động nguy hiểm vô bờ bến đến mức sau đó, khi nhớ lại, chính họ là những người đầu tiên kinh ngạc; điều đó cũng xảy ra với các nhà thơ, những người thường ngây ngất chiêm ngưỡng chính các tác phẩm của mình và không sao tìm lại được con đường qua đó họ đã thực hiện một cuộc đua tuyệt vời nhường ấy; trạng thái đó ở họ cũng được gọi là sự cuồng loạn và xuất thần. Và như Plato đã nói, kẻ tỉnh táo có đến gõ cửa thơ ca cũng vô ích; cũng vậy, Aristotle nói rằng không có tâm hồn xuất chúng nào lại không vướng chút pha trộn của sự điên rồ; và ông hoàn toàn có lý khi gọi mọi sự thăng hoa — dẫu đáng tán dương đến đâu — vượt quá khả năng phán đoán và trí hiểu của chúng ta là sự điên rồ; bởi sự khôn ngoan là một trật tự cai quản tâm hồn được tiến hành với sự đo lường và tỷ lệ, thứ mà tâm hồn phải tự chịu trách nhiệm trước chính mình. Plato lập luận rằng khả năng tiên tri vượt quá tầm vóc của chúng ta đến mức chúng ta phải thoát xác khi dấn thân vào nó, và sự thận trọng của chúng ta hoặc phải bị che lấp bởi giấc ngủ hoặc bệnh tật, hoặc phải được nhấc bổng khỏi vị trí của mình bởi một cơn xuất thần từ cõi thiên thai.