Bà Lovett là một người phụ nữ có những thói quen xa hoa. Có lẽ bầu không khí nồng đượm mùi bánh nhân mặn luôn bao trùm nơi bà ở đã góp phần nuôi dưỡng những sở thích đó, nhưng rõ ràng là bà ta, từ cách ăn mặc, trang sức cho đến chuyện đàn ông, đều có những gu thẩm mỹ riêng. Liệu độc giả có nghĩ rằng bà ta thấy chút gì cuốn hút ở gương mặt tựa loài ác thú của Todd, cùng với ánh nhìn lập dị của hắn không? Liệu độc giả có nghĩ rằng đám thư ký luật sư thường lui tới cửa tiệm của bà ta lại hợp nhãn bà, khi mà—như cả thiên hạ đều biết—loại sinh vật này thường chỉ dao động giữa một bên là những kẻ béo bệu nhão nhoét, và một bên là những gã trắng bệch trông như những cây nến, nếu ta được phép dùng lối ví von ấy? À không—những giấc mơ về đàn ông của bà Lovett có tầm vóc cao xa hơn thế nhiều, nhưng ta không nên nói trước. Sự thật sẽ tự lên tiếng, vang dội như hồi chuông.
Đó là giờ khi những gã thư ký luật sư
Từ bao gian phòng tối tăm bước ra;
Đó là giờ khi những lời thề nguyền tình ái
Vang vọng khắp các lối đi ở Temple.
Bà Lovett đứng sau quầy một mình, nhưng sự cô quạnh ấy chẳng kéo dài bao lâu, bởi từ phía phố Carey, với dáng đi lấm lét đầy vẻ sợ hãi những kẻ đòi nợ—mà thời đó, những gã đòi nợ đang lộng hành hơn bao giờ hết—xuất hiện một… ta nên gọi là gì nhỉ? Quả thực, có những biến thể thuộc giống người không sao xếp vào loại nào cho đặng, nhưng có lẽ cá nhân đang vội vã tiến xuống Bell Yard này là kẻ gần sát nhất với cái mà người ta hay gọi là “gã khoác lác”. Hắn là một tay chơi phố thị—nghĩa là, theo cách nói của chính hắn, hắn sống bằng sự lọc lõi; và nếu độc giả thay từ “lọc lõi” bằng “lừa đảo”, bạn sẽ có một khái niệm rõ ràng hơn nhiều về cách mà gã khoác lác thời hiện đại này kiếm sống. Hắn cao lớn, vạm vỡ, chừng bốn mươi tuổi, và khuôn mặt phù nề cùng đôi mắt lờ đờ của hắn đã tố cáo hệ quả của một chuỗi ngày dài chè chén vô độ. Hắn đeo những món trang sức giả to quá khổ; y phục thì loè loẹt diêm dúa—còn đồ lót của hắn… thì tốt nhất ta đừng bàn tới—những chùm ria mép đen sì (giả) che kín hai bên má, và một bộ ria mép trông như bị ghẻ lở (thật) phủ trên môi trên—thêm vào tất cả những thứ đó, một sự thiếu hiểu biết và trơ trẽn ngấm sâu vào tận xương tủy, và thế là độc giả đã có trước mắt mình chân dung của gã khoác lác. Với tốc độ nhanh chóng, hắn tiến gần đến tiệm của bà Lovett, miệng lầm bầm:
“Không biết mình có thể lừa được mụ ta vài đồng guinea không nhỉ.”
Vâng, thưa độc giả, cái tập hợp của sự thô lậu, dốt nát, trơ trẽn và đồi bại này chính là gu đàn ông mà bà Lovett hằng mơ tưởng—là sở thích—là… ta nên nói thế nào nhỉ?—là hình mẫu lý tưởng về tất cả những gì một người đàn ông nên có. Đừng ngạc nhiên; bà Lovett có khối kẻ bắt chước, bởi lẽ, nếu không muốn xúc phạm đến những người phụ nữ tốt đẹp, dịu dàng hơn, những người vừa là thiên thần vừa là… à hèm!… thì có hàng ngàn người phụ nữ khác cũng sẽ hoàn toàn mê mệt “gã khoác lác” này. Khi đến cửa tiệm, hắn áp mũi vào cửa kính một lát để thám thính xem trong tiệm có ai không, và thấy người đẹp đang ở một mình, hắn lập tức bước qua ngưỡng cửa.
“À, người đẹp, số phận đối đãi với nàng ra sao rồi?”
“Ông…”
Nụ cười trên gương mặt bà Lovett đã mâu thuẫn hoàn toàn với lời từ chối mà giọng nói của bà vừa thốt ra.
“Ồ, nàng quyến rũ ơi… à… à…”
Phần còn lại của câu nói bị nuốt chửng bởi chiếc bánh nhân mặn mà “gã khoác lác” tiện tay lấy ngay trên quầy hàng.
“Thật tình, thưa ông,” bà Lovett nói— “Tôi mong ông đừng đến đây nữa, tôi đang ở một mình, và…”
“Ở một mình ư? Ôi, người phụ nữ kiều diễm. Ôi, sinh vật đáng yêu. Cho phép ta nào.”
“Gã khoác lác” nhấc bổng phần quầy cho phép bà Lovett đi từ bên này sang bên kia, rồi thản nhiên đi thẳng vào gian phòng phía trong. Bà Lovett đi theo hắn, miệng phản đối cái mà bà gọi là sự trơ trẽn của hắn. Thế nhưng, rốt cuộc thì một chai rượu mạnh và vài chiếc bánh quy vẫn được mang ra. Tuy nhiên, “gã khoác lác” gạt phăng chỗ bánh quy, bảo:
“Để ta ăn bánh nhân mặn. Cho ta bánh nhân mặn.”
Bà Lovett nhìn hắn dò xét, cất lời:
“Ông thực sự thích ăn bánh ở đây, hay chỉ ăn để lấy lòng tôi vậy?”
“Thực sự thích á? Để ta nói cho nàng nghe này; tất nhiên là vì muốn lấy lòng nàng, ta có thể ăn bất cứ thứ gì, nhưng bánh ở đây đúng là cao lương mỹ vị. Nàng lấy thịt bê ở đâu thế?”
“Chà, nếu ông đã muốn ăn bánh thì cứ ăn đi, Thiếu tá Bounce.” —Đó là cái tên mà “gã khoác lác” tự đặt cho thân hình gớm ghiếc của mình.
“Tất nhiên rồi, người đẹp của ta, tất nhiên rồi. Như ta đã nói, chỉ cần để lấy lòng nàng, ta sẵn sàng ăn thịt cả lão Tomkins thợ may ở phố Fleet.”
“Thật sao? Ông nghĩ lão ấy sẽ có vị thế nào?”
“Dai nhách!”
“Ha! Ha!”
Đó là một tràng cười kỳ quặc của bà Lovett. Phải chăng bà đã học lỏm nó từ Todd?
“Bà L. thân mến của ta,” vị thiếu tá nói, “sao nàng lại cười kiểu đó? À, nếu ta có thể thuyết phục nàng chuyển từ L sang B…”
“Ông nói gì?”
“Này người đẹp, nghiêm túc nhé: Ở đây ta, Thiếu tá Bounce, một quý ông với những kỳ vọng to lớn, sẵn sàng và tình nguyện cưới người phụ nữ quyến rũ nhất dưới ánh mặt trời này, nếu nàng chỉ cần nói một tiếng ‘đồng ý’.”
“Ông có phản đối gì chuyện sang Mỹ không?”
“Mỹ ư? Chẳng phản đối chút nào. Có nàng đi cùng, nước Mỹ sẽ là thiên đường. Một khu vườn… nàng gọi là gì ấy nhỉ, cưng ơi? Chỉ cần nàng gật đầu thôi.”
Cánh tay của vị thiếu tá nhẹ nhàng luồn quanh eo người phụ nữ, và sau vài giây, bà lên tiếng.
“Thiếu tá Bounce, tôi… tôi đã kiếm được tiền.”
“Quỷ tha ma bắt! Ta cũng vậy, nhưng cảnh sát thì… à hèm!… à hèm!… ta bị ho quá.”
“Rốt cuộc ông muốn nói gì?”
“Ồ, không có gì—không có gì cả—chỉ là đùa thôi. Nàng nói nàng kiếm được tiền, làm ta nhớ đến chuyện đọc trên báo ‘Chronicle’ hôm nay về mấy kẻ làm tiền giả, chỉ vậy thôi. Ha-ha!”
“Khi tôi nói về việc kiếm tiền, ý tôi là trong kinh doanh, nhưng đã kiếm được rồi, tôi không muốn tiêu xài nó ở London và bị người ta chỉ trỏ là mụ bán bánh dạo.”
“Bán bánh dạo! Ồ, lũ khốn—chỉ cần để ta…”
“Thôi đi. Im miệng lại và nghe tôi nói đây. Nếu tôi kết hôn và rút lui, tôi sẽ đi thật xa nơi này—rất xa là đằng khác.”
“À, đi đâu cũng được, miễn là có nàng.” Vị thiếu tá hôn lên tay bà ta.
“Im lặng đi. Xin hỏi, ông là thiếu tá trong quân đội nào thế?”
“Nam Mỹ, cưng ạ. Một quân đội cao cấp hơn quân đội Anh nhiều.”
“Thế sao.”
“Chúa phù hộ nàng, đúng vậy đấy. Nếu bây giờ ta quay về các điền trang của ta ở Nam Mỹ, sẽ có hẳn mười ngày ăn mừng, và cả người dân lẫn chính phủ sẽ không biết phải đối đãi với ta thế nào cho đủ, ta cam đoan với nàng. Thực ra, ta có quyền nhận quân hàm tướng cũng chẳng kém gì thiếu tá, nhưng tính khiêm tốn bẩm sinh của một quân nhân, và của riêng ta, đã lên tiếng và bảo ‘Thôi cứ là thiếu tá đi’.”
“Vậy là ông có điền sản?”
“Điền sản—điền sản ư? Tin ta đi, ta có. Nhiều lắm!”
Vị thiếu tá tự đập tay lên trán khi nói, hành động này có thể được hiểu là nơi đó chứa điền sản của hắn, và điền sản ấy chỉ toàn là sự dốt nát và trơ trẽn—những vốn liếng kinh doanh rất tốt trên đời này, bởi kỳ lạ thay, những kẻ chỉ sở hữu những phẩm chất đó lại thăng tiến nhanh hơn nhiều so với những kẻ có học thức, chính trực và thiên tài—những nạn nhân bất hạnh của thời cuộc. Bà Lovett im lặng vài phút, trong thời gian đó vị thiếu tá hôn bà ta lần nữa. Rồi, đột ngột đứng dậy, bà nói:
“Ngày mai tôi sẽ cho ông câu trả lời. Giờ ông đi đi. Sắp có người đến làm phiền rồi. Nếu tôi đồng ý làm vợ ông, sẽ còn vài việc phải làm trước khi chúng ta rời khỏi nước Anh.”
“Thề có chúa, chỉ cần nàng nói cho ta biết, việc đó coi như đã xong. Nhân tiện, trước khi rời đây, cũng có một việc cần làm, đó là, người đẹp của ta, trả tiền bánh cho nàng.”
“Ồ, không—không cần đâu.”
“Có chứ—có chứ, danh dự của ta mà. Đụng đến danh dự của ta, dù chỉ là cái bánh, chẳng khác nào lấy mạng ta. Ta đã để hai đồng guinea ở một đầu ví để trả cho tay làm găng tay ở Strand, còn đầu kia là mấy đồng bạc lẻ—quái quỷ thật… ta… đã… để… nó… đâu nhỉ.”
Vị thiếu tá ra vẻ sục sạo khắp các túi để tìm cái ví đã mất, rồi với vẻ mặt nửa nghiêm túc nửa hài hước, hắn nói:
“Thề có chúa, thằng khốn nào đó đã móc túi ta rồi.”
“Đừng bận tâm,” bà Lovett nói, “tôi không cần tiền trả bánh.”
“Chà, nhưng mà… cái tay làm găng tay đó. Tội nghiệp hắn, sáng nay ta đã hứa sẽ trả tiền. Với một quân nhân và một người có danh dự, nuốt lời chẳng khác nào cái chết. Ta phải làm sao đây? Bà L. à, bà có thể cho ta vay hai đồng guinea cho đến khi ta có diễm phúc được gặp lại nàng không?”
“Tất nhiên rồi, thiếu tá, tất nhiên là tôi có thể.”
Người con hào hiệp của thần chiến tranh Mars bỏ túi đống tiền, sau khi hôn bà Lovett cả chục lần—và bà ta, con mụ quái gở, lại khoái chí—hắn rời cửa tiệm và cười khúc khích đi về phía Strand, nơi vài phút sau hắn đã chui vào một quán rượu, và không bước ra cho đến khi đã nốc sạch một đồng guinea. Liệu bà Lovett có bị vị thiếu tá lừa không? Bà có tin vào tước hiệu, sự giàu có, hay lòng trung thực tầm thường của hắn không? Bà có tin vào câu chuyện cái ví và hai đồng guinea cần trả cho tay thợ làm găng tội nghiệp kia không? Không—không—chắc chắn là không. Nhưng dẫu vậy, bà vẫn ngưỡng mộ vị thiếu tá. Hắn chính là hình mẫu lý tưởng của một người đàn ông tuyệt vời! Thế là đủ. Hơn nữa, vì bản chất của hắn—một tên lừa đảo, kẻ bịp bợm và tay lừa bịp tầm thường—bà có thể, theo suy nghĩ của bà, thực thi một loại kiểm soát lên hắn mà không một người đàn ông đàng hoàng nào chịu nhún nhường, và thế là trong thâm tâm, bà đã quyết định cưới vị thiếu tá rồi cao chạy xa bay; nhưng như bà đã nói— “Còn một chút việc cần phải giải quyết trước đã.” Phải chăng điều đó liên quan đến việc xử lý Todd? Chúng ta sẽ thấy. Nếu bà tính toán dựa vào việc vị thiếu tá sẽ trừ khử Sweeney Todd, thì bà đã tính toán sai lầm thảm hại; nhưng những cái đầu thông tuệ nhất đôi khi vẫn mắc sai lầm. So với Todd, vị thiếu tá đúng là một kẻ hèn kém; nhưng bà Lovett, với lòng can đảm sắt đá của trí tuệ, không thể hình dung ra viễn cảnh rằng cái gã Thiếu tá Bounce béo bệu, phù nề, hung hăng kia lại là một kẻ nhát gan bậc nhất từng bị người ta đá đít. Nhưng dù thế nào thì hắn vẫn là kẻ như vậy. Sau khi hắn rời đi, bà Lovett ngồi trầm tư rất lâu, và vì không có ai bước vào tiệm, dòng suy nghĩ độc ác của bà không hề bị gián đoạn.
“Mình đã đủ rồi,” bà nói; “và trước khi quá muộn, mình sẽ từ bỏ lối sống này. Tại sao mình—dưới sự cám dỗ của quỷ dữ Todd—lại bắt tay vào việc này, nếu không phải vì muốn làm giàu, để rồi có được vị thế mà lòng mình hằng khao khát. Mình sẽ không trì hoãn cho đến khi quá muộn, kẻo mình sẽ đánh mất sự tận hưởng mà mình đã hy sinh bao nhiêu thứ để có được phương tiện tìm kiếm. Mình sống trên đời này chỉ để thỏa mãn những giác quan, và nhận thấy rằng mình không thể thỏa mãn chúng nếu không có của cải dồi dào, mình đã rơi vào kế hoạch này. Mình… à… đó là hắn…”
Đột ngột, gã khoác lác, Thiếu tá Bounce đáng sợ, lao vụt qua cửa tiệm mà không thèm liếc vào lấy một giây, rồi rảo bước về phía phố Carey. Bà Lovett giật mình đứng dậy, vội vàng đi ra phía cửa tiệm. Thiếu tá Bounce đã khuất dạng, nhưng từ phố Fleet, một người phụ nữ tội nghiệp, lấm lem, trông thảm hại, đang cố gắng tuyệt vọng để đuổi theo với tốc độ mà sự yếu ớt khiến bà ta không thể duy trì nổi. Bà ta kêu lớn:
“Dừng lại! Dừng lại!—chỉ một giây thôi, Flukes! Chỉ một giây thôi, John. Dừng lại!—dừng lại!”
Sức lực cạn kiệt, bà ta ngã gục, kiệt quệ ngay trước bậc thềm cửa tiệm bà Lovett.
“Nhẫn tâm!—thật sự nhẫn tâm!” bà ta khóc than. “Cầu mong sự trừng phạt của Đấng Toàn Năng sẽ giáng xuống hắn—mong hắn phải chịu đựng—vâng—mong hắn phải chịu đựng đúng những gì tôi đã phải trải qua.”
“Cô là ai và như thế nào?” bà Lovett hỏi.
“Tôi nghèo khổ, và vì thế là tất cả những gì hèn mạt và đáng khinh nhất ở London này.”
“Thật là một sự thật,” bà Lovett nói. “Thật là một sự thật đau lòng. Ai mà chẳng làm như tôi để tránh cảnh nghèo khó khi góa bụa!—Điều đó thật quá kinh khủng. Giữa đám người man di thì chẳng sao, nhưng ở đây, đó thực sự là tội ác tày trời. Cô đã gọi theo ai, người đàn bà kia?”
“Chồng tôi.”
“Chồng ư. Miêu tả hắn đi.”
“Một gã trông bợm nhậu, có ria mép. Một khi đã nhìn thấy, sẽ không dễ nhầm lẫn đâu—bản chất côn đồ và đê tiện đã hằn in lên khuôn mặt hắn.”
Bà Lovett khẽ co rúm người.
“Vào trong đi,” bà nói, “tôi sẽ giúp cô trước mắt. Vào đi.”
Người phụ nữ gắng hết sức đứng dậy và bước qua ngưỡng cửa. Bà Lovett nhường ghế cho bà ta, và sau khi đưa cho bà ta một ly rượu thuốc cùng một chiếc bánh nhân mặn, bà đợi cho đến khi người phụ nữ tội nghiệp đủ bình tĩnh để nói chuyện, rồi bà hỏi với vẻ hoàn toàn điềm tĩnh, như thể bà không mảy may liên quan đến chuyện này:
“Bây giờ nói cho tôi biết—Có phải gã đàn ông có ria mép và mặc áo khoác đính dải bện, người đã vội vã đi lên phố Bell Yard vài phút trước cô, thực sự là chồng cô không?”
“Vâng, thưa bà, đó chính là Flukes…”
“Ai cơ?”
“Flukes, thưa bà.”
“Và xin hỏi Flukes là ai và như thế nào?”
“Hắn từng là một thợ may, và lẽ ra đã có thể trở thành một người đáng kính, kiếm sống lương thiện và tốt đẹp như bất kỳ ai trong nghề, nhưng thói lười biếng và ăn chơi trác táng đã hủy hoại hắn.”
“Flukes—một thợ may ư?”
“Vâng, thưa bà; và bây giờ khi tôi hoàn toàn khốn cùng, thiếu thốn cả những nhu yếu phẩm thường ngày, nếu tình cờ gặp hắn trên phố và xin hắn chút tiền mọn để trang trải, hắn lại bỏ chạy như cách hắn vừa làm hôm nay.”
“Thế sao!”
“Vâng, thưa bà. Nếu chúng tôi ở nơi vắng vẻ, hắn sẽ đánh tôi đến mức tôi không còn sức mà đuổi theo hắn nữa, nhưng ngoài phố đông người, hắn không dám làm thế, vì hắn sợ có người can thiệp và ngăn chặn sự tàn ác của hắn.”
“Đây, người phụ nữ tốt bụng,” bà Lovett nói, “năm shilling cho cô đây. Đi đi, vì tôi sắp bận bịu rồi.”
Với vô vàn lời cảm ơn, những lời cảm ơn vang dội đến mức choáng váng, bà Flukes tội nghiệp rời tiệm bánh và tập tễnh bước về nhà. Khi bà ta đi khỏi, sắc mặt bà Lovett thay đổi vài lần, và rồi bà tự lẩm bẩm— “Flukes—một thợ may!”
“Bánh xong chưa?” một giọng nói vang lên ngoài cửa.
“Chưa hẳn.”
“Còn bao lâu nữa, mụ kia; hôm nay chúng tôi cần nửa tá bánh nhân cừu.”
“Khoảng mười phút nữa.”
“Cảm ơn, tôi sẽ quay lại sau.”
“Flukes—một thợ may ư? Thật sao!—Flukes—một thợ may? Chà, lẽ ra mình phải đoán được chuyện này chứ. Suy cho cùng, thật tuyệt vời khi chẳng cần quan tâm đến ai ngoài bản thân mình. Mình sẽ mất niềm tin vào… vào… những gã đàn ông tuyệt vời mất thôi.”